Thích Nhất Hạnh
Nhà xuất bản Saigon Books - thuộc bản quyền Reverhead Books
Chân Huyền dịch Việt ngữ
Chương 8
SỢ HÃI, CHẤP NHẬN VÀ THA THỨ
PHÉP THỰC TẬP ĐỊA XÚC.
Nhiều người trong chúng ta thường xuyên hỏi rất nhiều lần “Tại sao tôi phải chết?”. Câu hỏi quan trọng hơn bạn nên hỏi chính bạn “Chuyện gì xảy ra trước khi tôi lìa đời?”. Bạn nên tới bên người thân yêu của bạn và hỏi: “Em (hay anh) yêu, em vẫn là người anh cưới ba mươi năm trước hay em là người khác? Vì sao em tới đây? Em sẽ đi về đâu? Vì sao anh lại phải khóc khi em chết đi?”. Đó là những câu hỏi rất quan trọng mà nếu chỉ dùng trí óc, thì ta không thể trả lời. Chúng ta cần điều gì sâu lắng và hoàn hảo hơn để trả lời những câu hỏi này.
Phép thực tập địa xúc (lạy xuống sát đất) có thể giúp ta tiếp xúc được với bản chất vô sinh bất diệt. Nếu ta thực tập địa xúc như Bụt đã thực tập thì ta có thể đạt tới trí tuệ thật sự.
Trong kinh nói rằng, một ngày trước khi Bụt thành đạo, Ngài còn chút nghi ngờ về khả năng tỉnh thức tuyệt đối của mình. Ngài đã khá tự tin nhưng có điều gì đó khiến Ngài còn thắc mắc. Ngài bèn thực tập phép địa xúc. Ngài dùng hai bàn tay tiếp xúc với mặt đất để chuyển hóa mối nghi ngờ kia. Ngày hôm sau, thái tử Siddharta trở thành Bụt Thích Ca.
Trong các chùa Á châu, bạn nhìn thấy các tượng Bụt để một tay chạm xuống mặt đất - đó là tư thế địa xúc. Địa xúc là phép thực tập rất sâu có thể giúp ta chuyển hóa sợ hãi, nghi ngờ, thiên kiến và giận dữ.
BÀI 1
TIẾP XÚC VỚI CẢ HAI BÌNH DIỆN
Bình diện tuyệt đối (bản môn) và bình diện tương đối (tích môn) là hai thực tại liên hệ tương hỗ lẫn nhau. Nếu bạn có thể tiếp xúc sâu sắc với một thì bạn cũng tiếp xúc được với bình diện kia. Chúa Jesus có thể được nói tới như một người con của thường dân và cũng là con của Thượng đế. Là con người bình thường, Ngài thuộc vào tích môn và khi trong bản môn, Thiên Chúa là con Thượng đế.
Có một vị Bụt lịch sử và cũng có một vị Bụt vượt không gian và thời gian. Chúng ta tất cả đều như vậy. Chúng ta thuộc về tích môn khi sống đời sống hằng ngày, nhưng chúng ta cũng có một bình diện bản môn khi ta tập sống về tâm linh. Nếu chúng ta có thể sống với bình diện tuyệt đối cùng lúc với bình diện tương đối thì ta sẽ không còn sợ hãi. Khi không sợ hãi nữa thì có hạnh phúc thật sự. Sóng có quyền sống như một ngọn sóng, nhưng nó cần học cách sống như nó là nước và nó không phải chỉ là sóng mà thôi. Nó cũng là nước. Và nước thì sống mà không sợ hãi như sóng. Cũng vậy, chúng ta vẫn sống một đời bình thường nhưng chúng ta biết sống tỉnh thức để vượt lên mọi khổ đau.
Lạy sát đất là một phương pháp dễ làm và có hiệu quả để tiếp xúc với bản môn. Thực tập phép này một ngày kia bạn sẽ tiếp xúc được với bản chất vô sinh bất diệt. Và từ lúc đó bạn sẽ dứt hẳn được các lo âu, sợ hãi. Bạn trở thành con người cưỡi trên sóng sinh tử một cách oai phong vì bạn không còn bị sợ hãi và buồn giận lay động nữa.
BÀI 2
TIẾP XÚC VỚI ĐÁT TRONG TÍCH MÔN
Hãy tưởng tượng thời gian như một đường thẳng dọc. Đặt mình vào một chỗ, như đang đứng trên trục thời gian đó, quá khứ ở phía trên và tương lai ở phía dưới. Hãy nhìn các thế hệ tổ tiên đã tới trước bạn, trong đó gần nhất là cha mẹ của bạn. Tất cả đều ở trên cái trục thời gian. Dưới bạn, nhìn về con, cháu, chắt… và tất cả các thế hệ tương lai. Nếu không có con, bạn có thể coi đứa cháu là những người tiếp nối của các nhân vật bạn đã tiếp xúc đời này, và tất cả những ai mà bạn đã ảnh hưởng đến họ.
Trong bạn có tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Bạn tiếp xúc với sự hiện diện của cha mẹ trong từng tế bào của cơ thể bạn. Họ thật sự có mặt tại đó, cũng như ông bà, cụ cố của bạn. Làm vậy bạn sẽ nhận thức được mình là sự tiếp nối của họ. Bạn có thể nghĩ tổ tiên không còn hiện hữu, nhưng ngay cả các khoa học gia cũng cho rằng tổ tiên bạn còn trong bạn, trong các gen di truyền, nghĩa là trong từng tế bào của bạn.
Đối với các thế hệ con cháu cũng vậy. Bạn sẽ hiện diện trong từng tế bào của chúng. Và bạn cũng hiện diện trong tâm thức của những người mà bạn tiếp xúc. Đây là sự thật, không phải chuyện tưởng tượng. Đây là cái lạy, là địa xúc thứ nhất.
BÀI 3
HẠT VÀ CÂY
Hãy nhìn cây mận. Trong mỗi trái mận trên cây có một cái hạt. Hạt đó chứa đựng cây mận và tất cả những thế hệ trước nó. Hạt mận chứa đựng hằng hà sa số cây mận. Trong hạt mận đã có sẵn sự hiểu biết thông minh là làm sao để trở thành một cây mận, làm sao để thành ra cành, lá, hoa và trái mận. Nó không thể tự mình sáng tạo ra như vậy được. Nó chỉ có thể làm được vậy khi nó đã tiếp nhận những kinh nghiệm và gia tài của bao thế hệ tổ tiên của nó. Bạn cũng vậy. Bạn có trí tuệ và thông minh để trở thành một con người vì bạn đã kế thừa từ muôn đời trí tuệ không những của tổ tiên huyết thống mà còn của tổ tiên tâm linh nữa.
Tổ tiên tâm linh có trong bạn vì bản chất trời sinh của bạn, và sự dưỡng dục bạn nhận được là hai thứ không thể tách rời. Dưỡng dục thay đổi bản chất di truyền. Tâm linh và sự tu học của bạn, là một phần đời sống hằng ngày, cũng có mặt trong từng tế bào của bạn. Vậy nên các vị thầy tâm linh cũng có trong mỗi tế bào của bạn. Bạn không thể chối bỏ sự hiện hữu của họ.
Bạn có những vị tổ mà bạn ngưỡng mộ. Bạn cũng có những vị tiền nhân với nhiều tích cực mà bạn không hãnh diện gì, nhưng họ vẫn là tổ tiên của bạn. Một số người trong chúng ta có cha mẹ tuyệt vời, những người khác có cha mẹ không tốt và họ làm cả gia đình khổ theo. Bạn có thể có các thầy tâm linh không giúp được gì cho bạn trong việc học đạo và sống đạo. Bạn có thể không kính trọng họ, nhưng họ vẫn là tổ tiên của bạn.
BÀI 4
CHẤP NHẬN
Chúng ta quay về với chính mình và ôm lấy tổ tiên huyết thống cũng như tổ tiên tâm linh của mình. Chúng ta không thể bỏ lơ họ được. Họ là một thực tại và họ còn đó. Họ là một phần thân thể và tâm hồn của chúng ta.
Khi bạn lạy xuống đất lần thứ nhất, hãy chấp nhận tất cả tổ tiên với bản chất của họ. Đây là điều quan trọng. Chấp nhận một cách vô điều kiện là bước đầu để mở được cánh cửa kỳ diệu của tha thứ. Jesus đã nói: “Xin hãy tha tội cho chúng con đã xâm phạm kẻ khác và cũng tha tội cho kẻ khác đã xâm phạm chúng con”. Chúa hiểu rằng, bước đầu tiên của sự tha thứ là chấp nhận người khác, dù họ có làm hại ta.
Muốn chấp nhận kẻ khác như bản chất của họ, chúng ta hãy bắt đầu chấp nhận chính mình. Nếu chúng ta không thể chấp nhận được chúng ta như ta đang là ta, ta sẽ không bao giờ chấp nhận được người khác. Khi tôi nhìn lại tôi, thấy những điều tốt đẹp, tích cực và có thể nói là đáng khen nữa. Nhưng tôi biết mình cũng có một phần tiêu cực trong người. Vậy trước hết tôi cần nhận biết và chấp nhận chính tôi.
Khi nào thực tập địa xúc ta cũng thực tập thở có chánh niệm, dù thực tập trước một tảng đá, ngọn núi, trước một bông hoa hay trước bàn thờ trong nhà. Thở vào thở ra, bạn quán tưởng hình ảnh của tổ tiên, bạn sẽ nhìn thấy ưu điểm và nhược điểm của họ. Hãy quyết tâm chấp nhận tất cả đều là tổ tiên của mình, không ngần ngại gì hết. Sau đó, bạn lạy xuống, để hai đầu gối tiếp xúc với đất, rồi cả hai tay, và trán nữa. Giữ tư thế phủ phục đó khi quán tưởng hình ảnh của họ:
“Thưa chư Tổ, con là các Ngài với tất cả sức mạnh và yếu đuối của quý vị. Con nhìn thấy những hạt giống tiêu cực và tích cực trong quý vị. Con hiểu rằng các Ngài đã may mắn nên các hạt giống từ bi, vô úy đã được tưới tẩm. Con cũng hiểu rằng quý Ngài đã không may có các hạt giống bất thiện cũng được tưới tẩm như ganh ghét, sợ hãi, tham đắm; nên hạt giống tốt không có cơ hội lớn lên.”
Nếu hạt giống thiện được tưới tẩm trong cuộc đời một người nào, đó là do may mắn và một phần cố gắng. Những cái duyên trong đời sống có thể giúp ta gặp cơ hội tưới tẩm những hạt giống kiên nhẫn, độ lượng, từ bi và yêu thương. Người chung quanh có thể giúp chúng ta, và thực hành chánh niệm cũng giúp chúng ta.
Nhưng nếu một người đã lớn lên trong chiến tranh, hoặc gia đình, cộng đồng của họ chịu nhiều khổ đau rồi, thì người đó có thể có nhiều tiêu cực, nhiều sợ hãi, nhiều ham muốn và thất vọng. Nếu cha mẹ họ đã chịu nhiều đau khổ, bất hạnh và sợ hãi, thì các vị đó có thể truyền sang con cháu những lo lắng và giận dữ của họ. Khi đứa con lớn lên, chúng cũng khổ sở như thế. Nhưng nếu họ được lớn lên trong tình yêu thương và sự an toàn, các hạt giống thiện của họ truyền những tinh túy đó sang cho con cháu.
Nếu bạn có thể nhìn tổ tiên như thế, bạn sẽ hiểu rằng họ cũng là những người đau khổ và đã cố gắng tối đa. Sự hiểu biết này sẽ làm tan đi tất cả những hờn giận và chối bỏ nơi bạn. Chấp nhận tổ tiên với cả hai mặt yếu và mạnh là điều quan trọng. Nó sẽ giúp cho bạn bình an hơn.
Bạn cũng có thể nhìn anh chị mình như các vị tổ tiên trẻ tuổi, vì họ ra đời trước bạn. Họ có những yếu kém cũng có những tài năng mà bạn phải chấp nhận vì bạn nhận thức được rằng bạn cũng có khuyết điểm và tài năng. Bạn thực hiện được sự chấp nhận đó khi bạn lạy xuống. Nếu bạn muốn, có thể giữ tư thế phủ phục đó trong 5 - 10 phút để nhìn sâu và thực nghiệm sự chấp nhận đó.
Cái lạy thứ nhất có thể cần được lặp đi lặp lại nhiều lần trước khi bạn có thể hòa giải với cha mẹ hay tổ tiên. Nó đòi hỏi phải thực tập nhiều, nhưng bạn cần làm vậy vì cha mẹ và tổ tiên hiện diện trong bạn. Hòa giải với họ nghĩa là bạn hòa giải với chính mình. Chối bỏ họ là chối bỏ chính mình. Nếu bạn có thể thấy rằng bạn không thể chia cách với tổ tiên, đó là bạn tiến bộ nhiều rồi. Tôi tin chắc là bạn sẽ thành công sau một vài ngày hay một tuần lễ thực tập như vậy.
Bạn có thể thực tập thiền lạy hay địa xúc bất cứ tại đâu. Trước bàn thờ tổ tiên, trước một cái cây hay đám mây, ngọn núi hoặc bất kỳ chỗ nào bạn thích. Đứng trước tảng đá hay đám mây, hình dung tất cả các vị tổ có mặt trong bạn. Điều này không khó vì thực tế bạn là chính họ. Bạn tiếp nối với họ. Xin hãy thực tập với một trăm phần trăm con người của bạn.
BÀI 5
TIẾP XÚC TƯƠNG LAI
Bước thứ hai trong phép địa xúc là nhìn xuống các hậu sinh của bạn - con, cháu của bạn. Nếu bạn có khúc mắc với chúng, bạn nên hình dung như sau:
“Tôi không phải là một thực thể tách biệt với con tôi, vì tôi được tiếp nối nơi con cháu tôi. Chúng mang tôi vào tương lai. Con trai, con gái và học trò của tôi chính là tôi”.
Trong các bản cáo phó tiếng Anh họ luôn luôn viết: “Ông X đã chết và còn tiếp tục sống trong con trai, con gái của ông ấy” (Mr. X has died and is survived by his sons and daughters). Ý nghĩa đó là con ông sẽ tiếp tục sống cho ông. Học trò tôi là tôi và tôi cần sống làm sao để mỗi ngày tôi có thể truyền cho họ con người tốt đẹp nhất của tôi, vì họ sẽ mang tôi đến tương lai. Tôi vẫn nói với học trò tôi rằng họ sẽ ngắm mặt trời mọc cho tôi và tôi sẽ ngắm mặt trời lặng cho họ bằng những con mắt của họ. Tôi bất tử nhờ có các môn sinh.
Vì bạn nhìn thấy bạn trong người khác và trong tổ tiên, bạn cũng nhìn thấy bạn trong con cháu. Nhờ có cha mẹ mà bạn có con đường đi tới Bụt và tất cả các vị tổ. Học trò tôi biết con đường đi tới Bụt và các thầy tổ là qua tôi. Bạn nhờ con cái bạn mà có lối đi tới tương lai. Con cần cha mẹ để có lối về nguồn cội, cha mẹ cần con để bước tiếp vào tương lai, hướng đến chốn vô cùng.
Đây là sự thực tập rất cụ thể mà bạn có thể làm một mình hoặc với vài người bạn để hỗ trợ nhau. Ban đầu cần người nào đó để hướng dẫn, nhưng sau bạn có thể tự hướng dẫn mình.
Nếu bạn gặp khó khăn với con trai hay con gái bạn, bạn có khuynh hướng nói rằng: “Mày không phải con gái tao, con tao không cư xử như vậy!… Mày không phải con trai tao, con tao sẽ không bao giờ làm như thế!” Và bạn bỏ mặc con bạn. Nếu bạn nhìn sâu vào chính bạn, bạn sẽ thấy những hạt giống bất thiện kia cũng có ở trong bạn. Khi trẻ, bạn phạm lỗi lầm và học được bài học từ những lỗi lầm đó. Khi con bạn làm sai, bạn cần giúp chúng hiểu ra để không làm lỗi nữa, bạn không nên áp đặt tiêu cực lên chúng. Khi bạn có thể nhìn được các khuyết điểm của mình, bạn có thể nói: “Mình là ai mà không chấp nhận được con mình?”. Con trai bạn chính là bạn. Với chánh kiến bất nhị nguyên đó, bạn có thể hòa giải với các con bạn. Thực tập lạy sát đất là con đường đưa tới sự hòa giải.
BÀI 6
CHÁNH ĐỊNH
Chánh định là con đường thứ tám trong Bát Chánh Đạo mà Bụt đã dạy, tám con đường chân chính để thực tập. Có chánh định trên vô ngã, vô thường và tương tức là điều ta có thể chứng nghiệm khi thực tập địa xúc. Không có chánh định thì không thể giác ngộ. Nếu bạn có thể nhìn vào bạn, nhìn cha mẹ, con cái trong ánh sáng vô thường, vô ngã và tương tức, thì sự hóa giải sẽ tới một cách tự nhiên.
Hãy cho bạn thì giờ để thực tập lễ lạy sát đất một hoặc hai lần mỗi ngày. Bạn có thể dùng các lời khấn niệm sau đây để hướng dẫn phép quán tưởng: “Tiếp xúc với đất, con tiếp xúc với tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng huyết thống và tâm linh”. Quán tưởng như thế khi bạn đứng trước một nơi nào bạn chọn, trước tảng đá, cái cây, bầu trời hay trước bàn thờ…, rồi lại xuống sát đất.
Thầy tâm linh của tôi gồm cả Bụt, các vị Bồ tát và các vị môn đệ của Bụt. Trong đó cũng có cả các vị tổ sư, các vị thầy của tôi còn tại thế hay đã qua đời. Họ đang có mặt trong tôi vì họ đã trao truyền cho tôi những hạt giống bình an, trí tuệ, yêu thương và hạnh phúc. Họ đã làm thức dậy trong tôi nguồn tuệ giác và từ bi. Khi nhìn vào các vị tổ tiên tâm linh, tôi nhìn thấy các vị đã hoàn thành việc tu tập chánh niệm, có trí tuệ và từ bi; tôi cũng nhìn thấy các vị thầy hiện tại còn khiếm khuyết. Tôi chấp nhận họ vì trong tôi cũng có những khiếm khuyết và yếu đuối.
Biết rằng sự thực tập tỉnh thức trong tôi không phải lúc nào cũng hoàn hảo, và tôi không phải lúc nào cũng có hiểu biết thương yêu, tôi mở rộng lòng chấp nhận tất cả các con cháu tôi. Một số con cháu sống cuộc đời khiến tôi tin tưởng và tôn trọng chúng, nhưng cũng có những đứa có nhiều khó khăn và sự thực tập trồi sụt thất thường. Tôi mở rộng lòng thương và ôm chúng như nhau.
Cũng vậy, tôi chấp nhận tất cả các vị tổ tiên. Tôi chấp nhận các tính thiện và những hành động tốt họ đã làm, cũng như các khuyết điểm của họ. Tôi mở lòng chấp nhận tất cả tổ tiên, con cháu với các tính thiện, các tài năng cũng như các tính bất thiện trong họ.
Dù bạn theo truyền thống tâm linh nào chăng nữa, khi bạn thực tập địa xúc (lạy sát đất), bạn cũng có thể nhớ tưởng đến các vị thầy của bạn trong lời quán nguyện. Nếu bạn có gốc rễ Thiên Chúa giáo, thì thầy tâm linh của bạn gồm cả Chúa Jesus, các đồ đệ của Ngài và các vị Thánh cùng các vị thầy đã chỉ dạy bạn. Nếu bạn theo Do Thái giáo, bạn cũng có thể kể đến các vị thầy tổ trong truyền thống (patriarchs - matriarchs) và các vị giáo sĩ (rabbis) vào đó.
Các vị tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống, các hậu duệ tinh thần và máu mủ của tôi đều là một phần trong tôi. Tôi là họ và họ là tôi. Tôi không có một tự tánh riêng biệt. Chúng ta hiện hữu như một dòng suối của đời sống kỳ diệu này.
BÀI 7
THIỀN QUÁN TRONG TÍCH MÔN
Tích môn có bình diện tương đối, nơi có đi có tới, có sống có chết. Khi chúng ta bắt đầu tiếp xúc với tích môn, chúng ta thường trở nên sợ sệt. Ta sợ vì ta chưa hiểu rằng sinh tử là chuyện không có thật. Bụt dạy: “Cái gì sinh thì sẽ diệt”. Nếu có sinh thì sẽ có tử. Nếu có bên phải thì sẽ có bên trái. Nếu có bắt đầu thì sẽ có chấm dứt. Đó là cách mà mọi sự vật hiển bày ra trong tích môn. Các tăng ni và Phật tử thời Bụt còn tại thế đã thực tập nhận diện sinh tử như những thực tại. Để đối phó với nỗi sợ hãi trong ta, thì thiền quán có thể giúp ta an tâm được một chút. Khởi đầu, ta sẽ thực tập dễ hơn nếu được hướng dẫn. Hơi thở là phương tiện đưa ta vào định tâm. Nó hướng ta chú tâm vào đối tượng thiền quán. Ta bắt đầu bằng cách chú tâm vào hơi thở, để sau này khi muốn quán tưởng ta có thể hướng dẫn được tâm ý mình.
Ta cố gắng hướng tâm vào sự nhận diện thực tại. Đây là bài kệ các tu viện Phật giáo tụng hằng ngày: “Thở vào thở ra, tôi có ý thức là bản thân tôi sẽ hoại diệt, tôi sẽ chết. Bản thân tôi già, và tôi bệnh. Vì tôi có cái thân, tôi không thể thoát được đau ốm. Tất cả những gì tôi yêu quý và giữ gìn, bám víu hôm nay, tôi sẽ bỏ lại một ngày nào đó. Điều duy nhất tôi mang theo được là kết quả của hành động tôi làm, những lời tôi nói và các ý nghĩ trong tôi”.
Chúng ta cần nhận diện sự thật này và mỉm cười. Đây là phép thực tập đối diện với cái sợ của chính mình. Nỗi sợ luôn luôn hiện diện trong chúng ta: sợ ốm đau, sợ chết, sợ bị người thương ruồng bỏ, sợ mất mác. Những nỗi sợ rất nhân bản.
Bụt không khuyên chúng ta đè nén các nổi lo sợ. Bụt dạy ta nên mời các nỗi sợ đó lên tầng trên tâm thức để nhận diện và mỉm cười với chúng. Thời Bụt còn tại thế cũng như ngày nay, các tăng ni thực tập hằng ngày như thế. Mỗi khi cái sợ nổi lên, bạn lại nhận diện và mỉm cười với nó, nó sẽ mất đi một phần sức mạnh. Khi nó trở lại tiềm thức ta, nó trở thành một hạt giống nhỏ hơn trước. Vì vậy, ta cần thực tập mỗi ngày, nhất là khi thân tâm còn khỏe mạnh.
Khi bạn thực tập, tâm trí bạn có thể vẫn chạy theo nhiều ý nghĩ. Nhưng khi trở về với hơi thở vào, ra. Thở vào biết, thở ra biết, không cần kéo dài hơi thở. Cứ thả lỏng và nhận biết nó. Bạn không cần thay đổi gì cả, cứ để cho hơi thở ra vào tự nhiên, chỉ có ý thức về hơi thở của mình thôi. Thực tập như thế bạn sẽ được an tịnh.
Khi bạn thấy an tịnh đủ rồi, hãy dùng các lời hướng dẫn dưới đây để tập trung. Lần đầu, bạn hãy nghe và đọc nguyên cả câu. Khi tiếp tục quán, bạn chỉ cần nhớ vài chữ quan trọng. Bạn không cần phải cố gắng quá. Hãy thư giãn và để cho hơi thở cùng các chữ đó giúp bạn.
BÀI 8
THỰC TẬP ĐỂ NHÌN SÂU VÀ SỢ CHẾT
Thở vào, tôi có ý thức là …… Tôi đang thở ………. Vào
Thở ra, tôi có ý thức là …….. Tôi đang thở ………. Ra
Thở vào, tôi biết là …..….….. Tôi sẽ già ….………. Già
Thở ra, tôi biết tôi không thể thoát được tuổi già … Không thoát
Thở vào, tôi biết là …………. Tôi sẽ bệnh ………... Bệnh
Thở ra, tôi biết tôi không thể thoát được bệnh …… Không thoát
Thở vào, tôi biết là …………. Tôi sẽ chết ……….… Chết
Thở ra, tôi biết tôi không thể thoát chết …………… Không thoát
Thở vào, tôi biết một ngày kia tôi sẽ bỏ lại tất cả ... Bỏ hết
Thở ra, tôi biết tôi không thể giữ được những gì … Không giữ được
Thở vào, tôi biết thân khẩu ý là hành trang ..……... Ba nghiệp
duy nhất tôi sẽ mang theo ……….. Mang theo
Thở ra, tôi biết tôi không thể thoát được ………….. Không thoát
hậu quả của nghiệp đã làm …… Hậu quả
Thở vào, tôi quyết tâm sống trong tỉnh thức ……… Sống tỉnh thức
Thở ra, tôi thấy niềm vui trong lối sống tỉnh thức … Vui và hữu ích
Thở vào, tôi nguyện mỗi ngày tặng niềm vui
cho người thương và mọi người …. Tặng niềm vui
Thở ra, tôi nguyện mỗi ngày làm vơi bớt nổi khổ
cho người thương và mọi người …. Làm vơi khổ
Chấp nhận, tha thứ và đối diện với cái sợ là những kết quả sâu sắc nhất của việc tiếp xúc với đất ở bình diện tích môn. Dùng hơi thở theo phép đó, bạn có thể chữa lành các vết thương. Và bạn có thể tiếp tục học pháp địa xúc thứ hai.
BÀI 9
TIẾP XÚC VỚI ĐẤT QUA KHÔNG GIAN
Trong phép địa xúc thứ nhất, bạn hình dung bạn đang đứng trên trục dọc của thời gian. Bây giờ bạn hình dung trục ngang, tượng trưng cho không gian. Đường ngang không gian đó cắt ngang đường dọc tượng trưng cho thời gian trong bình diện tích môn.
Trong không gian, chúng ta nhìn thấy các sinh vật khác trên trái đất: đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già, súc vật và tất cả các loài, cây cối, đất đá. Khi nhìn một cái cây, ta có thể nghĩ rằng nó ở ngoài ta. Nhưng khi nhìn kỹ hơn ta sẽ thấy cây đó cũng có ở trong ta. Cây cối là lá phổi của bạn vì nếu không có cây cối thì bạn không thở được. Cây cối tạo ra dưỡng khí, nay đang là một phần trong ta, và ta tạo ra thán khí, nay đang là một phần trong cây. Chúng ta có hai lá phổi trong cơ thể, cây cũng thở cho ta và cũng có thể gọi cây là phổi của ta. Phổi trong thân chúng ta làm việc cùng với cây cối để giúp chúng ta hô hấp.
Chuyện tiền thân của Bụt kể về những cuộc đời trước khi Ngài thành đạo. Trong các truyện đó ta được biết Bụt đã từng là cây cối, là chim chóc, con rùa, hòn đá, đám mây… trước khi Ngài là người. Chúng ta cũng thế, trước khi biểu hiện làm người, chúng ta đã là cây, là vi khuẩn có một tế bào thôi, hay những con vật lớn xác, là đám mây, là cánh rừng hay hòn đá. Với ánh sáng của khoa học tiến hóa thì không có gì khó hiểu. Vật chất không từng được sinh ra cũng không hề bị mất đi. Nó có thể biến thành năng lượng, và năng lượng có thể trở thành vật chất, nhưng nó không hề bị hủy diệt.
Chúng ta đã luôn là một phần tử của sự vật gì đó, và bất cứ sự vật gì cũng đã từng có trong ta. Tất cả chúng ta đã từng là cây cối, là bông hoa hay súc vật. Và chúng ta vẫn là cây trong giờ phút này, với hình tướng con người này. Nhìn mình cho sâu, bạn sẽ thấy cây, đám mây, bông hoa, và chú sóc trong bạn. Bạn không thể nào lấy hết chúng ra ngoài được. Bạn không thể lấy đám mây ra vì 70% cơ thể bạn làm bằng nước. Bản chất của mây chính là nước. Tiếp nối của mây là mưa. Tiếp nối của mưa là sông suối. Tiếp nối của sông suối là nước bạn uống để sống. Và nước cũng là cơ thể của bạn. Nếu bạn lấy đi sự tiếp nối của mây ra khỏi bạn thì bạn không thể tiếp tục sống được.
BÀI 10
THIÊN THẦN Ở KHẮP MỌI NƠI
Nhìn sâu vào không gian ta cũng sẽ nhìn thấy tất cả các vị đã giác ngộ. Các hiền nhân, các vị Bồ tát. Ta sẽ thấy Thượng đế. Hãy nhìn kỹ, bạn sẽ thấy các Bồ tát ở bất cứ nơi đâu. Bạn sẽ nhận ra những người nam lẫn nữ, có lòng từ bi, đang làm mọi việc để giúp đỡ hay bảo vệ loài người. Tại Làng Mai, chúng tôi thực tập niệm tên Bồ tát Quán Âm của hạnh biết lắng nghe; Bồ tát Phổ Hiền của hành động; Bồ tát Văn Thù của hiểu biết; và Bồ tát Địa Tạng luôn luôn đi tới những nơi tăm tối khổ đau tràn đầy để giúp chúng sinh.
Có những Bồ tát mà chúng ta biết tới vì các chuyện về họ được lưu truyền tới chúng ta. Cũng có vô số các vị Bồ tát vô danh ở khắp mọi nơi đang làm các việc thể hiện lòng yêu thương, từ bi và trách nhiệm của họ với nhân loại. Trái tim của quý vị đó tràn đầy tình yêu thương và họ không muốn sống cuộc đời chỉ biết hưởng thụ. Họ ưa sống đơn giản để có thì giờ và năng lực để giúp đỡ người khác. Họ có mặt khắp nơi. Tôi biết một người sống ở Hòa Lan. Bà tên Hebe. Trong thế chiến thứ hai bà đã giúp hai mươi ngàn người Do Thái thoát nạn diệt chủng Holocaust. Tôi không biết bà làm cách nào. Nhìn vào bà, bạn chỉ thấy một người phụ nữ rất nhỏ bé, và cũng chỉ có hai bàn tay. Tôi đã gặp bà và làm việc chung khi bà giúp đỡ trẻ mồ côi Việt Nam.
Có những Bồ tát hình như ít hoạt động nhưng họ rất bình thản và tử tế, sự hiện diện của họ khiến chúng ta trở nên hiểu biết, thương yêu và bao dung hơn.
Có không biết bao nhiêu Bồ tát như thế trên thế giới. Chúng ta phải sống cách nào để có thì giờ nhận biết và tiếp xúc được với họ. Bồ tát không phải là Thượng đế hay nhân vật thời xa xưa. Họ là những con người bằng xương bằng thịt chung quanh ta. Họ rất nhiều năng lượng hiểu biết và yêu thương, chúng ta sẽ được hưởng khi họ tới gần.
Không thể nhận diện các hiền nhân và Bồ tát bằng vẻ bề ngoài. Đôi khi họ là các em bé mang lại cho chúng ta rất nhiều niềm vui. Con cái và bạn bè chúng ta cũng có thể là Bồ tát. Đôi khi họ làm cho ta khổ, nhưng họ cũng giúp cho tình yêu thương và sự hiểu biết của chúng ta lớn lên.
Bồ tát không bao giờ mệt mỏi hay bỏ cuộc vì những đau khổ chung quanh họ. Đó là những vị cho ta can đảm để sống. Đức Địa Tạng luôn luôn tới những nơi tối tăm nhất để giúp chúng sinh khổ đau, không phải chỉ một vị, Ngài thị hiện bao thân khác nhau, ta có thể tìm được Ngài ngay trong thế giới này.
Bồ tát Thường Bất Khinh nói rằng: “Tôi không bao giờ dám coi thường ai”. Ngài cũng có mặt mọi nơi. Đối với bất cứ người nào, Bồ tát cũng nghĩ rằng họ có khả năng thức tỉnh. Ngài giúp cho ta có sự tự tin và dẹp được mặc cảm yếu kém. Đó là loại mặc cảm làm tê tiệt con người. Bồ tát Thường Bất Kinh có khả năng tiếp xúc và đánh thức được các hạt giống tỉnh thức và yêu thương nơi chúng ta. Đó không chỉ là Bồ tát trong kinh Pháp Hoa mà ta còn có thể tìm được Ngài ngay trong xã hội này dưới nhiều hình tướng khác nhau. Ta phải nhận diện cho được Bồ tát Thường Bất Khinh bằng xương bằng thịt chung quanh ta.
Bồ tát Văn Thù là vị Bồ tát trí tuệ. Người nào hiểu được mình đều có thể làm cho chúng ta vô cùng sung sướng. Đức Văn Thù có thể nhìn thấy những khó khăn, đau khổ của ta và Ngài không bao giờ bắt lỗi hay trừng phạt ta. Văn Thù không phải là một nhân vật huyền thoại mà Ngài có mặt quanh ta dưới nhiều hình tướng, đôi khi đó là một người anh, chị, em hay cháu.
Chúng ta không thờ phụng những nhân vật thần thoại. Các vị Bồ tát không phải là những khuôn mặt của tượng vẽ trong quá khứ, sống trên mây cao. Đó là những con người thật, tràn đầy tình thương và quyết tâm. Khi chúng ta có thể hiểu được nỗi đau của người khác và thương họ, là chúng ta tiếp xúc được với Bồ tát Đại Trí.
Bồ tát Quán Âm biết lắng nghe cũng ở quanh ta. Các nhà trị liệu tâm lý học phải học cách lắng nghe của Bồ tát Quán Âm, vị Bồ tát hiểu biết sâu bằng đôi tai của Ngài. Khi chúng ta có thể lắng nghe con cái hay cha mẹ ta, đức Quán Âm đã có mặt trong lòng ta rồi.
Bồ tát Diệu Âm có thể dùng âm nhạc và bài hát để thức tỉnh mọi người. Nếu bạn là thi sĩ, văn sĩ hay nhạc sĩ, bạn có thể là vị Bồ tát đó. Các sáng tạo nghệ thuật của bạn không chỉ giúp cho người ta tạm thời quên đi những đau khổ, mà còn tưới tẩm những hạt giống của hiểu biết và yêu thương. Giữa chúng ta có nhiều văn thi sĩ và nhạc sĩ đang dùng biển âm thanh để làm con đường thấu hiểu và yêu thương như một cánh cửa mở vào Phật pháp. Đó là ý nghĩa của nguyện vọng mà đức Phổ Hiền đã diễn tả:
“Tôi mong dùng biển âm thanh
Để nói lên những từ ngữ tuyệt vời
Ngợi ca biển đức của Thế Tôn
Trong quá khứ, hiện tại và tương lai”.
Khi lạy xuống sát đất, bạn tiếp xúc với những vị hiền nhân vì họ là một phần của đất và một phần của bạn. Sống trong thế giới ngày nay, bạn rất dễ trở thành một nạn nhân của tuyệt vọng và khổ đau. Bạn cần phải tự bảo vệ mình. Cách hay nhất bạn tiếp xúc với các vị Bồ tát có hành động từ bi và yêu thương.
Chúng ta cần tiếp xúc với chư Bụt và Bồ tát hiện tại, ngay tại đây, chứ không chỉ thắp nhang và cầu nguyện họ mà thôi. Khi ta thực sự tiếp xúc được với các vị đó, ta sẽ có nhiều năng lượng vì ta thấy họ có mặt trong ta, và ta là tiếp nối của họ, trong thời gian và trong không gian. Ta là một cánh tay của Bồ tát. Cánh tay có thể vươn ra rất xa, hàng ngàn dặm. Cánh tay ta có thể vươn tới những chốn tối tăm nhất trên trái đất. Chúng ta có bằng hữu khắp mọi nơi, đó là những cánh tay của ta, và ta cũng là cánh tay của họ.
Kinh Bát Đại Nhân Giác nói rằng: “Sự nghiệp duy nhất của Bồ tát là trí tuệ”. Các sự nghiệp khác đều không đáng đeo đuổi. Không có danh vọng nào bằng được tuệ giác ta đạt tới khi ta thực tập dừng lại và nhìn sâu vào bản chất của sự vật. Nhờ hiểu biết mà ta không còn giận dữ, đó là ta đã có hạt giống trí tuệ rồi. Hãy sống cách nào để cho các vị Bồ tát có thể biểu hiện ra được trong ta.
Hãy nói năng và hành xử như một Bồ tát ngay bây giờ. Đừng nghĩ rằng bạn sẽ là Bồ tát sau này. Vào buổi tối nay, hãy niệm danh hiệu các Bồ tát Đại Trí, Đại Bi, Đại Hạnh và Đại Nguyện. Tiếp xúc với các nguyện lớn của chư vị Bồ tát sẽ cho chúng ta năng lượng rất mạnh mà ta cần để có thể ôm lấy những con người đau khổ trên thế gian.
BÀI 11
TRỞ THÀNH HẢI TẶC
Tiếp xúc với đất, chúng ta tiếp xúc được các vị Bồ tát và đồng thời cũng tiếp xúc được với tất cả những người đau khổ. Ta phải tiếp xúc được với cả hai phía. Chúng ta cần nhớ rằng có những người đang bị kẹt vào những đau khổ lớn như chiến tranh, đàn áp và bất công. Họ không có cách nào nói lên được những khổ đau và bất hạnh mà họ phải gánh chịu. Có những hải tặc hãm hiếp các thiếu nữ, giết chết những thanh niên. Có những thương gia giàu có bán vũ khí cho các nước nghèo, trong khi trẻ em trong xứ đó lại không có thức ăn và không có trường để học. Có những chủ hãng bóc lột sức lao động. Có những người chết trong tù và trại cải tạo. Trong trại cùi, có những trẻ em người lớn cụt hết cả tay chân, mù chữ và không có chút hy vọng nào! Các địa ngục đó cần Bồ tát vô cùng.
Khi chúng ta đứng trước ngọn núi hay bông hoa và quán tưởng trước khi lạy xuống lần thứ hai, ta thấy ta không chỉ là Bồ tát mà còn là nạn nhân của các áp bức, kỳ thị và bất công nữa. Với năng lượng Bồ tát, ta ôm lấy các nạn nhân ở khắp nơi. Ta là hãi tặc đã hãm hại bé gái, và ta cũng là em bé gái bị hãm hại. Vì ta không có tự tánh riêng biệt, tất cả chúng ta đều tương quan và ta cũng là tất cả mọi người.
Lối sống của ta có ảnh hưởng trên mọi chuyện. Vậy chúng ta nên suy nghĩ: Chúng ta đã sống ra sao nên thanh niên kia mới trở thành hải tặc, kẻ hiếp dâm giết chóc? Chúng ta chỉ biết quan tâm tới nhu cầu vật chất của mình thôi. Gia đình của anh chàng kia bị kẹt vào cảnh nghèo khổ trong nhiều thế hệ. Cha anh là một người đánh cá, chỉ biết quên sầu bằng cách uống rượu. Ông ta không biết cách dạy con và thường đánh đập chúng. Mẹ anh ta không biết làm sao cho con đi học. Mười ba tuổi là anh ta phải cùng cha đi tàu ra biển đánh cá rồi. Khi cha chết, anh ta tiếp tục công việc đánh cá của cha. Anh ta không có hiểu biết và yêu thương. Anh ta muốn trở thành hải tặc vì chỉ một ngày là cướp được vàng bạc, khiến anh ta có thể bớt nghèo - anh ta sợ phải nghèo suốt đời. Trên biển không có cảnh sát, anh ta nghĩ: “Vậy thì tại sao không theo mấy tên cướp kia mà hãm hiếp mấy cô bé trên thuyền vượt biên và lấy tiền vàng của bọn chúng?”
Nếu chúng ta có súng mà bắn thì sẽ giết được anh chàng hải tặc. Nhưng nếu giúp anh ta biết thấu hiểu và yêu thương thì có hơn chăng? Các chính trị gia, các nhà giáo dục và các viên chức chính phủ ở đâu mà không giúp anh hải tặc ấy?
Đêm qua, trên bờ biển Thái Lan, có hàng trăm em bé mới được sinh ra trong làng thuyền chài. Nếu chúng không được chăm sóc đầy đủ, không được nuôi dưỡng và giáo dục, thì một số em bé sẽ trở thành hải tặc. Đó là lỗi ai? Đó là lỗi của chúng ta: các viên chức, nhà chính trị do dân bầu ra, các nhà giáo dục… Chúng ta không thể đổ lỗi cho người đánh cá mà thôi. Nếu tôi sinh ra là một em bé nghèo khổ không hề được học hành, có cha mẹ mù chữ, nghiện rượu và cờ bạc, nghèo khổ suốt đời và không biết cách nuôi dạy tôi, tôi cũng có thể trở thành hải tặc. Nếu bạn bắn chết tôi, thì giải quyết được gì không? Ai là hải tặc? Có thể là tôi, và em bé bị hãm hiếp cũng có thể là tôi!
Tất cả các khổ đau của thế gian là của chúng ta. Chúng ta phải nhìn mình là họ và họ là mình. Khi ta nhìn thấy họ khổ đau, một mũi tên của hiểu biết và yêu thương xuyên vào tim ta. Ta có thể thương họ, ôm lấy họ và tìm cách giúp họ. Ta chỉ có thể làm được vậy khi không bị tràn ngập bởi hận thù, tuyệt vọng về tình trạng của người kia, hay của chính mình.
BÀI 12
ĐỪNG CHÌM LỈM VÌ TUYỆT VỌNG
Khi bạn tiếp xúc với cái khổ trên thế gian, sự tuyệt vọng sẳn sàng bao trùm lên bạn. Nhưng đừng để vì thế mà bị chìm lỉm đi. Trong cuộc chiến tại Việt Nam, các thanh niên dễ sa vào tình trạng tuyệt vọng vì chiến tranh quá dài, hầu như không bao giờ chấm dứt. Nó giống như tình trạng tại Trung Đông. Các thanh niên Do Thái và Palestine cảm thấy như chiến tranh sẽ không thể chấm dứt. Chúng ta thực tập để bảo vệ trẻ em và chính chúng ta không bị tuyệt vọng. Bồ tát có thể đứng dậy và cưỡng lại sự tuyệt vọng nhờ khả năng lắng nghe, yêu thương và hiểu biết đủ để nhập cuộc. Khi lạy xuống đất lần thứ hai, chúng ta tiếp xúc với các Bồ tát lớn nhỏ khắp nơi, chúng ta cảm nhận được năng lượng của quý Ngài.
Súc vật, cây cỏ và đất đá cũng đau khổ vì lòng tham của con người. Đất, không khí và nước khổ đau vì chúng ta làm ô nhiễm chúng. Cây cối khổ vì ta phá rừng để kiếm lợi. Một số sinh vật bị tuyệt chủng vì môi trường sống của chúng trong thiên nhiên bị tàn phá. Loài người cũng giết hại lẫn nhau và khai thác nhau. Theo Phật pháp, tất cả chúng sinh đều có khả năng tỉnh thức. Làm sao chúng ta có thể dừng lại, không bị chìm lỉm trong tuyệt vọng? Đó là nhờ sự hiện diện khắp nơi của chư Bụt và Bồ tát. Không phải họ ở trên thiên đường xa xôi đâu, khi chúng ta còn sống, còn chết thì họ ở ngay đây với chúng ta.
BÀI 13
LỢI LẠC CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI
Lạy xuống đất giúp cho thân tâm ta được thanh tịnh. Nó giúp chúng ta có tuệ giác về vô thường, về tương tức và vô ngã. Bụt dạy ai nhìn thấy chúng sinh thì sẽ thấy Bụt. Khi lạy xuống đất, ta nhìn thấy Bụt trong ta và thấy ta trong Bụt. Chúng ta nhìn được tất cả chúng sinh đau khổ và nhìn thấy ta trong họ. Ở tư thế phủ phục xuống đất, biên giới giữa ta và người khác được xóa đi. Từ đó ta sẽ biết nên làm gì và không nên làm gì trong đời sống hằng ngày. Nhờ tuệ giác đó, chúng ta có thể làm được nhiều điều rất hữu ích.
Bạn đã làm gì với cuộc đời bạn? Bạn có thực sự tạo được phước lợi cho bạn, cho gia đình và cho chúng sinh chưa?
Nguyện ước sâu xa của Bồ tát là làm vơi bớt khổ đau cho nhân loại. Đó là sự dấn thân của Bụt, của con người giác ngộ. Khi chúng ta có hạnh nguyện của Bồ tát, chúng ta có thể bỏ qua tất cả những chuyện vô nghĩa đã hấp dẫn ta trước đây. Ta có thể bỏ qua danh vọng và lợi lộc. Khi đã quyết tâm thì những chuyện đó rất dễ bỏ qua. Bụt có trong ta, ta có trong Bụt. Ta có thể trở thành Bụt, ta có thể giác ngộ được như Ngài.
BÀI 14
TỰ HƯỚNG DẪN MÌNH
Hãy dùng các lời khấn sau để hướng dẫn bạn khi bắt đầu thực tập cái lạy thứ hai:
“Tiếp xúc với đất, con tiếp xúc được với mọi loài và mọi người hiện đang sinh hoạt trên trái đất này như con.” (Hãy quán tưởng tại một nơi bạn ưa thích, trước khi lạy xuống đất).
”Con là một với sự sống mầu nhiệm đang tuôn trào khắp mọi phương. Con nhìn thấy sự liên hệ giữa con và người khác, cả hạnh phúc lẫn trong khổ đau. Con là một với chư vị Bồ tát và các bậc đại nhân đã vượt thoát ý niệm sinh tử, đã có thể nhìn vào các hình thức sinh tử một cách từ bi, không sợ hãi. Con là một với các vị Bồ tát đang có mặt khắp nơi trên trái đất này. Họ có an lạc, hiểu biết và thương yêu. Họ có thể tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm, có khả năng nuôi dưỡng và chữa lành bệnh, và họ có thể mang những thứ đó tới cho người khác. Họ có khả năng bao trọn thế giới bằng trái tim thương yêu và bàn tay chăm sóc. Con cũng đủ an lạc và thảnh thơi để có thể hiến tặng niềm vui và sự vô úy cho mọi người. Con không cảm thấy cô đơn hay tuyệt vọng khi con cảm thấy tình thương và hạnh phúc của các Bồ tát hiện đang sống trên trái đất này. Nhìn nhận được tình thương của họ đối với các chúng sinh đau khổ khiến con sống được một cuộc đời có ý nghĩa với niềm an lạc, hạnh phúc thực sự”.
“Sức mạnh và nội lực của con được gia tăng nhờ các vị Bồ tát, con có thể thấy con là một với chúng sinh đau khổ. Con là một với những người tàn tật bẩm sinh hay do chiến tranh, tai nạn, bệnh hoạn. Con là một với những người bị kẹt trong tình trạng áp bức. Con là một với những người không có hạnh phúc trong gia đình, không có gốc rễ và bình an trong tâm, luôn khao khát thấy được những gì tốt đẹp, hoàn hảo. Con là một với những người trước cái chết đã rất sợ hãi, không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Con là em bé phải sống trong cảnh nghèo đói, bệnh tật, chân tay khẳng khiu như ống sậy, tương lai mịt mù. Con cũng là người chế ra bom đạn để bán cho các nước nghèo. Con là con ếch bơi trong hồ và cũng là con rắn muốn nuôi thân bằng con ếch. Con là con sâu con kiến mà cũng là con chim đang tìm mồi. Con cũng là rừng cây bị đốn ngã. Con là dòng sông bị ô nhiễm và cũng là những người đã tạo ra điều đó. Con thấy con trong tất cả mọi loài và tất cả mọi loài đều có mặt trong con”.
BÀI 15
NHÌN SÂU VÀO SỰ KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT
Khi chúng ta bắt đầu hiểu được rằng chúng ta là tất cả mọi sự vật thì cái sợ trong ta tan biến. Chúng ta đã tiếp xúc sâu sắc được với các bình diện không gian và thời gian. Nhưng muốn thật sự vô úy (không còn chút sợ hãi nào), chúng ta phải nhìn sâu được vào bình diện tuyệt đối của bản môn không sinh không diệt. Chúng ta cần được giải phóng khỏi các quan niệm rằng ta là cái thân này, và ta sẽ chết. Đây là cái lạy thứ ba và sau đây là thiền quán giúp bạn thực tập điều đó:
Thở vào, tôi biết ……….…… Tôi đang thở vào ………. Vào
Thở ra, tôi biết ………..…….. Tôi đang thở ra ..………. Ra
Thở vào, tôi ý thức về ngọn sóng trên đại dương ……. Sóng
Thở ra, tôi cười với ngọn sóng ……………………….… Cười
Thở vào, tôi biết có nước trong sóng ………..………... Nước trong sóng
Thở ra, tôi cười với nước trong ngọn sóng …………… Cười
Thở vào, tôi thấy sóng được sinh ra ………..……….… Sóng sinh ra
Thở ra, tôi cười với con sóng mới sinh ra ..…………… Cười
Thở vào, tôi thấy con sóng chết đi ……………………... Sóng chết đi
Thở ra, tôi cười với con sóng đã chết ……………….… Cười
Thở vào, tôi thấy bản chất vô sinh của nước ....……... Nước vô sinh
Thở ra, tôi cười với bản chất vô sinh của nước .…….. Cười
Thở vào, tôi thấy bản chất bất diệt của nước ………… Nước bất diệt
Thở ra, tôi cười với bản chất bất diệt của nước ……… Cười
Thở vào, tôi thấy thân tôi được sinh ra ………………… Thân tôi sinh
Thở ra, tôi cười với sự sinh ……………………………… Cười
Thở vào, tôi thấy thân tôi chết đi ………………………… Thân tôi chết
Thở ra, tôi cười với cái chết của thân tôi ………..……… Cười
Thở vào, tôi thấy bản chất không sinh của thân tôi ……. Không sinh
Thở ra, tôi cười với bản chất vô sinh của thân tôi ……... Cười
Thở vào, tôi thấy bản chất không chết của thân tôi ….… Không chết
Thở ra, tôi cười với bản chất bất diệt của thân tôi ….….. Cười
Thở vào, tôi thấy bản chất không sinh của tâm tôi …..… Tâm thức vô sinh
Thở ra, tôi cười với bản chất vô sinh của tâm tôi ….….... Cười
Thở vào, tôi chỉ có ý thức về hơi thở vào …………….… Vào
Thở ra, tôi chỉ có ý thức về hơi thở ra ……………….….. Ra
BÀI 16
TÔI KHÔNG PHẢI CÁI THÂN NÀY
Khi còn là một chú tiểu, tôi nghĩ rằng vượt thoát sinh tử là một chuyện gì rất xa xôi. Tôi nghĩ tôi sẽ không thể đạt đến trạng thái đó trong một kiếp người. Nhưng “sinh-tử” thật ra chỉ là những khái niệm do chúng ta đặt ra, chúng ta chỉ cần vượt thoát được hai khái niệm đó thôi. Khi học được rồi, tôi thấy đó không phải là chuyện không thể làm được. Hai khái niệm đó đã giam hãm chúng ta bao nhiêu năm dài.
Nay ta thấy rằng ta phong phú hơn cái thân này. Ta thấy ta không chỉ có cuộc đời này mà chúng ta vô cùng vô tận. Chúng ta thực nghiệm chuyện này trong thiền quán. Nếu chúng ta thành công trong cái lạy thứ nhất và thứ hai, thì thứ ba chỉ là trò trẻ con. Đó là một vòng tròn bao cả hai đường dọc và đường ngang - thời gian và không gian - ở cái lạy thứ nhất và thứ hai. Trong cái lạy đầu, ta thoát được khái niệm phân biệt mình phân cách với tổ tiên và con cháu. Ta được thoát khỏi ý niệm về thời gian. Trong cái lạy thứ hai, ta vượt thoát được khái niệm phân biệt mình khác với Bụt, Bồ tát và các bậc đại nhân, những chúng sinh đau khổ, súc vật, cây cỏ, đất đá, chim muôn. Ta vượt thoát ý niệm về không gian. Lần thứ ba ta lạy xuống và buông bỏ cái nhìn thân này là ta, buông bỏ ý niệm ta là một chủ thể có sinh có diệt.
Bình thường ta nghĩ thân này là ta. Ta nghĩ khi thân diệt thì mình cũng bị hoại diệt. Bụt dạy rất rõ rằng thân này không phải của ta.
Tôi thường hỏi các bạn trẻ, tuổi chưa mới ba mươi rằng: “Con đang ở đâu, năm 1966, khi thầy mới rời Việt Nam?” Họ không nên trả lời rằng họ chưa hiện hữu. Họ phải thấy được rằng họ đã có mặt trong cha mẹ, ông bà họ.
Bạn có thể dùng câu sau đây để tự hướng dẫn bạn khi mới thực tập cái lạy thứ ba: “Tiếp xúc với đất, con loại bỏ ý nghĩ con là cái thân này và thọ mạng của con có giới hạn”. (Đứng trước nơi bạn ưa thích, quán tưởng trước khi lạy xuống).
“Con nhìn thấy cái thân này làm bằng tứ đại không thật sự là con và con không bị giới hạn vào cái thân này. Con là một phần của hai dòng sinh mạng huyết thống và tâm linh đã hàng triệu năm truyền tới ngày nay và còn truyền đi trong tương lai hàng triệu năm nữa. Con là một với tổ tiên con, con là một với tất cả chúng sinh, dù họ đang an lạc hay họ đang đau khổ sơ hãi. Trong phút giây này con đang có mặt khắp nơi trên thế giới. Con cũng đang có mặt ở quá khứ và tương lai. Sự tàn hoại của thân xác này không ảnh hưởng gì tới con, cũng như khi chùm hoa mận rơi rụng, không có nghĩa là cây mận chết.
Con nhìn con như một ngọn sóng trên mặt đại dương. Bản chất cảu con là nước trong đại dương. Con nhìn thấy con trong tất cả ngọn sóng khác và thấy các ngọn sóng đó cũng có trong con. Sự biểu hiện của hình hài ngọn sóng không ảnh hưởng đến đại dương. Pháp thân và trí tuệ của con không sinh cũng không diệt. Con nhìn thấy con trước khi thân con biểu hiện và sau khi thân con tan rã. Ngay giây phút này, con cũng thấy con đang biểu hiện bên ngoài thân này. Bảy mươi, tám mươi năm không phải là tất cả cuộc đời con. Thọ mạng của con cũng như của chiếc lá, của các chư Bụt, không bị giới hạn bởi thời gian. Con đã vượt qua được ý niệm cho rằng cái thân này là một thực thể riêng biệt với thời gian và không gian”.
Những ai trong các bạn đã tiếp xúc sâu được với bản chất của thời gian và không gian thì có thể tiếp xúc với bình diện tuyệt đối, với bản môn. Sau khi tiếp xúc với sóng, bạn học cách tiếp xúc với nước.
BÀI 17
KHÔNG CHIA CÁCH
Bụt dạy rằng bản chất chân thật của bạn là bản chất không sinh-không diệt, không tới-không lui, không giống-không khác, không có cũng không không. Giáo pháp này hình như trái ngược với giáo pháp dạy rằng cái gì sinh thì sẽ diệt, mọi thứ đều có thể tàn lụi và ta không thể tránh được cái chết, già lão và bệnh tật. Hãy tập nhìn cho sâu. Bạn sẽ thấy rằng “sinh” là một ý niệm, “tử” là một ý niệm, “tới”-”lui”, “không”-”có”… cũng là những ý niệm. Chúng ta phải xả bỏ những ý niệm về thực tại đó. Và ta sẽ tiếp xúc được với chân lý, hay chân như.
Chân như là một thuật ngữ. Nó có nghĩa rằng chân lý thực tại là như vậy. Bạn không thể nói gì về chân như hay giải thích gì hết. Bạn có thể nói Thượng đế là một chân lý thực tại, và những gì diễn tả về Ngài đều sai. Bất kỳ ý niệm hay tư tưởng nào nói về Thượng đế đều không thể diễn ta chính xác về Ngài. Niết bàn cũng vậy. Niết bàn chỉ hiển lộ tự thân sau khi mọi ý nghĩ và quan niệm về Niết bàn được xóa bỏ hết. Trong bình diện tương đối, khi quan sát một ngọn sóng ta có thể nói sóng sinh ra, sóng chết đi, sóng cao thấp hay đẹp xấu…, ta có thể dùng đủ mọi câu từ để miêu tả sóng. Nhưng trong bình diện tuyệt đối, sóng là nước, thì tất cả các câu từ mô tả sóng nói trên đều không có giá trị gì nữa. Không còn sinh-diệt, tới-lui, cao-thấp, không còn xấu-đẹp. Sóng không cần chết mới trở thành nước. Nó lúc nào cũng là nước.
Bây giờ, tu tập như thế, bạn sẽ không còn thấy mình bị chia cách với người thương khi họ chết nữa. Khi có cái thấy sâu sắc, bạn sẽ không còn cảm thấy bơ vơ. Hằng ngày tôi thường nhìn sâu vào mọi thứ chung quanh tôi: cây cối, đồi núi, bạn bè. Tôi nhìn thấy tôi trong tất cả và tôi biết tôi sẽ không chết. Tôi sẽ tiếp tục sống dưới nhiều hình tướng khác nhau. Khi bạn tôi nhìn tôi, họ cũng nên nhìn thấy tôi trong những hình tướng khác hơn là cái thân này. Thực tập như vậy hằng ngày sẽ giúp cho họ không phải than khóc một khi biểu hiện này của tôi biến mất. Vì khi sự biểu hiện này chấm dứt, nó sẽ nhường chỗ cho các biểu hiện khác có mặt.
(Hết chương 8)