Thích Châu Viên
Cầu
nguyện là một phương pháp tâm linh giúp chúng ta có
thể tháo gỡ phần nào những nỗi khổ niềm đau, những suy nghĩ bế
tắc, những thái độ tuyệt vọng bị vấp phải trong đời sống
hàng ngày.
Thông
qua con đường cầu nguyện, mỗi cá nhân như được tiếp
thêm năng lượng để làm cho ý chí kiên định và bản
thân có niềm tin hơn vào cuộc sống, khi biết mình đã
có bến đỗ bình yên vào một đấng thần linh nào đó. Có thể nói “cầu
nguyện” là chất liệu không thể thiếu trong đời sống tâm
linh mỗi người, đặc biệt hơn, sinh hoạt đó thường được ứng
dụng như một món ăn tinh thần của tín đồ trong
các tôn giáo.
Trong đạo
Phật, phương pháp cầu nguyện đóng vai trò quan trọng đối
với các vị xuất gia cũng như hàng Phật tử tại gia,
đó là năng lượng với từ trường vô biên, giúp cho hành giả có
thể an tịnh thân tâm và cảm thấy thoải mái, sáng
suốt hơn sau những phút giây cầu nguyện. Cầu nguyện trong Phật
giáo được xem là sợi dây vô hình, có thể thiết lập cầu nối giữa
người cầu nguyện và đối tượng hướng đến trên tinh thần từ
bi và vô ngã.
Tuy
nhiên, câu hỏi người viết muốn nêu ra ở đây là: “Cầu nguyện có
thực sự là con đường cứu cánh để dứt trừ hay tháo gỡ những
khổ đau như: khủng hoảng kinh tế, bạo lực gia đình, tình yêu lận đận, tình
bạn rạn nứt, cầu về một thế giới xa xôi nào đó sau khi chết…?”.
Câu trả lời ở đây chắc chắn là “Không!”, bởi vì cầu
nguyện là một phương pháp chữa bệnh tạm thời, nó chỉ giống như một
liều thuốc an thần giúp cho bệnh nhân giảm đau tức thời. Cầu nguyện giúp
cho chúng ta tạm thời lắng xuống những bất an, sầu muộn,
nhưng gốc rễ về nguyên nhân của khổ vẫn chưa được đoạn trừ. Phương
pháp này cũng giống như lấy đá đè cỏ, cỏ phiền muộn, cỏ bất an sẽ
trỗi dậy khi tảng đá được nhấc lên. Cho nên, mục đích chính yếu của
người tu Phật là biết chuyển hóa gốc rễ khổ đau từ bên
trong chứ không phải từ bên ngoài.
Ngày
nay, rất nhiều người đến lễ Phật với mong ước Đức Phật sẽ
mang lại cho mình nhiều may mắn, tiền tài, nhà cửa hoặc con cái, thực
ra đây là một quan niệm không đúng với tinh thần của Phật
giáo. Việc thờ phượng Đức Phật dưới hình thức một đấng thần
linh, mang đậm tính chất tôn giáo làm chúng ta quên mất
việc quan trọng chính yếu là tự nỗ lực tu tập, hành
đạo, ứng dụng giáo pháp trong đời sống thực tế để giác
ngộ và giải thoát.
Nhiều
người có quan niệm rằng, cầu nguyện là phương pháp có
thể giải trừ hết phiền não, ác nghiệp của họ. Cho nên
cứ đến rằm, ba mươi, mồng một thì người đến chùa làm lễ sám hối thật
đông đúc, họ tụng kinh và lạy sám hối với một ước nguyện là
xin Đức Phật hiển linh, hãy tha thứ tội lỗi cho
con và họ thầm nghĩ rằng hành động bất thiện của mình đã được giải
trừ. Trên thực tế, khi trở về với đời sống gia
đình, họ không tiếc những lời cay đắng dành cho người thân, nói
chuyện thị phi làm tổn thương đến người khác, họ không loại
trừ dùng những thủ đoạn để vì những lợi nhuận kinh tế cá
nhân trước mắt.
Vào
thời Đức Phật, thói quen cầu nguyện của người Ấn Độ chẳng
khác chúng ta bây giờ. “Một lần, có một người Bà-la-môn, tên
Asibandhakaputta đến hỏi Đức Phật rằng: Ngài có thể làm cho một người sau
khi chết được sanh lên cõi thiện lành hay không. Đức Phật hỏi lại
Asibandhakaputta rằng, giả như có một người sống hay giết hại sinh mạng, ăn
trộm, ăn cắp, nói láo, nói gạt, nhận thức sai lầm và
làm điều ác, khi chết đi, nhiều người tụ lại để cầu cho người đó được sanh lên
cõi thiện lành. Vậy thì người đó có sanh lên cõi thiện lành nhờ được cầu
nguyện hay không? Rõ ràng là không”.
Đức
Thế Tôn còn đưa ra hình ảnh minh họa rằng: nếu chúng ta thả
tảng đá xuống hồ nước, dù ta ra sức cầu cho tảng đá nổi lên, thì nó vẫn
chìm. Cũng như vậy, người sống làm ác, chết sẽ không sanh lên cõi thiện lành được.
Ngược lại, chúng ta đổ dầu xuống nước và cầu cho dầu chìm xuống, chúng
ta có cầu cách mấy thì dầu cũng không chìm. Cũng như vậy, người sống
làm việc thiện, chết sẽ sanh lên cõi thiện lành, dù không cần cầu.
Đức
Phật còn dạy:
“Tự mình, điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không làm ác,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh, không tịnh, tự mình,
Không ai thanh tịnh ai”.
Kinh Phật
tự thuyết nhấn mạnh rằng: “Sự trong
sạch do rửa bằng nước không bao giờ có. Người nào tắm trong dòng nước chân
thật và thiện pháp thì người đó mới là trong sạch”.
Đức
Phật đã nói: “Người trở nên trong
sạch, trở thành thánh nhân”. Đó mới chính là nước thanh tịnh rửa
được vô minh phiền não trong tâm của chúng sinh.
Trong Trung
bộ kinh, Đức Thế Tôn cũng dạy: “Này thầy Bà-la-môn! Thầy nên tắm, rửa
thứ nước mà Như Lai đã dạy là: không nói dối, không làm hại chúng
sinh khác, không nên lấy của người khác, không nên bỏn sẻn keo kiệt.
Tất cả mọi khổ đau hay hạnh phúc đều do chúng ta tự tạo ra
và tự nhận lấy kết quả. Ngược lại, dù thầy có đi đến sông Hằng, tắm gội và uống
nước ấy cũng không lợi ích gì cho thầy”.
Người Phật
tử phải biết lấy giáo lý nhân quả để làm hệ quy chiếu mà hướng
về, chứ không chỉ đơn thuần dành thời gian cho việc cầu
nguyện van xin sám hối suông, rồi đâu vẫn còn nguyên đấy. Cầu nguyện phải kết
hợp với sống, tu tập đúng theo Chánh pháp thì mới là lời cầu
nguyện chân chính và thiết thực nhất. Mỗi hành giả hãy xây
dựng cho riêng mình một cõi Tây phương Tịnh độ ngay tại cuộc
sống này, thay vì đi tìm những thứ xa xôi hão huyền sau khi chết. Muốn như
vậy, hãy ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống để chuyển hóa những tâm
lý bất an, nỗi phiền muộn, khổ đau để đạt được hạnh phúc thiết
thực trong tự tánh của mỗi chúng ta.
Hơn
nữa, thay vì cầu nguyện một cách thiếu tuệ giác, chúng ta cần
phải áp dụng chân lý Tứ diệu đế hay còn gọi là Tứ
Thánh đế mà Đức Phật đã giác ngộ với tuệ giác của
mình để giải quyết vấn đề một cách sâu sắc và thực tiễn:
-
Thứ nhất là Khổ đế: Chúng ta phải ý thức rõ được những
bế tắc, khủng hoảng mà chúng ta đang bị gặp phải là gì?
-
Thứ hai là Tập đế: Nguyên nhân chính và phụ dẫn đến khổ đau là
gì?
-
Thứ ba là Diệt đế: Để có một đời sống hạnh phúc an
vui, thì phải cần tháo gỡ những nỗi khổ niềm đau đó.
- Cuối
cùng là Đạo đế: Con đường đưa đến chấm dứt khổ đau
và khủng hoảng thông qua Bát chánh đạo. Điều quan trọng ở đây, mỗi hành
giả chúng ta cần phải có chánh niệm tỉnh giác, cái nhìn chánh
kiến và có chánh tư duy về những tri giác sai lầm, những
hành động chúng ta đang làm và phải có ý thức rằng: điều đó
có đúng với tinh thần từ bi và trí tuệ của Phật
giáo hay không? Nếu đó là không, thì phải nhận diện và chuyển
hóa hành động đó theo một chiều hướng tích cực và đúng đắn.
Mặt
khác, thay vì ta dành thời gian để liên tưởng những thứ
không tốt đẹp trong quá khứ hoặc cầu nguyện về một
tương lai xa vời ngoài tầm tay, thì tốt nhất mỗi Phật tử hãy quán
chiếu sự sống trong giây phút hiện tại, mỗi người con Phật hãy nỗ
lực tinh tấn tu tập để chuyển hóa bất thiện nghiệp thành thiện
nghiệp và thực tập hạnh bố thí. Bởi vì bố thí là
nhịp cầu thiết lập tình thân thương giữa ta và người trên nền tảng hiểu
rõ vô ngã sở hữu để đạt được hạnh phúc và giá
trị thiết thực cho bản thân, gia đình và xã hội.
Cuối
cùng, một điều cần nhấn mạnh đó là, cầu nguyện là vấn
đề không thể thiếu trong mỗi tôn giáo nói chung,
trong đạo Phật nói riêng. Tuy nhiên, là người học Phật, chúng
ta cần hiểu rằng cầu nguyện không phải là phương pháp cứu
cánh giải quyết tất cả các phiền não, tuyệt vọng, bế tắc và
khủng hoảng do gặp phải trong đời sống hằng ngày. Phương
pháp tối ưu nhất là chúng ta phải áp dụng là Tứ
diệu đế và Bát chánh đạo để chuyển hóa cho được phiền não thành
hạnh phúc an vui.
Thêm
vào đó, chúng ta hãy dành thời gian thực tập chánh niệm và
thiền định để nhận diện giây phút hạnh phúc trong hiện
tại, thay vì đi cầu nguyện những thứ xa vời mà thiếu đi tuệ giác theo tinh
thần nguyên thủy của đạo Phật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét