ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
(TẤT ĐẠT ĐA – CỒ ĐÀM)
Siddhārtha
Gautama (tiếng Phạn: सिद्धार्थ गौतम), chữ Hán: 悉達多瞿曇, phiên âm Hán-Việt là Tất-đạt-đa Cồ-đàm,
hay còn gọi là Shakyamuni (tiếng Phạn: शाक्यमुनि), chữ Hán: 釋迦牟尼 - phiên âm Hán-Việt là Thích-ca Mâu-ni,
là một triết gia, học giả, người sáng lập nên Phật giáo,
từng sống vào thời kì Ấn Độ cổ đại khoảng giữa thế kỷ thứ 6 và
4 trước Công nguyên.
Theo
các bộ kinh Phật giáo truyền lại và sử liệu, ông là một vương tử hoàng tộc
Gautama (Cồ-Đàm) của tiểu quốc Shakya (Thích-ca)
ở Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), đã từ bỏ đời
sống phú quý để tìm đạo. Sau sáu năm cầu đạo, ông đạt được giác ngộ tâm linh và
dành 45 năm cuối của cuộc đời mình cho việc truyền dạy giáo lý ở phía
đông tiểu lục địa Ấn Độ.
Siddhārtha đã đề xướng con đường Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā),
vừa từ bỏ đời sống xa hoa và cũng vừa từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh thịnh hành
trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó.
Những lời giáo pháp trong thời gian ông đi truyền bá đã đặt nền tảng cho sự
hình thành của Phật giáo.
Siddhārtha
Gautama được các Phật tử coi
là một bậc đạo sư đã giác ngộ viên
mãn và tự giải thoát hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi, hiểu rõ được sự vận hành của thế giới xung quanh, đồng
thời truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người khác để họ có thể tự
chấm dứt khổ đau bản
thân, có được hạnh phúc tối thượng. Chi tiết về cuộc đời, những lời dạy và các
giới luật của ông được những học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Siddhārtha
Gautama qua đời. Hàng loạt những bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ
qua nhiều quá trình kết tập và được viết
thành sách 200 năm sau.
Tất-đạt-đa
Cồ-đàm, đôi khi cũng được phiên âm là Sĩ-đạt-ta Cù-đàm (悉達多 瞿曇) đều
là các kiểu phiên âm Hán-Việt (dùng Tiếng Trung Quốc phiên âm tiếng Phạn ra chữ Hán, rồi dùng âm Hán-Việt
đọc các chữ Hán đó sang tiếng Việt), còn được người đương thời và các Phật tử sau này tôn xưng
là Shakyamuni (शाक्यमुनि), tiếng Trung phiên âm thành 释迦牟尼, Hán-Việt đọc là "Thích-ca-mâu-ni", hay thường
gọi đơn giản là Bụt; Devanagari: बुद्ध; phiên âm Hán Việt từ tiếng
Trung: 佛 (Phật).
Dù
có nhiều hoài nghi và do dự trước đây, nhưng sau các khám phá khảo cổ vào đầu
thế kỷ 20, hầu hết các học giả ngày nay đều công nhận ông đã sống và truyền dạy
giáo lý trong thời Mahajanapada dưới thời cai trị của Bimbisāra (Tần-bà-sa-la)( 558 - 491 TCN) và qua đời trong thời gian đầu của
triều đại Ajātaśatru (A-xà-thế),
người kế thừa của Bimbisāra. Cuộc đời của Siddhartha không những trùng hợp với
thời kỳ phát triển của Bà-la-môn,
mà còn trùng với sự phát triển của trường phái tu khổ hạnh Sramana như Kỳ-na giáo, Ājīvika, Ajñana, Cārvāka (triết học duy vật khoái lạc).
Thời
điểm chính xác năm sinh theo lịch hiện đại của ông không được ghi nhận rõ, dao
động trong khoảng từ 624 tới 563 trước Công nguyên.
Tuy nhiên, đại hội Phật giáo thế giới đã thống nhất cho rằng Siddhartha sinh
khoảng năm 624 trước Công nguyên và
qua đời khi 80 tuổi (năm 544 TCN).
Cha
ông là Suddhodana (Tịnh-phạn),
người đứng đầu tiểu quốc Shakya (Thích-ca), một tiểu quốc nằm ở vùng biên
giới Ấn Độ - Nepal ngày nay, có kinh đô là Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ)). Mẹ ông
là Maya (Ma-da), người tiểu quốc Koli
láng giềng.
II. CUỘC SỐNG BAN ĐẦU VÀ HÔN NHÂN.
Tất-đạt-đa
được sinh ra tại vườn Lumbini (Lâm-tỳ-ni),
nay thuộc Nepal.
(Kinh Bản Sinh (Jataka) ghi về nhân duyên làm
thân mẫu Phật của bà Maya như sau: cách đây 91 đại kiếp Trái Đất, đã có 1 vị
Phật Chánh Đẳng Giác tên là Vipassī (Phật Tỳ-bà-thi) ra đời. Có một công nương (con một
vị đại thần trong triều đình) đã cúng dường Phật Tỳ-bà-thi với lòng chí thành
và ước nguyện rằng trong tương lai, cô sẽ được làm mẹ của 1 vị Phật. Đức Phật
Tỳ-bà-thi đã thọ ký cho cô sẽ được như nguyện. Công nương đó chính là tiền kiếp
của hoàng hậu Maya)
Trước
đó mười tháng, trong khi được vua cho phép giữ 8 giới thanh tịnh nhân dịp lễ
cầu mưa (Asadh Utsav), tại thành Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ),
hoàng hậu Maya nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà, vòi cuốn một hoa sen
lớn màu trắng, từ trên trời bay xuống chui vào hông phải của bà, lúc đó bà cảm
thấy thân tâm khoái lạc, sáng chói như ánh trăng rằm. Thức dậy, bà đem chuyện
giấc mộng kỳ lạ kể cho nhà vua nghe. Nhà vua liền cho mời 64 nhà tiên tri Bà-la-môn
đến giải mộng; các vị này đoán là hoàng hậu đã mang thai và hoàng tử sắp được
sinh ra sẽ là một đại đế hoặc một thánh nhân tiếng tăm lừng lẫy.
Theo
các kinh điển Phật giáo, ngay từ lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ tướng tốt (Ba mươi hai tướng
tốt). Tên được chọn là Siddhartha
(Tất-Đạt-Đa) có nghĩa là "người thành đạt nguyện vọng".
(Kinh
Phật tương truyền rằng mẹ của mọi vị Phật đều sẽ qua đời vào 7 ngày sau khi sinh (bởi
phước báu quá lớn của việc đản sinh ra Phật sẽ giúp người mẹ xả bỏ thân xác phàm
tục và thọ mạng ngắn ngủi của con người để tái sinh làm thần trên cõi Trời).
Sau khi qua đời, bà Maya đã tái sinh làm 1 vị thần trên cõi trời Đâu-suất-đà có tên là Māyādevaputta. Sau
này khi thành đạo, Phật Thích Ca đã dùng thần lực để thuyết Vi diệu pháp cho vị thần (tiền kiếp là mẹ
mình) trên cõi trời này để tỏ lòng biết ơn thân mẫu.
Về
bà Gotamī, Kinh Bản Sinh (Jataka) ghi về nhân duyên làm
dưỡng mẫu Phật của bà như sau: cách đây 100.000 đại kiếp Trái Đất, đã có Phật Padumuttara truyền đạo trên thế gian. Có
một công chúa đã cúng dường Phật với lòng chí thành, một hôm khi đang nghe Phật
Liên Hoa thuyết pháp, công chúa nhận thấy có một Tỳ kheo ni thật đáng tôn quý,
đứng đầu hội chúng Tỳ kheo ni, và là người nữ đệ tử đạt giác ngộ sớm nhất. Bà liền
lập nguyện rằng, trong tương lai, do công đức tu tập, bà sẽ được như vị Tỳ kheo
ni ấy. Lời nguyện của bà đã được Đức Phật Padumuttara ấn chứng là sẽ thành tựu
trong thời kỳ của Đức Phật Shakya (Thích-ca). Công chúa đó chính là tiền kiếp
của bà Gotamī)
Do
lời tiên đoán rằng thái tử sẽ bỏ đi tu hành "sau khi thấy một người già,
một người bệnh, một xác chết và một sa môn" nên vua Suddhodana tìm đủ mọi
cách cho Siddhartha hưởng đầy đủ lạc thú trong hoàng cung, không bao giờ phải
nhìn thấy các cảnh khổ đau, bệnh hoạn, già chết ở đời.
Siddhartha đã sống một cuộc sống thanh tịnh. Vua Suddhodana vốn muốn con ông nối nghiệp mình nên không muốn thái tử đi tu. Ông đã cho nhiều người danh tiếng dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, cho thái tử hưởng đầy đủ vinh hoa phú quý, nhất là không để thái tử tiếp xúc với cảnh khổ của cuộc đời. Sau này, Phật kể lại: "Đời sống của ta (lúc bấy giờ) thật là tế nhị, vô cùng tinh tế. Trong hoàng cung, chỗ ta ở, phụ hoàng có đào ao, xây những đầm sen. Khi sen xanh đua nhau khoe màu ở đây thì sen đỏ vươn mình phô sắc phía bên kia, và trong đầm bên cạnh sen trắng đua nhau khoe vẻ đẹp dưới ánh nắng ban mai. Trầm hương của ta dùng đều là loại thượng hảo hạng từ xứ Kāsi đưa về. Khăn và xiêm áo của ta cũng may toàn bằng hàng lụa bậc nhất từ Kāsi chở đến".
Năm
lên 18 tuổi, Siddhartha kết hôn với công chúa Yaśodharā (Da-du-đà-la)
của thị tộc Koli.
(Theo Kinh Bản Sinh, cách đây 4 A tăng kỳ và 100.000
kiếp Trái Đất, tiền thân của Tất-đạt-đa là tu sĩ Sumedha (Thiện Huệ). Khi đó có
đức Phật tại thế là Dīpankara (Phật Nhiên Đăng). Sumedha nhìn thấy Phật Dīpankara
tận mắt, liền phát nguyện sẽ cố gắng tu học cho đến khi được hoàn toàn giác ngộ
như Phật. Sumedha xin được hoa sen của 1 cô gái tên là Sumita, chàng chí thành
tung năm hoa sen của mình lên không trung để cúng dường Phật. Sumita cũng trao
cho chàng 2 bông hoa sen nhờ dâng cúng dùm, với tâm nguyện rằng đời đời kiếp
kiếp luân hồi về sau sẽ luôn là vợ của Sumedha, trợ giúp chàng trong
muôn kiếp luân hồi cho tới khi chàng thành Phật. Sau đó, Sumedha còn nằm sát
đất, lấy thân mình để giúp Phật bước qua vũng lầy. Đức Phật Dīpankara hoan hỉ
thọ ký rằng 2 người sẽ đạt tâm nguyện: Sumedha sẽ thành Phật hiệu là Sākyamuni
(Thích-ca Mâu-ni) trong đời Hiền kiếp (Bhadra kalpa), còn cô gái Sumita sẽ luôn
là vợ của chàng trong các kiếp luân hồi, cho tới khi chàng thành Phật.
Tu
sĩ Sumedha thời xa xưa đó chính là tiền kiếp của thái tử Siddhartha, còn cô gái
Sumita chính là tiền kiếp của công chúa Yaśodharā.)
Tuy thế, theo mô tả của các kinh điển Phật giáo, các dục lạc không thể giữ chân Siddhartha. Do nhân duyên không thể tránh khỏi, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử Siddhartha phát tâm tu hành. Rồi trong một đêm, ông lặng lẽ từ biệt hoàng cung, quyết định sống cảnh không nhà của một tu sĩ.
(Truyền thuyết rằng, cả bốn người trong cảnh ngộ vừa kể là do các vị thần trên thiên
giới biến hóa thành nhằm nhắc nhở ông lên đường tu thành Phật quả. Siddhartha thấy rằng ba cảnh đầu
tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu
sĩ chính là cuộc đời của ông).
III. XUẤT GIA.
Năm
29 tuổi, công chúa Yaśodharā hạ sinh một bé trai. Tất-đạt-đa thấy rằng việc có
con khiến cho mong muốn rời nhà đi tu trở nên khó khăn hơn, nên đặt tên đứa trẻ
là Rāhula (nghĩa là Chướng ngại).
Một đêm, Siddhārtha hạ quyết tâm từ bỏ cuộc sống xa hoa, lìa cung điện bất chấp nỗ lực ngăn cản của cha mình. Trong đêm tối, Tất đạt đa gọi người nô bộc trung thành là Channa (Sa-nặc) lấy con ngựa Kanthaka (Kiền-Trắc) rồi ra đi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, cắt tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về thông báo việc này cho phụ hoàng. Sử sách Phật giáo xác định rằng đó là rạng ngày mồng 8 tháng 2 năm 595 trước công nguyên, và gọi đó là cuộc "Đại xả li", hoặc "Đại xuất hành" (cuộc ra đi vĩ đại)
(Tương
truyền rằng, các vị trời trên thiên giới đã phù phép để các lính canh ngủ gục,
giúp chuyến ra đi của thái tử Siddhārtha diễn ra thuận lợi. Khi thái tử
Siddhārtha cắt tóc và ném lên trời, mớ tóc không rơi xuống mà bay vút lên không
trung rồi biến mất, do Śakra (Đế Thích) đã hứng lấy mớ tóc đó đem về thờ phụng
trong bảo tháp trên cõi trời Tavatimsa (Ðao-lợi) (một cung trời trong
quan điểm Phật giáo). Sau khi trở về, ngựa Kanthaka vô cùng buồn bã, bỏ ăn mấy
ngày rồi chết. Nhờ thiện nghiệp đưa thái tử đi xuất gia, ngựa Kanthaka được tái
sanh làm một vị tiên nam trên cung trời Tavatimsa, về sau vị thần này đã được
gặp tôn giả Moggallāna (Mục-kiền-liên) - 1 trong 2 đại đệ tử của Phật, và
kể lại chuyện tái sinh của mình.)
Siddhārtha bắt đầu thử cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ông quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo phái khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-la Ca-lam (阿羅邏迦藍, sa. ārāda kālāma, pi. āḷāra kālāma) và Ưu-đà-la La-ma tử (優陀羅羅摩子, sa. rudraka rāmaputra, pi. uddaka rāmaputta). Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa nhanh chóng đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ (sa. ākimcanyāyatana, pi. ākiñcaññāyatana), nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi tưởng phi phi tưởng xứ (sa. naivasamjñā-nāsaṃñāyatana, pi. nevasaññā-nāsaññāyatana), là trạng thái siêu việt nhất của thiền định.
Nhưng
Siddhārtha cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình. Ngay
cả cấp độ thiền định cao nhất là "Phi tưởng phi phi tưởng xứ" chưa
đạt đến mức độ triệt để cho việc giải thoát khỏi khổ đau, không phải là chân lý
tối hậu, nên ông quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát. Có 5 Tỳ-kheo là
năm vị đồng tu Kondañña, (Kiều-trần-như) đồng hành cùng ông.
Sau 5 năm tu khổ hạnh, có lúc gần kề cái chết, Siddhārtha nhận ra đó không phải là cách tu dẫn đến giác ngộ, ông bắt đầu ăn uống bình thường, 5 Tỳ-kheo kia thất vọng bỏ đi. Cách tu cực khổ được Phật nhắc lại sau khi thành đạo như sau:
“Này
Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống,
ăn ít từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hạt hay súp đậu
nhỏ." Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn
từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hột hay súp đậu nhỏ,
thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành
như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn chân của
Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của
Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta
giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh
của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm
trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu
khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm
cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ da
bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ
xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này
Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta
nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống
đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa
bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc
hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, có người
thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gautama có da đen." Một số người nói
như sau: "Sa-môn Gautama, da không đen, Sa-môn Gautama có da màu
xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gautama da không đen, da
không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gautama da không đen,
da không xám, Sa-môn Gautama có da màu vàng sẫm." Cho đến mức độ như vậy,
này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá
ít."
Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh cực đoan, ông từ bỏ cách tu này. Quả quyết rằng mình đã đi đến chỗ cùng cực của công phu tu khổ hạnh và khổ hạnh không dẫn đến giác ngộ, ông tìm phương pháp khác, và nhớ lại một kinh nghiệm thời thơ ấu, lúc đang ngồi thiền dưới gốc cây mận:
“Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc dòng Shakya (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi thiền dưới bóng mát cây jambu (diêm-phù-đề), Ta li dục, li pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỉ lạc do li dục sinh, có tầm, có tứ." Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ." Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện."
IV. ĐẠT
GIÁC NGỘ.
Sau 5 năm tu khổ hạnh không đạt kết quả, Siddhārtha quyết định ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành. Siddhārtha thường đến bờ sông Nairanjana (Ni-liên-thiền, hiện nay là sông Phalgu) ngồi thiền định trên bãi cát. Một hôm, có hai cô bé chăn bò tên Nanda và Bala đang dắt bò xuống sông tắm thì thấy Siddhārtha đang ngồi thiền định, họ sanh lòng kính mến liền tự tay vắt lấy sữa bò, nấu chín rồi dâng lên. Siddhārtha ăn xong cảm thấy thân thể khoẻ mạnh.
Ðến ngày thứ
49, Siddhārtha ngồi thiền định dưới gốc cây cổ thụ Ni-câu-đà (cách cây Bồ-đề
khoảng 150m về hướng đông), sắp đi khất thực, thì có hai chị em nàng Sujata (Tu-Xà-Đề),
con ông trưởng làng Senani, mang bát cháo sữa (kheer) đến cúng vị Thần gốc cây
để tạ ơn. Khi thấy Siddhārtha đang tĩnh tọa, hai nàng đặt bát cháo sữa bằng
vàng trước mặt, cung kính đảnh lễ rồi ra về. Sau khi ăn xong bát cháo sữa,
Siddhārtha thấy cơ thể khoẻ mạnh lạ thường nên không đi khất thực mà xuống sông
Nairanjana tắm, tâm trạng ông vô cùng phấn chấn, cảm thấy sắp đạt thành tựu
viên mãn.
(Tương truyền rằng sau khi rửa
bát xong, ông để cái bát bằng vàng trên dòng nước và nguyện rằng: "Nếu
hôm nay ta được chứng quả thành Phật, thì nguyện cho cái bát nầy nổi trên mặt
nước và trôi ngược lại dòng sông". Quả nhiên cái bát nổi trên mặt nước
và trôi ngược lại dòng sông 80 sải tay, đến khi gặp phải một xoáy nước mạnh thì
chìm xuống đáy sông, đúng nơi có 3 chiếc bát vàng của 3 vị Phật đắc đạo trước
Siddhārtha trong Hiền kiếp này (Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp).
Sau đó, Siddhārtha đi trở lên bờ, đến cội Bồ-đề ở Bodh Gaya (Bồ-đề Đạo Tràng) và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Trước khi ngồi, ông thầm nghĩ làm thế nào có một tòa ngồi cho yên tĩnh, trang nghiêm. Bỗng thấy một em bé tên là Sotthiya Svastika (Cát-tường) gánh cỏ đi ngang qua đó, ông gọi lại hỏi xin một mớ cỏ để làm tòa ngồi. Em bé cung kính dâng ông sáu bó cỏ sắc (kusha) mềm mại và có hương thơm. Ông xấp cỏ thành tọa cụ và bồ-đoàn, ngồi kiết già, lưng thẳng đứng hướng về phía gốc cây, mặt hơi cúi xuống nhìn về hướng đông, phía bờ sông Nairanjana.
Đêm hôm đó, Siddhārtha bắt đầu thực hành các pháp thiền định. Cuối cùng, ông đạt Diệt-Thọ-Tưởng định (Nirodha-samapatti), tỏa ra uy năng chiếu khắp Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới).
Tương truyền rằng Ma vương Mara (Ba-tuần - vua cõi trời Tha Hóa Tự Tại) không muốn ông đắc đạo, đã quấy nhiễu bằng nhiều phương thức, nhưng cuối cùng đều thất bại. Ba cô con gái của ma vương tên là Tanhā (Ái Dục), Aratī (Bất Mãn) và Ragā (Tham Vọng) hóa ra ba nàng tiên tuyệt đẹp để quyến rũ, nhưng cũng chịu thất bại. Sau khi hàng phục ma vương xong, Siddhārtha tiếp-tục nhập Diệt-Thọ-Tưởng định và bắt đầu chứng đắc các đạo quả:
- Tận diệt các vi-tế phiền-não (Kammavasa) còn ẩn náu trong tâm làm
nghiệp nhân cho Sinh-Tử Luân-Hồi (Samsara). Ðến canh một đêm đó, ông chứng
Túc-Mạng-Minh (Pubbe-nivasanussati-nana), biết rõ tất cả các tiền kiếp của ông
(ở thời đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và
đau khổ thế nào, tạo nghiệp gì, chết thế nào, rồi tái sinh thế nào...)
- Tận diệt các vi-tế vô-minh (Avidyasava). Ðến canh ba, ông chứng
Thiên-Nhãn-Minh (Cutupapata-nana), biết rõ tất cả sự biến chuyển của vạn vật
qua các giai-đoạn thành, trụ, hoại, không; và biết rõ tất cả chúng sanh (ở thời
đại nào, tên gì, sanh trưởng thế nào, sinh sống ra sao, vui thích và đau khổ thế
nào, tạo nghiệp gì, chết cách nào, rồi tái sinh thế nào...) Ông biết rõ tất cả
nhân duyên nghiệp báo của chúng sinh, từ đó suy ra luật Nhân-Quả và Luân-Hồi.
- Tìm ra phương cách giúp
chúng sinh chấm dứt phiền-não và vô-minh, đạt đến giác ngộ hoàn toàn, thoát ra
khỏi vòng Sinh-Tử Luân-Hồi. Ðến canh năm, ông chứng Lậu-Tận-Minh
(Asavakkhaya-nana): Do đã biết rõ tất cả các tiền kiếp của chính bản thân mình
và của mỗi chúng sinh, nên ông nhận thấy rõ-ràng đâu là khổ, đâu là nguyên nhân
của khổ, đâu là hạnh phúc chân-thật vĩnh-cửu và làm thế nào để đạt được nó. Ông
đã tìm ra Tứ Thánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo).
Theo sử Phật giáo, đó là ngày mùng 8 tháng chạp âm lịch năm 589 TCN). Ở tuổi 35, Siddhārtha đã đạt tới giác ngộ, trở thành Phật toàn giác, là bậc anuttara samma sambodhi (Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác), là đức Phật Shakyamuni (Thích-ca Mâu-ni) với Thập hiệu:
1. Như Lai (tathāgata), là "Người đã đến như thế" hoặc "Người đã đến từ cõi Chân như"; tuệ giác của Đức Phật như Mặt Trời soi sáng khắp thế gian, xóa tan đêm tối vô minh.
2. Ứng Cúng (arahant),
dịch nghĩa là A La Hán, là "Người đáng được cúng dường", đáng được
tôn kính.
3. Chính Biến Tri (samyaksaṃbuddha),
dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà, là "Người hiểu biết đúng tất cả
các pháp".
4. Minh Hạnh Túc (vidyācaraṇasaṃpanna),
nghĩa là "Người có đủ trí
huệ và đức hạnh", tức là có đầy đủ tam
minh (Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh, Lậu Tận Minh) và ngũ hạnh (Thánh Hạnh, Phạm
Hạnh, Thiên Hạnh, Anh Nhi Hạnh, Bệnh Hạnh).
5. Thiện Thệ (sugata),
là "Người đã đi một cách tốt đẹp"
6. Thế Gian Giải (lokavid),
là "Người đã thấu hiểu thế
giới"
7. Vô Thượng sĩ (anuttarapuruṣa),
là "bậc tu hành tối cao, không ai vượt qua"
8. Điều Ngự Trượng Phu (puruṣadamyasārathi),
nghĩa là "Người đã chế ngự được bản
ngã và nhân loại", có khả năng điều phục
những người hiền và ngự phục những kẻ ác theo về chính đạo.
9. Thiên Nhân Sư (devamanuṣyānāṃ
śāstṛ), là "Bậc thầy của cõi người và cõi trời"
10. Thế Tôn (buddhalokanātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān),
là "Bậc giác ngộ được thế
gian tôn
kính"
Từ thời điểm đó, Siddhārtha biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh một lần nào nữa. Kinh nghiệm giác ngộ được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Siddhārtha như sau:
"... Sau khi hoàn lại
sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng
tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền,
nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.
Khi tâm ta được an tịnh,
thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó
về những ký ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một,
hai, ba, bốn, năm,..., trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới.
'Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề
nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta... Ta đã chết như vầy...'. Sự hiểu biết
(sa. vidyā, pi. vijjā) đầu tiên này ta đã đạt
được trong canh đầu...
Sau đó ta chú tâm đến sự
sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng,
siêu việt mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại,...chúng
sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng 'Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện
qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục.
Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện
đạo, sau khi chết được lên cõi thiên'... Sự hiểu biết thứ hai này ta đã đạt được
trong canh hai.
Sau đó ta chú tâm nhận thức
về sự tiêu diệt các lậu hoặc (漏,
sa. āsrava, pi. āsava) và nhìn nhận như thật:
'Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây
là con đường tiêu diệt khổ', và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi
dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lý 'Tái sinh ta đã đoạn,
cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống
(khổ đau) này ta đã vượt qua'... Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong
canh ba ..".
Siddhārtha lúc
đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ
một cách nào khác để truyền đạt, cũng như ông thấy con người đã bị áp đảo
bởi vô minh, tham lam và thù hận nên họ rất khó
có thể nhận ra "con đường giác ngộ", vốn rất sâu sắc và khó nắm bắt.
Siddhārtha nghĩ rằng: "Giáo pháp mà Ta đã chứng ngộ quả thật thâm
diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi
lý luận, rất tế nhị, chỉ có bậc hiền thánh mới thấu hiểu. Nếu Như Lai truyền
dạy giáo pháp ấy thì kẻ khác sẽ không hiểu được. Thật hoài công! Người còn mang
nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt. Người tham ái chìm đắm trong
đêm tối, không thấy được giáo pháp, vì bị tham ái bao phủ như đám mây đen kịch.
Giáo Pháp đi ngược dòng đời, sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức và rất tế
nhị".
Nên ông tiếp tục yên lặng ngồi quán chiếu tâm chúng sinh dưới gốc cây Bồ-đề một thời gian. Với lòng thương yêu chúng sinh, ông chấm dứt sự yên lặng và quyết định chuyển Pháp Luân, dựa vào căn cơ của chúng sinh để thuyết Pháp cứu độ. Từ đó ông có danh hiệu Shakyamuni (Thích-ca Mâu-ni) — "Trí giả của dòng dõi Thích-ca".
(Tương truyền có một vị Phạm Thiên là Sahampati đã thỉnh cầu Siddhārtha hoằng dương chánh pháp, trong thời xa xưa, tiền kiếp của vị Phạm Thiên này là bạn của Jotipala - tiền kiếp của Siddhārtha vào đời Phật Ca Diếp).
V. THÀNH LẬP TĂNG ĐOÀN VÀ TRUYỀN BÁ
GIÁO LÝ.
Trong
suốt 49 ngày sau khi đắc đạo, Phật chỉ thiền định, không ăn uống. Đến ngày từ
49, có hai thương gia người Miến Điện tên Tapassu và Bhallika từ
Ukkala (hiện nay là Orissa) đến. Hai thương gia sửa soạn bột rang và mật ong
rồi đến trước Phật rồi cung kính dâng lên. Phật nhận lãnh rồi khuyên 2 thương
gia quy y Phật và quy y Pháp, thọ trì năm giới để được phước báo lâu dài. Hai
thương gia đồng ý, xin Phật thu nhận vào hàng thiện tín (Upāsaka, nam cư sĩ).
Đó là hai thiện tín đầu tiên đã quy y Nhị Bảo (Phật và Pháp, khi đó chưa có
Tăng).
Sau
khi đã được Đức Phật ban pháp quy y và truyền năm giới (không sát sanh, không
trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu, không nói dối), hai vị thương gia xin
ông ít vật lưu niệm để luôn luôn tưởng nhớ đến ông. Đức Phật tặng cho hai vị 8
sợi tóc và móng tay, rồi ban lời tiên tri: "Các ông vậy là có đại
nhân duyên. Mấy sợi tóc của Như Lai không phải đơn giản. Sau này, lúc Như Lai
nhập diệt rồi, ở xứ các ông sẽ thịnh hành giáo pháp diệt khổ nhiều ngàn
năm". Hai vị cung kính nhận lãnh, lạy tạ rồi mang về Miến Điện xây
tháp thờ. Hiện nay, Phật giáo là quốc giáo của Miến Điện, 8 sợi tóc bảo
vật này vẫn còn được giữ gìn cẩn thận trong bảo tháp của chùa Shwedagon tại thủ đô Rangoon (Ngưỡng
Quang) của Miến Điện, được người Myanmar xem là quốc bảo.
Sau khi giác ngộ, Phật có ý định gặp 2 vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta để truyền đạo, bởi 2 người đều là bậc tu sĩ đã đạt cảnh giới thiền rất cao, không còn bị che mắt bởi dục lạc. Nhưng cả hai vị đều đã qua đời cách đó ít lâu.
Ông
quyết định tới gặp năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai
gần Benarès và truyền dạy giáo lý của mình cho họ. Tất cả năm
vị sau đó đều trở thành A-la-hán.
Sự kiện này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau khi Tất-đạt-đa
thành đạo. Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, ông đề xướng con đường Trung đạo,
một sự bác bỏ đối với hai thái cực khác nhau của các học thuyết của Ấn Độ thời
đó:
“ Này các tỳ khưu, đây là hai cực đoan mà bậc xuất gia không nên thực hành: Đây là sự say đắm về dục lạc trong các dục, kém cỏi, thô thiển, tầm thường, không cao thượng, không đem lại lợi ích, và đây là sự gắn bó với việc hành hạ bản thân, đau khổ, không cao thượng, không đem lại lợi ích. Này các tỳ khưu, sau khi không tiếp cận cả hai cực đoan ấy, lối thực hành trung hòa đã được đức Như lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn. Này các tỳ khưu, lối thực hành trung hòa ấy đã được đức Như lai tự mình giác ngộ khiến cho mắt được thấy, khiến cho trí được sáng, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, hoàn toàn giác ngộ, Niết Bàn là thế nào? Đó chính là Thánh Đạo Tám Chi Phần tức là sự hiểu biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nuôi mạng chân chánh, tinh tấn chân chánh, ghi nhớ chân chánh, định tâm chân chánh… ”
— Phật Thích-Ca
Ông hay lưu trú tại Vương-xá (zh. 王舍城, sa. rājagṛha), Xá-vệ (zh. 舍衛城, sa. sāvatthī) và Phệ-xá-li (zh. 吠舍釐, sa. vaiśālī), sống bằng khất thực, không nhà ở cố định. Thông qua những lời dạy của mình về chân lý cuộc đời, Tất-đạt-đa đã dần dần gây dựng được một đội ngũ đệ tử lớn gồm 4 thành phần: tỳ-kheo (nam tu sĩ), tỳ-kheo-ni (nữ tu sĩ), ưu-bà-tắc (nam cư sĩ), ưu-bà-di (nữ cư sĩ). Trong hàng đệ tử tại gia của ông có những nhân vật quyền thế như vua Tần-bà-sa-la (zh. 頻婆娑羅, sa. bimbisāra) và vương hậu Vi-đề-hi (Vaideli) của xứ Ma-kiệt-đà, vua Ba-tư-nặc và vương hậu Mạt-lợi (Mallika) nước Kiều-tát-la. Chính Vua Tần-bà-sa-la đã dâng cung cho Tăng đoàn ngôi tu viện đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, đó là Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana) tại kinh đô Vương-xá. Ngoài ra trưởng giả Cấp Cô Độc, một thương gia giàu có ở kinh thành Xá-vệ, cũng cúng dường cho giáo đoàn của Phật Thích-ca cũng được một ngôi tịnh xá trong khu vườn của Thái tử Kỳ-đà tại Xá-vệ, được kinh điển gọi là tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana).
Kinh
Phật cho biết Cấp Cô Độc đã lót vàng khắp sân vườn để mua lại nó từ tay Thái tử
Kỳ-đà, con trai quốc vương Ba-tư-nặc. Các đệ tử quan trọng của ông là A-nan-đà, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha-ca-diếp, A-na-luật và Phú-lâu-na. Cũng trong thời gian này,
đoàn Tỉ-khâu-ni (sa. bhikṣuṇī)
được thành lập do di mẫu của Tất-đạt-đa là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề làm ni trưởng.
Cuộc
đời ông cũng gặp nhiều người xấu muốn ám hại. Trong số đó, có Đề-bà-đạt-đa là người em họ, muốn giành
quyền thống lĩnh Tăng-già,
nên rắp tâm tìm cách giết hại ông nhiều lần nhưng không thành. Tuy thế Đề-bà-đạt-đa đã chia rẽ được một số thành
viên khỏi Tăng-già ở Phệ-xá-li. Tất-đạt-đa đi con đường trung đạo và tùy thuận
chúng sinh, ngược lại Đề-bà-đạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh cực đoan.
VI. QUÁ TRÌNH HÀNH ĐẠO
A. Bài pháp đầu tiên - ngôi Tam
bảo được hình thành - sự khởi đầu của Giáo hội Phật giáo
Sau khi quyết định truyền bá đạo
lý cứu khổ cho muôn loài, Đức Phật dùng tuệ
nhãn quan sát thế gian xem ai là người có cơ duyên để hóa
độ trước, và Ngài nghĩ ngay đến hai vị thầy cũ của mình là Alara Kàlama
(A-la-ra Ka-la-ma) và Uddaka Ramaputta (Uất Đầu Lam Phất) , nhưng cả hai đã qua
đời cách đó không lâu. Đức Thế Tôn nghĩ đến năm người bạn đồng
tu khổ hạnh đã rời bỏ Ngài trước kia, đang ở tại vườn
Nai (Lộc Uyển) - Benares (Ba La Nại) và lên đường đi đến đó.
1)- Bài pháp đầu tiên:
Tại đây, bài pháp đầu tiên, bài giảng
về Tứ diệu đế (Tứ thánh đế) được Đức Thế Tôn chỉ
bày rõ ràng. Nghe xong, Tôn giả Kodanna (Kiều Trần
Như) chứng quả Tu Đà Hoàn.
Đức Thế Tôn đã thu nhận năm Tôn
giả làm các đệ tử xuất gia đầu tiên - và thế là
ngôi Tam bảo (Phật - Pháp - Tăng) đã được hình thành.
Để đánh dấu sự kiện đáng ghi nhớ
này, về sau người ta đã biểu trưng nó với hình ảnh bánh xe với 2 con
nai hai bên. Hai con nai biểu tượng cho địa điểm thuyết
pháp (Lộc Uyển) và bánh xe Dhamma Cakka tức là bánh xe pháp (Pháp luân).
Cả đầu đề bài kinh được giảng là: Dhamma Cakkappavattana, có
nghĩa là Chuyển Pháp Luân (chuyển bánh xe pháp).
2)- Nội dung kinh Chuyển Pháp Luân:
Đức Thế Tôn mở đầu bằng lời
khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một
là đam mê thú vui dục lạc thế gian, vì nó giả
tạm, nhất thời, tầm thường, ngăn cản mọi tiến bộ tâm
linh; cực đoan thứ hai là khổ hạnh ép xác, nó làm mỏi
mệt tinh thần, mê mờ trí tuệ. Và Ngài khuyến tấn họ nên theo con
đường trung đạo dẫn tới một cuộc sống thanh tịnh, trí
tuệ, sáng suốt, giải thoát tối hậu. Đó là con
đường đạo tám nhánh - Bát chánh đạo: 1- Chánh tri kiến:
thấy biết chân chánh. 2- Chánh tư duy: suy nghĩ chân chánh. 3- Chánh
ngữ: nói năng chân chánh. 4- Chánh nghiệp: hành động chân chánh.
5- Chánh mạng: sinh sống chân chánh. 6- Chánh tinh tiến: siêng
năng chân chánh. 7- Chánh niệm: nhớ nghĩ chân chánh. 8- Chánh định:
tập trung tư tưởng chân chánh.
Và Tứ Diệu Đế được Đức
Phật giảng tiếp theo, đó là chân lý về sự Khổ (Khổ
đế), chân lý về nguyên nhân của sự Khổ (Tập đế), chân
lý về sự diệt Khổ (Diệt đế) và chân lý về con
đường diệt Khổ (Đạo đế).
Sau khi nghe Đức Thế Tôn giảng
bài pháp thứ hai có đầu đề Anttalakkhana Sutta bàn về
thuyết Vô ngã (không có cái ta), rằng năm uẩn là vô
thường, nếu ai thoát khỏi tham ái thì ra khỏi tái
sanh, được giải thoát; năm Tôn giả Kodanna (Kiều Trần Như),
Bhadhya (Bạt Đề) , Vappa (Đề Bà) , Mahanama (Ma Ha Nam) và Asaji (Ác
Bệ) lần lượt chứng quả A La Hán.
Bấy giờ là tháng Vesàkha (giữa tháng 4 và 5 dương
lịch), đầu mùa kiết hạ, Giáo hội của Đức Thế Tôn an
cư mùa mưa đầu tiên tại đây.
3)- Giáo hóa Yasa (Da Xá):
Gần Benarès, có con trai của một người triệu phú
tên là Yasa. Chán cuộc đời xa hoa phú quý tầm thường vô
vị của thế gian, chàng tìm đến Đức Phật; sau khi nghe
pháp đã xin xuất gia và chẳng bao lâu chứng
quả vị A La Hán. Cha của Yasa trên đường đi tìm con cũng
đến vườn Nai thính pháp và xin quy y. Ông trở thành đệ
tử tại gia đầu tiên của Đức Phật. Tại nhà của Yasa, mẹ và vợ của
chàng cũng quy y Tam bảo. Bốn người bạn thân của Yasa là Vimàla
(Tỳ Ma La), Subhàhu (Tu Bà Hầu), Punnaji (Phú Lan Ca Na) và Gavàmpati (Già
Bà Bạt Đế) cũng như hơn 50 bạn khác từ các gia đình và địa
phương gần xa nghe tin Yasa xuất gia, cũng lạy cha mẹ, từ
giã gia đình xin theo chân Đức Phật, và sau một thời
gian đều đắc Thánh quả.
4)- Đoàn Tăng sĩ thuyết pháp đầu
tiên:
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đã có 60
người đệ tử đều là A La Hán. Ngài quyết định đưa họ đi
khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Ngài
đã động viên, kêu gọi các đệ tử rằng: «Hỡi các Tỳ kheo! Như
Lai đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế
gian và xuất thế gian, các ông cũng vậy... Này các Tỳ kheo, hãy
đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì
lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh
phúc của trời và người. Các ông hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một
hướng, hãy đi mỗi người một ngả, hãy truyền bá chánh pháp. Này
các Tỳ kheo, chánh pháp toàn thiện ở phần đầu, phần giữa
cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn. Hãy tuyên
bố về cuộc sống toàn thiện và thanh tịnh... Chính Như
Lai cũng đi, Như lai sẽ đi về hướng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) ở
Sanànigàma để hoằng dương giáo pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện
trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu, hãy mang lại sự tốt
đẹp cho người khác; được vậy, là các ông đã hoàn tất nhiệm
vụ« (Mahavagga - Đại Phẩm 19, 20).
Đức Phật không khuyên tất cả mọi
người nên rời bỏ đời sống gia đình để xuất
gia, trở thành người sống không nhà cửa, không tài sản, sự
nghiệp. Một người cư sĩ cũng có thể sống đời cao đẹp thích
ứng với giáo pháp và đắc quả Thánh. Cha
mẹ và vợ của Yasa là những người tu tại gia đầu tiên
bước theo dấu chân của Đức Phật, tất cả đều tiến
triển đầy đủ về tinh thần và thành tựu đạo quả Tu
Đà Hoàn.
Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật và 60 người học trò chứng quả A La Hán tổ chức thành một Tăng đoàn những tu sĩ khất thực, không có trụ xứ nhất định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và một bình bát để khất thực nuôi thân. Trong mưa nắng, trong sương gió, làng mạc hay phố thị, rừng núi hay đồng hoang đều có dấu chân của những con người thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và đời sống thánh hạnh, và tự mình nêu gương sáng về cuộc sống thanh tịnh và giải thoát. Đó là sự nghiệp, là nội dung chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên do Đức Thế Tôn đích thân thành lập và chỉ đạo.
Có thể nói, đây là sự khởi đầu của Giáo hội
Phật giáo.
B. Hóa độ rộng lớn và cùng khắp.
Sứ mạng hóa độ - con đường giáo
hóa của Đức Thế Tôn thật vô cùng nặng nề và khó khăn,
nhưng với lòng bi mẫn rộng sâu, tinh thần bình đẳng triệt
để và một ý chí dũng mãnh vô song, Đức Thế Tôn đã tùy
theo căn cơ của mọi người mà dùng nhiều phương tiện
thiện xảo giáo hóa, như một bậc y vương đã tùy bệnh mà cho
thuốc, đã hoàn thành sứ mạng thiêng liêng một
cách viên mãn và đã đề ra một con đường giáo
dục thật mới lạ trong lịch sử nhân loại.
1)- Cảm hóa ba anh em ông Kassapa (Ca
Diếp) - giáo chủ thần lửa:
Sau khi 60 vị Tỳ kheo mỗi người đi về một
hướng, Đức Thế Tôn cũng đi về hướng Uruvela. Dọc đường, trong
một khu rừng nhỏ, Đức Phật đã hóa độ cho 30 thanh niên
đang vui đùa cùng vợ của họ và một kỹ nữ ở trong rừng.
Gần Uruvela có ba anh em Kassapa: Uruvela Kassapa
(Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp) , Nadi Kassapa (Na Đề Ca Diếp) và Gaya Kassapa (Già Da
Ca Diếp). Ba anh em ông là những người có danh vọng lớn ở
Magadha, đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa, ông này
thờ thần lửa và tự cho mình đã chứng quả A La Hán. Trọ qua đêm và
bị cố ý thu xếp cho ở căn phòng thờ thần lửa có một con rắn chúa
rất độc và dữ tợn, Đức Phật đã hàng phục con rắn
thiêng này, ngoài suy nghĩ của ông Uruvela Kassapa. Tin rằng
chính Đức Phật là người đã chứng quả Thánh, chứ không phải
là mình, ba anh em ông Kassapa và 1.000 đệ tử đều xin xuất
gia theo Phật.
Sau đó, Đức Phật đã đến Gàya Sirà
(rừng Thệ Đa) cách Uruvela không xa lắm. Chính nơi đây, Đức Thế
Tôn đã thuyết giảng kinh Adittapariyàya Sutta (bài
kinh với chủ đề: Thế gian là tòa nhà cháy rực bằng ngọn lửa
tham, sân, si, sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ
não và thất vọng). Các Tỳ kheo có mặt đều đắc
quả A La Hán.
Khi vừa thoát ly gia đình để tầm
đạo, Đức Phật có lúc đã ngụ tại Pàndavapabbata. Vua Bimbisàra (Tần Bà
Sa La - Bình Sa Vương) lấy làm cảm kích trước tướng mạo oai
nghi và tư cách trang nghiêm, sang trọng, khiêm tốn, đã cho
người dò hỏi lai lịch. Sau khi biết được chí nguyện của
vị Thái tử đầy hùng tâm này, đức Vua xin Ngài hãy trở
lại viếng thăm vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) do vua cai trị,
khi chứng đạo quả.
Nhớ lời hứa xưa, Đức Thế
Tôn cùng trên 1.000 đệ tử A La Hán từ Gàya đến Ràjagaha
(Vương Xá) , thủ phủ của vương quốc Magadha giàu mạnh. Và tại đây, Vua
Bimbisàra hiểu được giáo pháp cao diệu liền chứng Sơ quả và
xin quy y Tam bảo, cùng dâng cúng tinh xá rộng lớn có tên là
Veluvanàràma (Trúc Lâm tinh xá) gần thành Ràjagaha. Có thể coi đây là tự
viện đầu tiên ra đời, và Vua Bimbisàra là vị thí chủ đầu tiên
trong hàng vua chúa. Tại tinh xá yên tĩnh này, Đức Phật và đại
chúng đã nhập hạ một lần 3 năm liên tiếp và 3 hạ
khác, xa cách nhau.
2)- Thâu nhận Sàriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallàna
(Mục Kiền Liên):
Gần Ràjagaha có một làng tên Upatissa, còn có tên
là Nàlaka, Sàriputta - một chàng trai thông minh - là người ở làng
này. Vì xuất thân ở một gia đình quyền quý nhất làng,
nên chàng còn được gọi là Upatissa.
Cùng với người bạn thân ở làng Kolita tên
gọi Moggallàna, có chung một nhận thức rằng tất cả những thú
vui vật chất đều tạm bợ, trống rỗng và vô vị. Hai chàng
trai quyết định từ bỏ gia đình, lang thang đi tìm chân
lý và thọ giáo với đạo sĩ Sàsajaya, người có rất
nhiều đồ đệ. Nhưng do không thỏa mãn với giáo lý của
vị thầy hữu danh này và sau đó là nhiều đạo sĩ khác, cả hai chia tay
nhau và thề hẹn rằng: Nếu ai tìm ra con đường đạo giải
thoát trước, sẽ cho người kia hay.
Trong một dịp bất ngờ, ngài Sàriputta đã xúc
động mạnh trước phong thái giải thoát, trầm tĩnh, siêu
phàm đang đi trì bình một cách thong dong để giáo
hóa mọi người ở thành Ràjagaha của ngài Assaji (Ác
Bệ hay Mã Thắng hoặc Thuyết Thị). Cho rằng đây hẳn là
bậc A La Hán, hay cũng là người đang trên con đường dẫn đến
đạo giác ngộ, Sàriputta đã đợi cơ hội và liền đảnh lễ, thưa hỏi:
«Kính bạch Tôn giả! Các căn của Ngài thật bình thản, an tịnh. Màu da của
Ngài thật trong sáng. Vì sao Ngài thoát ly thế tục? Ai
là đạo sư của Ngài? Giáo lý của Ngài là gì?«.
Trước những câu hỏi chân thật, khiêm tốn và sự
khẩn khoản yêu cầu của Sàriputta, ngài Assaji đã đọc tóm
tắt giáo lý mà Ngài đã học ở Đức Thế Tôn bằng bài
kệ: «Các pháp do nhân duyên sanh, Duyên ấy Như Lai đã chỉ
rõ, Và dạy phương tiện để chấm dứt, Đó là giáo
pháp của bậc Đại Sa môn«.
Là người thông tuệ và trí óc
đã thuần thục để thấu triệt chơn lý sâu xa, dù nó chỉ
được gợi ra một cách vắn tắt, Sàriputta đã chứng Sơ
quả (Sotàpayti - Tu Đà Hoàn) khi vừa nghe hai câu đầu.
Theo lời giao hẹn, Sàriputta liền thông tin
cho bạn thân. Moggallàna cũng đã chứng Sơ quả. Do lời tha
thiết yêu cầu của cả hai, Đức Phật đã nhận hai ông
vào Tăng đoàn tại tinh xá Veluvana với câu nói đơn
giản: «Etha, Bhikkhave! (Hãy đến đây, các Tỳ kheo!). Nửa tháng sau,
Sàriputta chứng quả A La Hán, nhân nghe bài kinh Vedanà
Pariggha mà Đức Phật giảng cho đạo sĩ Dìghnakha (Trường
Trảo). Ngài Moggallàna đã chứng quả ấy trước đó một tuần.
Với cơ duyên lớn, Đức
Phật đã triệu tập Tăng chúng và tuyên bố hai vị
là Thượng thủ trong Tăng đoàn.
Từ đấy, hai Ngài thường thay mặt Thế
Tôn để hướng dẫn Tăng chúng. Đây là thời điểm đánh dấu sự
phát triển lớn mạnh của Giáo hội Phật giáo, dưới sự lãnh
đạo của Đức Thế Tôn.
C. Đức Phật và thân quyến.
1)- Vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương):
Hay tin người con yêu dấu trí
tuệ đã thành đạo và đang thuyết pháp giáo hóa nổi
danh tại Ràjagaha, đức Vua Suddhodana nóng lòng gặp mặt, liền
tức tốc sai nhiều sứ giả đến thỉnh Đức Phật về
Kapilavatthu. Nhưng chín lần ra đi là chín lần sứ giả đều ở
xin xuất gia với Đức Phật. Vị sứ giả thứ mười là
Kàludàyi (Ca Lưu Đà Di), vốn là bạn thân của Đức Phật khi
còn là Thái tử, đến nơi nghe pháp cũng xin xuất gia và
cũng chứng Thánh quả như những vị sứ giả trước, nhưng ông
Kàludàyi đã chuyển đến Đức Phật lời yêu cầu được gặp mặt
của vị vua già yếu.
Sau hai tháng, Đức Thế Tôn và đại
chúng đã về đến Kapilavatthu. Trước đạo phong của Đức Phật,
Vua Suddhodana đã cúi đầu kính lễ lần thứ ba. Và sau khi Đức Thế
Tôn thuyết pháp lần thứ nhất, đức Vua đã chứng Sơ quả, và đạt
quả thứ hai (Sakkadagami - Tư Đà Hàm) khi nghe bài pháp kế tiếp.
Lần thứ ba, khi nghe bài pháp có tên Dhammapala Jàtaka (Trì Pháp Túc Sanh
truyện, số 447), đức Vua đắc quả Anagami (A Na Hàm). Với bài pháp
này, di mẫu Pajapati Gotami đã chứng Sơ quả.
Sau này trên giường bệnh, Vua Suddhodana lại
được Đức Phật về thăm và giảng pháp cho nghe. Đức Vua sau 7
ngày tận hưởng pháp lạc do đắc quả A La Hán, đã băng hà
trong định tĩnh. Năm ấy, Đức Phật ở tuổi 40 và đang an
cư lần thứ năm. Cũng trong hạ thứ năm này, Giáo hội Ni
được thành lập. Và ở hạ thứ bảy, Đức Phật đã lên cung trời
Tusita (Đao Lợi) thuyết pháp độ chư Thiên và Hoàng hậu
Maya.
2)- Yasodhara (Da Du Đà La):
Sau khi Thái tử rời bỏ cung
vàng, Công chúa Yasodhara cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc y vàng của
người tu sĩ, và trong khoảng 6 năm trường, đã thủy chung,
tận tình nuôi dạy đứa con độc nhất Ràhula đến tuổi lớn khôn.
Nghe vua cha tán dương đức hạnh của
nàng dâu, Đức Thế Tôn đã giảng kinh Candakinnara Jàtaka và
nói thêm rằng: «Không phải chỉ kiếp cuối cùng này, mà trong
những tiền kiếp, Công chúa cũng đã từng bảo vệ, kính mộ
và thủy chung với Như Lai«.
Sau khi Vua Suddhodana qua đời, di
mẫu Pajapati xuất gia làm Tỳ kheo ni, Công
chúa cũng được xuất gia và đắc quả A La Hán sau
đó. Trong hàng Ni chúng, Công chúa là người có thần
thông bậc nhất. Bà nhập Niết bàn năm 78 tuổi. Trong kinh Apadana
còn ghi lại những câu kệ do bà giảng thuyết.
3)- Ràhula (La Hầu La):
Ràhula sinh ra đúng ngày mà Thái tử quyết
định thoát ly thế tục. Cậu bé trưởng thành trong cảnh không
cha, được ông nội và mẹ nuôi dưỡng. Khi lên bảy tuổi, cũng đúng vào ngày
thứ 7 Đức Thế Tôn lưu lại quê nhà, Ràhula luôn luôn quấn quýt
bên chân Đức Phật, nũng nịu đòi gia tài như lời mẹ dặn. Đức
Phật quyết định giao «Thất thánh tài« (1) cho cậu bé bằng
cách nhận cậu vào Tăng đoàn và giao cho ngài Sariputta dạy dỗ.
Thật khó tưởng tượng một cậu bé lên bảy có thể
sống đời sống cao thượng của bậc xuất trần thượng sĩ.
Nhưng Sa di Ràhula vừa thông minh đặc biệt, vừa biết vâng
lời chuyên cần tu học. Kinh ghi rằng mỗi sáng, vị Sa di trẻ
này dậy thật sớm, bốc một nắm cát tung lên và nguyện: «Mong rằng ngày
hôm nay ta học được nhiều như bao nhiêu cát đây...«.
Một trong những bài kinh nổi
tiếng mà Đức Phật đích thân dạy cho Ràhula là bài Ambalatthika
Rahulovada Sutta (kinh Giáo Giới La Hầu La), nhấn mạnh về
tầm quan trọng của sự chân thật, phương pháp phản
tỉnh để diệt trừ mọi ý niệm, lời nói, hành
động bất thiện.
Năm lên 18 tuổi, một lần cùng Đức
Phật đi khất thực, phong độ và oai nghi quý
phái của hai vị tu sĩ xem tựa như thớt ngự tượng dõng
dạc cùng đi với tượng con ngoan hiền, như thiên nga của vua dắt
con lội trên mặt hồ trong ngự uyển, như hổ chúa oai phong cùng hùm con lẫm
liệt. Cả hai Ngài đều có thân hình vô cùng đẹp đẽ, cả hai đều
thuộc dòng dõi quý tộc từ khước ngai vàng cất bước
ra đi. Trong lúc chiêm ngưỡng Thế Tôn, Ràhula nảy lên ý
niệm nghĩ về thân hình đẹp đẽ của mình và Đức Phật.
Biết được ý tưởng đó, Đức Thế Tôn đã nói bài
kệ bất hủ «N’etam mama (cái này không phải của ta); N’eso’ham’asmi (cái
này không phải là ta); Na me so attà (cái này không phải tự ngã của ta)« -
xem Anattalakkhana Sutta, bài II.
Và sau khi nghe kinh Cùla Ràhulovàda Sutta,
Ràhula chứng quả A La Hán. Ngài nhập diệt trước cả Đức
Phật và ngài Sàriputta. Ngài nổi tiếng là người tôn
trọng kỷ luật. Bạn bè thân gọi Ngài « Ràhula may mắn«, vì đời Ngài có được
hai diễm phúc: là con của Đức Phật và chứng ngộ được
chơn lý; như trong kinh Theragàthà (Trưởng Lão Tăng Kệ), Ngài đã đề cập đến
điều ấy.
4)- Ananda (A Nan):
Con của Hoàng thân Amitodana, em trai Vua
Suddhodana, Ananda là anh em chú bác với Đức Phật. Ông sanh ra mang lại
niềm hoan hỷ cho hoàng tộc, nên được đặt tên là Ananda (Khánh
Hỷ). Hai năm sau khi Phật thành đạo, ông xuất gia cùng với các
thanh niên của dòng họ Sakya là Anurudha (A Nâu Lâu Đà), Baddhiya (Ba
Đề), Bhagu (Ba Gu), Kimbala (Kim Tỳ La) và Devadatta (Đề Bà Đạt Đa). Không bao
lâu, ông chứng Sơ quả khi nghe bài pháp của Đại đức Puna
Mantàniputta (Phú Lâu Na Mãn Từ Tử). Năm Đức Thế Tôn 55 tuổi,
với 8 điều thỉnh cầu mà ông đưa ra là: 1- Đức
Phật không ban cho Ngài những bộ y mà thiện tín dâng
cho Đức Phật; 2- Không ban cho Ngài những vật thực
mà thiện tín dâng cho Đức Phật; 3- Cho
phép không ở chung tịnh thất với Đức Phật;
4- Không cho phép Ngài đi theo đến nơi thí
chủ chỉ thỉnh Đức Phật; 5- Đức Phật hoan hỷ đến nơi
mà thí chủ chỉ thỉnh Ngài đến; 6- Hoan hỷ cho
phép Ngài tiếp dẫn những người từ phương xa đến ra mắt Phật;
7- Hoan hỷ cho Ngài thưa hỏi mỗi khi có điều hoài nghi;
8- Hoan hỷ giảng lại bài pháp mà Đức Phật giảng khi Ngài
không có mặt.
Được Đức Phật chấp thuận với ý
nghĩa của nó, và giữa đại chúng, ông được cử làm thị
giả Đức Thế Tôn suốt 25 năm trường sau đó. Ông làm công việc của mình
thật tận tụy. Kinh ghi rằng, đêm đêm Đại đức Ananda tay cầm gậy, tay
cầm đuốc đi chung quanh tịnh thất của Đức Phật 9 lần, để
Ngài khỏi bị quấy rầy.
Tôn giả Ananda có một trí nhớ tốt lạ
lùng: ông ghi nhớ không bỏ sót tất cả các bài pháp của Đức Phật,
cũng như của một số các đệ tử lớn của Ngài, mà ông được nghe qua. Khi
có một Bà La Môn hỏi Tôn giả nhớ được bao nhiêu bài
kinh, Tôn giả trả lời là được 82.000 bài của Đức
Phật và 2.000 bài của các Tôn giả khác thuyết.
Đức Phật đã tán thán 5 đức
hạnh của Tôn giả Ananda là học uyên bác, trí
nhớ tuyệt hảo, kiên định, săn sóc chu đáo và ứng xử tốt.
Mãi sau khi Đức Thế Tôn nhập
diệt, Tôn giả Ananda mới chứng quả A La Hán, trước một
ngày Đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất xảy ra, trong
khi nghiêng mình nằm xuống. Kinh sách ghi rằng, Ngài là vị A La
Hán độc nhất đắc quả ngoài lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Tôn
giả mất năm 120 tuổi.
D. Di mẫu Maha Majàpati Gotami xuất gia - Giáo hội Ni giới ra đời.
Được gọi là Maha Pajàpati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề) bởi
vì các nhà tiên tri thời bấy giờ cho rằng về sau bà sẽ cầm đầu một đám
đông người. Con trai bà là Nandà (Nan Đà), em một cha khác mẹ với Thái
tử Siddhattha, cũng được Đức Thế Tôn độ cho xuất
gia khi chàng trai này đang tổ chức 3 đại lễ quan trọng: kết
hôn, phong tước và khánh thành cung điện mới.
Tuy công bố rằng nữ giới cũng
có thể chứng 4 Thánh quả (bà Maha Pajàpati đã chứng Sơ quả, như
đã nói ở trước), nhưng con đường tu hành sống không gia đình,
khép mình vào khuôn khổ của giáo pháp và giới luật, cũng
như sứ mạng hoằng hóa độ sanh thật lắm gian nan, khó
nhọc. Với bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, phụ
nữ khó đảm đương nổi trách nhiệm thiêng liêng, cao cả
lẫn nặng nề của một sứ giả Như Lai. Vì thế mà sau khi Vua Suddhodana băng
hà, di mẫu dù ba lần bạch xin xuất gia, Đức Thế
Tôn vẫn từ chối không nêu lý do.
Mãi đến khi bà cùng nhiều mệnh phụ phu
nhân của dòng Sakya (Thích Ca) xuống tóc, đắp y vàng, đi bộ từ
Kapilavatthu đến Vesàli (Tỳ Xá Ly), đoạn đường gian khổ dài khoảng 200 cây số,
đôi chân sưng phồng, thân thể lấm lem cát bụi, đến bên tinh
xá Đức Phật khóc than. Và chính nhờ Tôn giả Ananda thay mặt
họ vào cầu thỉnh Đức Thế Tôn đến lần thứ tư, Ngài mới chấp
thuận cho di mẫu cùng các bà được sống đời sống xuất
gia, với điều kiện phải chấp hành 8 điều quy định cho một
người nữ trong Tăng đoàn. Khi nghe Ananda thuật lại 8 điều ấy, bà Maha
Pajàpati cùng các vị trong đoàn đều hoan hỷ đồng ý, và thế
là Giáo hội Ni giới được thành lập.
Khi ưng thuận cho Ni
giới được gia nhập vào Giáo hội, Đức Phật cũng
đã lưu ý đại chúng nhiều vấn đề. Ngài dạy rằng: «Này
Ananda, trong ngôi nhà nào nhiều nữ giới và ít đàn ông thì ăn
trộm dễ lọt vào. Cũng dường như thế, nếu hàng phụ nữ sống trong
pháp và luật của Như Lai thì giáo pháp thiêng
liêng khó duy trì lâu. Cũng như người đắp đê bên một hồ nước
rộng lớn cho nước không tràn qua, ta cũng vậy, chế ra Bát kỉnh
pháp cho các Tỳ kheo ni để họ tuân thủ trọn đời«.
Trong một tổ chức xã hội quy mô nào, ta
cũng thấy vì tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của một
giới, một đối tượng cá biệt nào đó, mà ở trong những nguyên tắc sống,
làm việc luôn có những khoản ưu tiên dành riêng cho họ.
Đức Phật đã không làm giảm suy giá
trị của hàng phụ nữ, mà còn là vị giáo chủ đầu
tiên trong lịch sử nhân loại đã thành lập một đoàn
thể, một tổ chức, một giáo hội cho nữ giới với đầy đủ pháp
và giới luật. Ấn Độ đương thời với nhiều tôn giáo, nhưng
không có một đoàn thể nữ giới nào được sinh hoạt như vậy.
Ít lâu sau, bà Tỳ kheo ni Maha Pajàpati
đắc A La Hán. Kinh Therigàthà (Trưởng lão Ni kệ) còn ghi rất nhiều tên và
các bài kệ do các Tỳ kheo ni chứng Thánh quả sáng
tác.
E. Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) - Những người chống đối.
Mặc dầu gia công kiến tạo hạnh phúc
giải thoát cho mọi người với một chủ ý tuyệt
đối tinh khiết và hoàn toàn bất vụ lợi, cũng như
không có một sự phân biệt nào giữa giàu nghèo, quyền
quý, mạt hạng, trí thức hay u mê, Đức Phật luôn
phải đương đầu với nhiều sự đối nghịch mãnh liệt trên con đường chu
du hoằng hóa. Ngài bị chỉ trích nghiêm khắc, bị đối xử tàn tệ,
chửi mắng và tấn công một cách tàn bạo. Kẻ đối nghịch là những người theo
các hệ thống tôn giáo chủ trương những nghi thức dị
đoan, tạo ra phong tục vô ích, có hại đến xã hội và ngăn chặn
sự tiến bộ của tinh thần, hoặc là những kẻ có tham
vọng thấp hèn, vị kỷ. Trong ấy, Devadatta là một điển hình lớn nhất.
Ông là con Vua Suppabuddha và Hoàng hậu Pamità, một người cô của Đức Phật; Công chúa Yasodharà là chị ông. Ông xuất gia cùng một lượt với Đại đức Ananda và các thanh niên hoàng tộc Sakya, tuy không chứng quả Thánh nào, nhưng lại giỏi thần thông và được Vua Ajàtasattu (A Xà Thế) ủng hộ tối đa về mọi mặt. Thời gian đầu xuất gia, ông có nếp sống gương mẫu, cao thượng đến độ ngài Sàriputta đã ca ngợi tài đức của ông khắp Pajàgaha. Về sau, danh lợi trần thế đã làm ông thối chuyển, trở nên người sống đồi trụy, tà hạnh, tà kiến; dù vậy, ông có rất đông người ủng hộ. Khi niên thọ Đức Phật đã cao, ông yêu cầu Ngài giao quyền lãnh đạo Tăng già, nhưng Đức Phật đã từ chối. Ông tìm cách xúi giục Thái tử Ajàtasattu giết vua cha là Bimbisàra để nắm toàn quyền bính và cùng âm mưu hãm hại Đức Phật. Sau đó, các xạ thủ được thuê để giết Đức Phật đều được cảm hóa thành đệ tử. Devadatta tự thân ra tay, bằng cách đẩy một tảng đá lớn từ trên sườn núi Gijjhakuta (Linh Thứu) xuống ngay Đức Phật khi Ngài đi ngang qua. May thay, tảng đá ấy va vào một tảng đá khác, vỡ ra nhiều mảnh và chỉ một mảnh vụn làm chân Ngài rỉ máu, và lương y Jìvaka (nhà giải phẫu đại tài của thành Rajàgaha) đã có mặt liền sau đó. Mưu đồ bất thành, Devadatta lại chuốc rượu mạnh cho voi dữ Nàlàgin và xua nó chạy thẳng đến ngay Đức Phật, nhưng voi cũng bị đức từ bi của Thế Tôn cảm hóa.
Dần dần mất hết uy tín, dư
luận lên tiếng mạnh mẽ, Vua Ajàtasattu bỏ rơi, Devadatta chuyển
qua một mưu toan có vẻ hòa bình hơn. Ông nêu ra 5 yêu cầu đối với
sự sinh hoạt của Tăng đoàn, với nội dung rằng: Tỳ
kheo phải sống trọn đời trong rừng, phải sống dưới gốc cây,
mặc vải vụn lượm ở nghĩa địa, sống bằng khất thực và ăn
chay trọn đời. Đức Phật đã đưa ra câu trả
lời rất tự do dân chủ, không bắt buộc một cá nhân nào
phải tuân theo điều ấy.
Cuối đời không còn một ai ủng hộ, Devadatta
rơi vào những ngày đen tối. Lâm bệnh trầm kha, với lòng ăn
năn vô hạn, ông mong muốn được gặp Đức Thế Tôn lần cuối
cùng, nhưng không còn kịp nữa, chỉ thốt ra câu quy y Phật và
trút hơi thở sau cùng.
Tuy có một người đệ tử, một người con như vậy,
nhưng Đức Phật chỉ khuyên can mà không bao giờ chỉ
trích ông. Ngài còn thọ ký rằng, với đạo hạnh ban đầu,
với lòng ăn năn khi hấp hối, Devadatta sẽ trở thành một
vị Độc Giác Phật với danh hiệu Atthissara, ở một tương lai
xa xôi.
F. Những đại hộ pháp.
1)- Anathapindika (Cấp Cô Độc):
Vị thí chủ quan trọng nhất
thời Đức Phật tại tiền phải kể đến là ông Sudatta (Tu Đạt), người
Savatthi (Xá Vệ). Chuyên làm từ thiện xã hội, nuôi
dưỡng chu cấp cho những người quan quả cô đơn, nên ông lại
được mọi người tặng cho danh hiệu Trưởng
giả Anathapindika (Cấp Cô Độc - giúp đỡ, trợ cấp cho những
người cô đơn, hiu quạnh). Một lần có việc, ông đến thành
Ràjagaha, nghe anh rể đang chuẩn bị hôm sau đón Đức Phật quang lâm.
Danh từ Phật - Buddha (người tỉnh giác) khiến ông cảm thấy có
một sự thay đổi lạ lùng trong lòng. «Văn kỳ thinh« đã lâu, nay lại sắp
được «kiến kỳ hình«, nhưng không thể chờ đợi đến ngày mai; như có một chuyện
gì thôi thúc, ngay đêm khuya, ông băng rừng đến nơi Sìtavara ra
mắt Đức Phật và được cảm độ từ ấy.
Với lời thách thức nửa đùa nửa thiệt của Thái
tử Jeta (Kỳ Đà), ông đã đem những đồng tiền vàng lót đầy mặt đất
trong khu vườn của Jeta. Lòng tín thành của ông đã gây được lòng ngưỡng mộ
của Thái tử Jeta đối với Đức Phật. Sau đó, hiệp với những tàng
cây do Jeta cúng, ông xây dựng tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) dâng
lên Đức Phật. Chính nơi đây, Đức Thế Tôn trải qua 19
lần an cư kiết hạ. Phần lớn những bài pháp cũng được hình thành ở
ngôi tinh xá nằm ở Savatthi này, và nó được nhận biết nhờ
qua câu kinh «Xá Vệ, Kỳ thọ, Cấp Cô Độc viên...« (nước Savatthi, cây
của Jeta và vườn ông Anathapindika). Các bài pháp liên quan
đến hàng cư sĩ đều do công của ông thưa hỏi. Trong một bài pháp
nói về hạnh bố thí, Đức Phật đã dạy rằng, cúng dường chỗ
ăn, chỗ ở của chư Tăng là tạo nhiều công đức; nhưng quy y
Tam bảo có công đức hơn, và cao hơn là nghiêm trì ngũ
giới. Công đức cao hơn giữ giới là thiền
quán và từ bi tâm. Nhưng công đức tối thượng phải
là phát triển tuệ giác, thể nhập chơn như, thấy được thật
tướng của các pháp - Vipassanà (Minh sát tuệ), Tăng Chi IV.
Cũng từ gia đình ông trưởng
giả này, Đức Phật đã giảng bài pháp phân
chia 7 loại vợ trong cuộc sống kiến tạo hạnh phúc gia
đình lứa đôi. Một bài pháp rất tinh tế, thiết thực; một bài
học giáo dục đầy tâm lý cho cả xã hội ngày nay
và mai sau.
2)- Visàkhà:
Vị nữ thí chủ lớn nhất phải đề cập đến
đầu tiên là bà Visàkhà, con gái triệu phú Dhananjaya và bà Summanà Devi; ông
nội bà cũng là triệu phú tên Mendaka. Bà xây cúng tinh xá Pubbasama,
cũng ở Savatthi (6 mùa an cư đã diễn ra ở đây). Là người phụ
nữ được 5 điều diễm phúc: tóc, da, xương, vóc dáng và sức
khỏe tuyệt hảo, bà còn là người công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn, sáng
suốt trong công việc thế gian cũng như trong phạm
vi tinh thần đạo đức. Bà Visàkhà đóng một phần quan trọng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau liên quan đến sinh hoạt Tăng đoàn. Có lần
Phật dạy bà đi hòa giải những mối bất đồng giữa các Tỳ kheo ni.
Đôi lúc bà thỉnh cầu Đức Phật khai chế một vài giới
cấm cho Tăng Ni.
Cha chồng bà là triệu phú Migàra, vốn là tín
đồ thuần thành của Nigantha Nataputta (Ni Kiền Tử Nhã Đề
Tử), giáo chủ đạo Jain - đạo Lõa thể. Bà đã khuyến dụ cả gia
đình bên chồng quy y Tam bảo và nhiều người đã chứng quả.
Bà qua đời khi đã thọ 120 tuổi.
3)- Vua Pasenadi (Ba Tư Nặc):
Ngài đại vương Bimbisàra như đã nói đến ở
phần trước, và người con kế vị là Vua Ajàtasattu, sau khi cải ác
tùng thiện đã trở nên một vị đại hộ pháp, một thiện tín lỗi
lạc, có công hỗ trợ mọi mặt cho cuộc kết tập Tam tạng lần I. Một đại
thí chủ nữa trong hàng vua chúa phải kể đến là Vua Pasenadi, trị vì xứ
Kosala (Kiều Tát La), có thủ phủ là Savatthi (Xá Vệ). Tu
viện Rajakamara là do vua cho xây cúng lên Đức Phật và đại
tăng. Hoàng hậu Malika, vợ của vua, là người khéo hướng dẫn phu
quân của mình trên con đường đạo đức, quy y Tam bảo. Bà đã
khuyên vua nên tham vấn với Đức Phật để hiểu
ý nghĩa 16 cơn mộng hơn là giết hại nhiều sinh mạng để tế lễ cầu
an theo lời các đạo sĩ Bà La Môn.
Samyutta Nikaya (kinh Tương Ưng) có trọn một
chương mang tựa là Kosala Samyutta, là chương Đức Phật giảng cho vua
nghe. Trong những bài pháp ấy, có những ý được nhấn mạnh như:
1- Đánh giá một người không phải là chuyện đơn giản; 2- Nên coi
trọng phụ nữ như coi trọng nam giới - Itthì hi’pi ekacciyà seyyà
(Trong hàng phụ nữ, có người còn tốt hơn nam giới). Với xã
hội Ấn Độ thời ấy, phụ nữ không bao giờ được kính nể xứng
đáng, lời nói cao quý của Đức Phật thật là một khích lệ lớn
lao cho nữ giới; 3- Không nên coi thường giới trẻ (như Thái
tử còn trẻ, con rắn còn bé, ngọn lửa nhỏ và Tỳ kheo trẻ); tất cả
đều có thể trở thành quan trọng, ý nghĩa sau này; 4- Chiến
thắng nuôi dưỡng hận thù:
Thắng
trận sanh thù oán
Bại trận niệm khổ đau
Ai bỏ thắng bỏ bại
Tịch tĩnh hưởng an lạc (Tương Ưng VII)
G. Độ những người cùng đinh, mạt hạng
Đạo từ bi giải thoát mở
rộng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu
sang và đẳng cấp xã hội. Một sát nhân như Angulimàla, một dâm
nữ như Ambapali, nếu quay về với con đường đạo cũng có
thể chứng Thánh quả, như kinh đã ghi lại như sau:
1)- Angulimàla (Vô Não):
Có tên là Ahimsaka (người vô tội), con của
một quốc sư xứ Kosala, và là một đệ tử lỗi lạc, thân
tín của một danh sư ở Trung tâm Giáo
dục Taxila nổi tiếng, nhưng do vì lòng ganh
tỵ của đồng môn khiến thầy dạy đã hiểu lầm ông và buộc
ông phải dâng lên 1.000 ngón tay út để làm lễ cầu pháp.
Ông trở nên là một hiểm họa, một bóng đen thần chết
bao trùm lên đất nước Kosala. Sợ quạ ăn những ngón tay kiếm được, ông đành đeo
vào cổ nên có hỗn danh là Angulimàla (vòng hoa bằng ngón tay). Đức
Phật là người thứ 1.000 mà ông định sát hại để tròn đủ vòng
hoa mà ông thầy yêu cầu. Ông như bừng cơn mơ sát nhân hãi
hùng khi nghe người ông đang cố sức rượt đuổi mà không sao đến
gần được, thốt lên rằng: «Này Angulimàla, chính ngươi mới phải dừng lại,
còn Như Lai đã dừng lại lâu rồi«. Ông quăng dao tội lỗi và
được xuất gia bởi nhân duyên đó. Bởi tội ác gây
ra, ông trở thành một Tỳ kheo luôn bị chửi bới, đánh đập,
ném đá ở mọi nơi. Với ông, chuyện đầu cổ tay chân mang nhiều thương tích,
máu chảy đầy mình là chuyện cơm bữa. Với tâm ăn năn sám hối cùng
với sự nỗ lực tinh tấn thiền định, ông đắc quả A La
Hán sau đó.
2)- Ambapàli (Liên Hoa Sắc):
Trường hợp kỹ nữ Ambapàli nổi
danh tài sắc của thành Vesali là một điển hình khác của sự hóa
độ vô phân biệt mà Đức Thế Tôn đang làm.
Trên đường đi Kusinara (Câu Thi Na) để nhập
Niết bàn, Đức Phật dừng chân ở vườn xoài của cô gái giang
hồ này. Nghe tin, cô liền đến thỉnh Đức Phật và đại
chúng về nhà để được cúng dường, dù các nhà quý
tộc Licchavi (Lê Xa) đề nghị đền bù cho cô một số tiền rất lớn
để họ có đặc ân làm điều này. Cô phát tâm cúng vườn xoài
cho đại tăng, xin xuất gia; và sau sự gia công chuyên cần,
cô đạt Thánh quả.
«Như cơn gió lốc thổi dồn các thứ lá lại một chỗ,
Đức Cù Đàm giáo hóa tất cả. Trí thức-ngu si, vương giả-bần cùng,
nghèo hèn-giàu sang, già cả-niên thiếu, đàn bà-đàn ông, kẻ ác-người thiện, tất
cả và hết thảy, Đức Cù Đàm đều mang vào giáo
pháp và xem như nhau. Đạo của Đức Cù Đàm là đạo
bình đẳng, không phân biệt vậy« (kinh Đại Báo Ân).
Thật không có lời tán dương nào nói
hết được sự vô biên của lòng từ bi, sự bình
đẳng trong con đường giáo hóa của Đức Bổn Sư.
VII. NHẬP NIẾT BÀN.
Trong
kinh điển Pali, đức Phật Thích Ca tại thế tám mươi
năm. Tuy trải qua suốt phần đời còn lại - 45 năm đi giảng dạy (có tài liệu nói
là 49 năm), nhưng ông lại lưu ý với các đệ tử rằng: Đối với chân
lý, Như Lai chưa từng nói lời nào, Ý
nghĩa của câu này: những gì Như Lai giác ngộ vốn đã là chân lý từ muôn thuở,
tồn tại vĩnh cửu trong khắp các cõi thế gian và vũ trụ, dù có Phật tại
thế hay không, dù chúng sinh có biết và có tin hay không thì chân lý đó vẫn tồn
tại và chi phối vạn vật. Chân lý đó rất vi diệu, không thể dùng lời nói để diễn
tả mà phải tự mình chứng đắc, những lời dạy của Như Lai chỉ là phương tiện để
giúp người tu hành tự mình đạt tới chân lý mà thôi (giống như bức ảnh chụp mặt
trăng sẽ giúp người ta hiểu mặt trăng trông như thế nào, nhưng không thể nói
bức ảnh chính là mặt trăng).
Theo kinh Đại bát-niết-bàn (pi. mahāparinibbāna-sutta), vào mùa mưa năm 80 tuổi, Phật Thích Ca đã dự đoán trước rằng ông sẽ nhập diệt sau 3 tháng nữa. Ông qua đời tại thành phố Câu-thi-na (zh. 拘尸那, sa. Kuṣinagara) của bộ tộc Malla vào năm 544 trước Công nguyên (một số nhà khảo cổ thì cho rằng đó là năm 486 hay 483 trước Công nguyên), địa điểm này được các nhà khảo cổ nhận dạng là Kasia ở quận Deoria của xứ Utta Pradesh ngày nay. Trước đó sức khoẻ của ông đã trở nên rất yếu sau khi dùng bữa cúng dường tại nhà người thợ rèn Thuần-đà (zh. 純陀, pi. cunda), một số kinh sách ghi rằng do nguyên liệu nấu ăn có lẫn nấm độc. Tuy nhiên sau đó Phật đã nhấn mạnh cho tôn giả A-nan-đà hiểu là Tăng chúng không nên khiển trách Thuần-đà bởi ông ta đã có thiện ý tối thượng, còn việc Phật trở bệnh nặng là số mệnh đã được dự đoán từ 3 tháng trước rồi.
Trước khi qua đời, Tất-đạt-đa tạo điều kiện cho các tỳ-kheo cơ hội cuối cùng để chất vấn hay hỏi đáp nếu như có những vấn đề hay những điểm nào còn chưa sáng tỏ có thể đưa đến các kiến giải khác nhau về sau, tuy nhiên các vị này đã im lặng. Lời dạy cuối cùng của ông: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tấn tu học (để đạt giải thoát)!".
Theo
các đệ tử, ông đã nhập Niết-bàn thông
qua các mức thiền định, một trạng thái giải thoát hoàn
toàn khổ đau của cuộc sống.
Trưởng
lão tỷ-kheo Anuruddha (A-nậu-lâu-đà) nói pháp thoại ca ngợi công hạnh của Ðức
Phật Gautama, rồi kết luận:
“Thế
Tôn cũng là một con người như chúng ta, nhưng nhờ phát đại nguyện cứu khổ chúng
sanh, rồi dũng mãnh tinh tấn tu Bát Chánh Ðạo, thực tập thiền quán mà trở thành
bậc Ðại Giác, có đầy đủ trí huệ rộng lớn, đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi,
đại hỷ, đại xả, có đầy đủ phương tiện thiện xảo chỉ dạy và hướng dẫn chúng sanh
hết mê được ngộ, thoát khổ được vui, biết phương pháp tu tập để tự giải thoát
khỏi cảnh sanh tử luân hồi, vào cảnh niết-bàn an lạc thanh tịnh. Này các huynh
đệ, để đền đáp ơn Thế Tôn, chúng ta hãy nương theo lời giáo huấn của Thế Tôn và
noi theo gương sáng của Thế Tôn mà tinh tấn tu tập Bát Chánh Ðạo, cố đạt cho kỳ
được mục tiêu giải thoát.”
(Tương truyền rằng trong buổi trà tỳ kim thân Phật có nhiều hiện tượng lạ xảy ra: hoa mạn đà la bay đầy trời (do các chư thiên cúng dường), và người ta không thể thắp ngọn lửa thiêu xác cho tới khi trưởng lão Tỷ-kheo Maha Kassapa (Ma-Ha Ca-Diếp, một trong các vị học trò Tối thắng của Phật, người đã được Phật truyền lại y bát) tới nơi để làm lễ).
Mặc
dù cuộc đời Thái tử Tất-đạt-đa có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo
cổ học và nhân chủng học - vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến - cũng đều
nhất trí công nhận ông là một nhân vật lịch sử có thật và là người đã thành lập
ra Phật giáo.
VIII. DI TÍCH XÁ LỢI PHẬT.
Sau
khi qua đời, Xá lợi của
Tất-đạt-đa Cồ-đàm được chia thành 8 phần, gồm: Xứ Magadha (Ma-kiệt-Đà) xây tháp
thờ xá lợi Phật ở Rajagriha, xứ Vajji xây tháp ở Vesali, xứ Sakya xây tháp ở
Mungali, xứ Koliya xây tháp ở Ramagama, xứ Buliya xây tháp ở Allakappa, vị
Bà-la-môn xây tháp thờ ở Vethadipa, xứ Malla nhận hai phần xá lợi, xây một tháp
ở thủ đô Pava và một tháp khác tại Kusinagar. Riêng vị Bà-la-môn Dona xin thỉnh
cái chậu vàng dùng để chia xá lợi, đem về khu vườn nhà mình xây tháp thờ. Sứ
giả xứ Moriya đến trễ, xin thỉnh phần tro còn lại về xây tháp thờ tại thủ-đô
Pipphalivana.
Nhiều
thế kỷ sau đó, vua Ashoka (A-sô-ka) đã tập hợp các xá
lợi, cho xây cất và tôn thờ thành 84.000 tháp.
Trước đây nhiều người không phải tín đồ Phật giáo đã không tin là có xá-lợi Phật, họ cho đó chỉ là huyền thoại. Mãi đến năm 1898, ông W. C. Peppé, người Pháp, tiến hành khảo cổ tại vùng Pīprāvā, phía Nam nước Népal, đã tìm thấy một cái hộp bằng đá khá lớn, trong đó có chứa hai chiếc bình bằng đá và vài dụng cụ bằng đá khác như tách trà. Hai bình đá một lớn một nhỏ đều có chứa những viên xá-lợi. Bình đá nhỏ dạng hình cầu, chia thành hai phần thượng hạ. Nửa phần trên có hình tay cầm, khắc niên đại của vua Ashoka và nội dung của nó như sau: "Đây là xá-lợi của Đức Phật. Phần xá-lợi này do bộ tộc Śākya, nước Śrāvastī phụng thờ". Chiếc bình đã chứng minh nội dung trong kinh Trường A-hàm và rải rác ở những kinh khác về việc phân chia xá-lợi của Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại Ấn Độ sau khi Phật nhập Niết-bàn hoàn toàn là sự thật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét