2 thg 5, 2020

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRÁI ĐẤT

Theo tạp chi Khoa Học & Đời Sống



1. Nguồn gốc:

Trái Đất được hình thành cùng với Hệ Mặt Trời từ khi Hệ Mặt Trời ban đầu tồn tại như một đám mây bụi và khí lớn, quay tròn, gọi là tinh vân Mặt TrờiTinh vân này gồm hydro và heli được tạo ra từ Vụ Nổ Lớn, và những nguyên tố hóa học nặng hơn khác được tạo ra từ các ngôi sao đã chết. Sau đó, vào khoảng 4,6 tỷ năm trước, có thể một ngôi sao ở gần đó bắt đầu trở thành một siêu tân tinh. Vụ nổ gây sóng chấn động về hướng tinh vân Mặt Trời và làm nó bị nén vào. Vì đám mây tiếp tục quay, lực hấp dẫn và quán tính làm đám mây trở nên phẳng như hình dạng một cái đĩa, vuông góc so với trục quay của nó. Đa phần khối lượng tập trung ở giữa và bắt đầu nóng lên. Lúc ấy, khi trọng lực làm cho vật chất cô đặc lại xung quanh các hạt bụi vật chất, phần còn lại của đĩa bắt đầu tan rã thành những vành đai. Các mảnh nhỏ va chạm vào nhau và tạo thành những mảnh lớn hơn. Những mảnh nằm trong tập hợp nằm cách trung tâm khoảng 150 triệu kilômét tạo thành Trái Đất. Khi Mặt Trời ngày càng đặc lại, nó nóng lên, phản ứng hạt nhân bùng nổ và tạo nên gió Mặt Trời thổi bay đa phần những vật chất ở trong đĩa vẫn còn chưa bị cô đặc vào những tập hợp vật chất lớn hơn.

2. Sự xuất hiện Mặt Trăng:

Nguồn gốc của Mặt Trăng hiện nay còn chưa chắc chắn, mặc dù đa số bằng chứng tồn tại ủng hộ giả thuyết sự va chạm dữ dội. Trái Đất có thể không phải là hành tinh duy nhất được tạo thành ở khoảng cách 150 triệu km từ Mặt trời. Một giả thuyết cho rằng một tập hợp vật chất khác với khoảng cách 150 triệu km từ cả Trái Đất và Mặt Trời, ở điểm Lagrange thứ tư hay thứ năm. Hành tinh này được gọi là Theia, nó được cho là nhỏ hơn so với Trái Đất lúc đó, có lẽ có cùng kích thước và khối lượng như Sao Hoả. Quỹ đạo của nó ban đầu là ổn định nhưng về sau khi Trái Đất ngày càng có khối lượng lớn hơn khi thu thập thêm vật chất ở xung quanh, thì quỹ đạo của Theia trở nên bất ổn định. Theia đu đưa tới lui theo Trái Đất cho tới khi, cuối cùng, cách nay khoảng 4.533 tỷ năm (có lẽ 0 giờ 05 phút đêm theo giờ cái đồng hồ của chúng ta), nó va chạm vào Trái Đất theo một góc thấp và chéo. Tốc độ chậm và góc nhỏ không đủ để nó tiêu diệt Trái Đất, nhưng một tỷ lệ lớn lớp vỏ của nó bị bắn ra. Những phần tử nặng từ Theia chìm sâu vào vỏ Trái Đất, trong khi những phần còn lại và vật chất phóng ra tập hợp lại thành một vật thể duy nhất trong vài tuần. Dưới ảnh hưởng của trọng lực của chính nó, có lẽ trong một năm, nó trở thành một vật thể có hình cầu: là Mặt Trăng. Sự va chạm cũng được cho rằng đã làm thay đổi trục của Trái Đất làm nó nghiêng đi 23,5°, trục quay nghiêng gây ra mùa trên Trái Đất. (Một hình thức lý tưởng và đơn giản về nguồn gốc hành tinh sẽ có các trục nghiêng 0° và không gây ra mùa.) Có thể nó cũng đã làm tốc độ quay của Trái Đất tăng thêm và khởi động những kiến tạo địa tầng.

3. Liên đại hỏa thành hay còn gọi là Tứ đại hợp thành:

Trái Đất buổi ban đầu, ở thời gian Liên đại Hỏa Thành hay Thái Viễn Cổ, rất khác biệt so với Trái Đất của chúng ta ngày nay. Trái Đất không có các đại dương và cũng không có oxy trên khí quyển. Hành tinh luôn bị bắn phá bởi các tiểu hành tinh và các vật chất khác còn sót lại sau khi hình thành nên Hệ Mặt Trời. Cuộc bắn phá dữ dội này, cộng với sức nóng từ sự phân chia kích hoạt phóng xạ, sức nóng còn sót lại, sức nóng từ áp lực co ngót, làm cho hành tinh ở giai đoạn này hầu như bị nấu chảy ra. Những vật chất nặng chìm vào tâm trong khi những vật chất nhẹ hơn nổi lên bề mặt, tạo ra nhiều lớp của Trái Đất (xem "Cấu trúc Trái Đất"). Khí quyển ban đầu của Trái Đất có thể gồm những vật liệu bao quanh bên ngoài từ tinh vân mặt trời, đặc biệt là các khí nhẹ như hydro và heli, nhưng gió mặt trời và chính nhiệt lượng của Trái Đất có thể đã thổi bay khí quyển đó. Bề mặt dần lạnh đi, tạo nên vỏ cứng trong vòng 150 triệu năm (khoảng 4,4 tỷ năm trước). Hơi nước thoát ra từ lớp vỏ khi các khí gas bị núi lửa phun lên, tạo cho Trái Đất một khí quyển thứ hai. Nước được cung cấp thêm từ những cuộc va chạm của sao băng. Hành tinh lạnh đi. Các đám mây được tạo thành. Mưa tạo nên các biển trong vòng 750 triệu năm, nhưng cũng có thể sớm hơn (những bằng chứng gần đây cho thấy các đại dương có thể đã bắt đầu được tạo nên từ 4,2 tỷ năm trước). Khí quyển mới có lẽ có chứa amoniamêtanhơi nướccacbon dioxide, và nitơ, cũng như một lượng nhỏ các chất khí. Hoạt động núi lửa tăng lên, và vì không có một lớp ozone để ngăn cản, bức xạ tia cực tím thâm nhập khắp bề mặt Trái Đất.

4. Khởi nguồn sự sống:

Các chi tiết về nguồn gốc sự sống vẫn còn chưa được khám phá, mặc dù các nguyên lý rộng đã được lập nên. Một thiểu số các nhà khoa học tin rằng cuộc sống, hay ít nhất là các thành phần hữu cơ, có thể đã tới Trái Đất từ vũ trụ (xem "Thuyết tha sinh"); tuy vậy, những cơ cấu theo đó sự sống có thể được phát sinh được tin là tương tự với những sự sống có nguồn gốc trên Trái Đất. Đa số các nhà khoa học tin rằng sự sống có nguồn gốc Trái Đất, nhưng thời gian của sự kiện này rất khác biệt - có lẽ là vào khoảng 4 tỷ năm trước. Vì một lý do chưa xác định, trong sự hoạt động hóa học mạnh mẽ thời kỳ đầu của Trái Đất, một phân tử (hay thậm chí là một thứ gì khác) đã có khả năng tự phân chia thành các bản sao của chính nó. Bản chất của phân tử này vẫn còn chưa được biết tới, từ đó các chức năng của nó được truyền lại cho các thế hệ bản sao về sau này, DNA. Khi tự mô phỏng, bản sao không phải bao giờ cũng thể hiện chính xác tương tự như thế hệ trước: một số bản sao có chứa "lỗi". Nếu sự thay đổi tiêu diệt khả năng tự mô phỏng của phân tử, thì nó sẽ mất đi, và con đường phát triển bị "tắt ngấm". Nếu không, một số thay đổi hiếm hoi sẽ làm cho phân tử được mô phỏng và được tái tạo một cách nhanh chóng hơn và với khả năng tốt hơn: những "dòng dõi" đó sẽ trở nên đông đảo và "thành công" hơn. Khi sự lựa chọn các vật liệu thô ("thức ăn") trở nên thiếu thốn, các dòng dõi sau đó có thể khai thác các nguyên liệu khác, hay có lẽ là học cách tiến triển của các kiểu dòng dõi khác, và trở nên đông đảo hơn.

Nhiều kiểu phát triển khác nhau đã được đưa ra nhằm giải thích tại sao một bản sao lại có thể phát triển hơn. Nhiều bản sao đã được thử nghiệm, gồm cả các hóa chất hữu cơ như các protein hiện đại của các acid nucleic, phospholipidtinh thể, hay thậm chí các hệ lượng tử. Hiện nay không có phương pháp nào có thể xác định kiểu nào trong số các kiểu trên, nếu có, là tương thích nhất với nguồn gốc sự sống trên Trái Đất. Một trong những lý thuyết trước kia, và là một lý thuyết đã chứng minh là đúng đắn về một số mặt, sẽ được đem ra làm ví dụ về việc tại sao quá trình này có thể xảy ra. Năng lượng cao từ các núi lửa, sét, và bức xạ tia cực tím có thể làm cho các phản ứng hóa học tạo ra nhiều phân tử phức tạp hơn từ các hợp chất đơn giản như mêtan và amoniắc. Trong số chúng có nhiều hợp chất hữu cơ đơn giản là những nguyên tố căn bản của sự sống. Khi số lượng của những "hợp chất hữu cơ" đó tăng lên, các phân tử khác nhau phản ứng lẫn nhau. Thỉnh thoảng các phân tử phức tạp hơn có thể tạo thành các cơ thể sống, tạo ra một tổ chức để tập hợp và tập trung các vật chất hữu cơ. Sự hiện diện của một số phân tử có thể làm tăng tốc một phản ứng hóa học. Tất cả chúng tiếp diễn trong một thời gian dài, với các phản ứng thường hay ít xảy ra ngẫu nhiên, tới khi nó may mắn tạo nên một phân tử mới: phân tử tái tạo. Nó có tính chất kỳ dị thúc đẩy các phản ứng hóa học tạo thành bản sao của chính nó, và tiến trình phát triển thực sự bắt đầu. Các lý thuyết khác đưa ra các kiểu tái tạo khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, DNA chiếm vai trò chức năng của các phần tử tái tạo; tất cả các hình thức sự sống từng được biết (ngoại trừ một số loại virus) sử dụng DNA làm hình thức tái tạo của chúng trong hầu hết phương pháp tái tạo.

5. Tế bào đầu tiên:

Sự sống hiện đại có nguyên liệu tái tạo được đóng gói gọn bên trong một màng tế bào. Tìm hiểu nguồn gốc màng tế bào dễ dàng hơn so với việc tìm hiểu nguồn gốc chất tái tạo, bởi vì các phân tử phospholipid tạo thành màng tế bào thường ở dạng hai lớp (bilayer) tự sinh khi được đặt trong nước. Dưới một số điều kiện, nhiều quả cầu như vậy có thể được hình thành (xem "Lý thuyết bong bóng").[13] Vẫn chưa biết được liệu quá trình này diễn ra trước hay sau khởi nguồn của chất tái tạo (hay có lẽ nó từng là chất tái tạo). Thuyết phổ biến nhất cho rằng chất tái tạo, có lẽ RNA tới lúc ấy (lý thuyết thế giới RNA), cùng bộ máy tái tạo của nó và có lẽ cả các biomolecules khác đã có tham gia vào quá trình. Các tiền tế bào ban đầu có lẽ đã đơn giản vỡ ra khi chúng phát triển quá lớn; những thứ bên trong có lẽ đã xâm lấn sang các "bong bóng" khác. Các protein làm ổn định màng, hay sau này giúp vào quá trình phân chia có trật tự, đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng của các tế bào đó. RNA cũng có thể là một ứng cử viên của một chất tái tạo ban đầu bởi vì nó vừa có thể lưu giữ thông tin di truyền vừa làm xúc tác cho các phản ứng. Ở một số mặt, DNA đã chiếm giữ vai trò lưu giữ di truyền của RNA, và các protein được gọi là enzym chiếm vai trò xúc tác, để RNA chuyển thông tin và điều chỉnh quá trình này. Ngày càng có nhiều người tin rằng những tế bào ban đầu đó có thể đã tham gia cùng với các chất thoát từ miệng núi lửa dưới đáy biển được gọi là "khói đen", hoặc thậm chí với đất đá nóng và sâu. Tuy nhiên, mọi người tin rằng trong vô số những tế bào hay những tiền tế bào này chỉ có một còn sống sót. Những bằng chứng hiện nay cho thấy vị tổ tiên của thế giới đã sống trong buổi đầu thời kỳ Archean, có lẽ khoảng 3,5 tỷ năm trước hay sớm hơn. Tế bào này là tổ tiên của mọi tế bào và vì thế là tổ tiên của mọi sự sống trên Trái Đất. Có lẽ nó là một sinh vật nhân sơ, có một màng tế bào và có lẽ cả ribosome, nhưng không có nhân hay các cơ quan tế bào ngoài màng như ty thể hay lục lạp. Giống như mọi tế bào hiện đại, nó sử dụng DNA làm mã di truyền, RNA để trao đổi thông tin và tổng hợp protein, và các enzyme làm xúc tác cho phản ứng. Một số nhà khoa học tin rằng tế bào này không chỉ là một cá thể duy nhất mà là một số lượng các sinh vật trao đổi gen trong trao đổi gen bên.

6. Quang hợp và oxy:

Có lẽ tất cả các tế bào ban đầu đều là tế bào dị dưỡng, sử dụng những phân tử hữu cơ (kể cả từ những tế bào khác) như nguyên liệu sống và một nguồn năng lượng.[18] Vì nguồn cung cấp dinh dưỡng hạn chế, một số tế bào đã phát triển cách thức hấp thụ dinh dưỡng mới. Thay vì dựa vào số lượng các phân tử hữu cơ tồn tại tự do đang ngày càng giảm sút, những tế bào này hấp thụ ánh sáng mặt trời như một nguồn năng lượng. Các con số ước lượng được đưa ra không đồng nhất, nhưng vào khoảng 3 tỷ năm trước, một thứ tương tự như sự quang hợp hiện đại ngày nay có lẽ đã bắt đầu phát triển. Việc này khiến không chỉ sinh vật tự dưỡng mà cả sinh vật dị dưỡng lợi dụng được năng lượng mặt trời. Quang hợp sử dụng dioxide cacbon và nước vốn rất phong phú cùng với năng lượng từ ánh sáng mặt trời để sản xuất những phân tử hữu cơ giàu năng lượng (hydrat carbon). Ngoài ra, khí oxy được sản xuất như một phế phẩm của quá trình quang hợp. Đầu tiên nó liên kết với đá vôisắt, và những chất khoáng khác; nhưng khi các khoáng chất đã được sử dụng hết, oxy bắt đầu tích tụ trong khí quyển. Dù mỗi tế bào chỉ sản xuất ra một lượng oxy nhỏ, tổng các quá trình trao đổi chất của nhiều tế bào sau những khoảng thời gian dài dằng dặc đã biến khí quyển Trái Đất trở thành tình trạng như hiện nay.[20] Và đây là thời kỳ khí quyển thứ ba của Trái Đất. Một số oxy phản ứng để hình thành nên ôzôn, tạo thành một lớp nằm ở phần trên cùng của khí quyển. Tầng ozon đã hấp thụ, và vẫn đang hấp thụ, một lượng lớn bức xạ cực tím mà trước kia có thể xuyên qua khí quyển. Điều này cho phép các tế bào di chuyển lên bề mặt đại dương và cuối cùng là đất liền: Nếu không có tầng ôzôn, bức xạ cực tím sẽ đi tới bề mặt Trái Đất và gây ra tình trạng biến đổi lớn cho các tế bào. Bên cạnh việc tạo ra phần lớn lượng năng lượng cần thiết cho các hình thức sự sống và ngăn cản bức xạ tia cực tím, các tác động của quang hợp còn có một tác dụng thứ ba khác đưa tới sự thay đổi mang tầm quan trọng lớn trên thế giới. Oxy là chất độc đối với nhiều dạng sống vào thời kỳ này; có lẽ đa phần sự sống trên Trái Đất đã biến mất khi lượng oxy tăng lên (Thảm họa oxy). Sau thảm họa oxy, các hình thái sự sống mới thích nghi được với bầu khí quyển oxy đã tồn tại và phát triển, và một số đã phát triển khả năng sử dụng oxy để tăng cường sự trao đổi chất và hấp thu được nhiều năng lượng hơn từ cùng loại thực phẩm.

7. Nội cộng sinh và ba vực của sự sống:

Phép phân loại hiện đại chia sự sống thành ba vực. Thời điểm khởi đầu của các vực đó chỉ có thể được suy đoán. Vực Bacteria có lẽ là sự chia tách đầu tiên khỏi những hình thức sự sống khác (thỉnh thoảng được gọi là Neomura), nhưng sự phỏng đoán này còn gây tranh cãi. Ngay sau đó, khoảng 2 tỉ năm trước, Neomura phân chia thành Archarea và Eukarya. Các tế bào Eukarya lớn và phức tạp hơn các tế bào prokaryotic (Bacteria và Archaea), và nguồn gốc sự phức tạp đó hiện đang dần được khám phá. Ở khoảng trong thời kỳ này một tế bào vi khuẩn có liên quan tới Rickettsia ngày nay đã xâm nhập một tế bào prokaryotic lớn hơn. Có lẽ tế bào lớn đã không thành công khi tiêu hóa tế bào nhỏ (có lẽ vì quá trình phát triển khả năng tự vệ của con mồi). Có lẽ tế bào nhỏ tìm cách ký sinh trên tế bào lớn. Dù thế nào chăng nữa, tế bào nhỏ đã sống sót bên trong tế bào lớn. Sử dụng oxy, nó đã có thể chuyển hóa các phế phẩm của tế bào lớn và thu được nhiều năng lượng. Một số năng lượng dư đó được chuyển trở lại cho vật chủ. Tế bào nhỏ tái tạo bên trong tế bào lớn, và nhanh chóng sau đó một mối quan hệ cộng sinh ổn định được thiết lập. Cùng với thời gian, tế bào chủ nhận được một số gene của tế bào nhỏ, và chúng trở nên phụ thuộc lẫn nhau: tế bào lớn không thể sống được nếu không có năng lượng do tế bào nhỏ tạo ra, và tế bào nhỏ cũng không thể tồn tại khi không có nguyên liệu thô do tế bào lớn cung cấp. Sự cộng sinh phát triển giữa tế bào lớn và cộng đồng tế bào nhỏ bên trong nó phát triển cao tới mức chúng được coi là đã trở thành một sinh vật duy nhất, các tế bào nhỏ được xếp loại là cơ quan tế bào được gọi là ty thể (mitochondria). Một sự kiện tương tự cũng diễn ra với sự quang hợp cyanobacteria chui vào trong các tế bào dị dưỡng và trở thành các lục lạp. Có lẽ vì các thay đổi đó, một dòng tế bào có khả năng quang hợp đã tách ra khỏi các eukaryotes khác ở khoảng thời gian nào đó chừng 1 tỷ năm trước. Nếu con số chính xác, có lẽ đã có nhiều sự kiện tương tự diễn ra. Bên cạnh lý thuyết nội cộng sinh (endosymbiotic) có cơ sở khá vững chắc về nguồn gốc tế bào với ty thể và các lục lạp (chloroplast), cũng có lý thuyết cho rằng các tế bào đã hình thành peroxisomesspirochete hình thành nên cilia và flagella, và có lẽ một virus DNA đã tạo nên nhân tế bào, dù không một lý thuyết nào trong số đó được chấp nhận rộng rãi.

8. Đa bào:

Archaeans, bacteria, và eukaryotes tiếp tục đa dạng hóa và trở nên tinh vi cũng như thích ứng tốt hơn với môi trường của chúng. Mỗi vực lại liên tiếp chia thành nhiều giống, dù chúng ta còn biết rất ít về lịch sử archaea và bacteria. Khoảng 1.1 tỷ năm trước, siêu lục địa Rodinia bắt đầu hình thành; những sự di chuyển lục địa trước đó chưa được biết rõ. Thực vậtđộng vật, và các loài nấm đều đã phân chia, dù chúng vẫn tồn tại như những tế bào đơn độc. Một số chúng sinh sống thành các tập đoàn, và dần dần một số hành vi phân công lao động bắt đầu diễn ra; ví dụ, các tế bào ngoại biên có thể bắt đầu đảm nhận một số vai trò khác biệt so với các tế bào bên trong. Dù sự phân chia giữa một tập đoàn với các tế bào chuyên biệt và một sinh vật đa bào không phải lúc nào cũng rõ ràng, khoảng 1 tỷ năm trước, các thực vật đa bào đầu tiên xuất hiện, có lẽ là tảo lục. Có thể vào khoảng 900 triệu năm trước, đa bào thực sự đã xuất hiện ở động vật. Ban đầu có lẽ là một thứ gì đó tương tự với đa bào của hải miên ngày nay, theo đó tất cả các tế bào đều mang tính toàn năng (totipotent) và một cơ quan bị mất có thể tự tái tạo. Khi sự phân chia lao động trở nên đầy đủ hơn trong mọi giống sinh vật đa bào, các tế bào bắt đầu chuyên biệt hóa hơn và phụ thuộc vào nhau hơn; các tế bào riêng biệt sẽ chết. Tới khoảng 750 triệu năm trước Rodinia bắt đầu tan vỡ.

9. Xâm chiếm mặt đất:

Như chúng ta đã thấy, sự tích tụ khí oxy trong khí quyển Trái Đất dẫn tới việc hình thành ôzôn, tạo nên một lớp ngăn chặn đa phần bức xạ tia cực tím của mặt trời. Vì thế, các sinh vật đơn bào đi lên mặt đất sẽ có cơ hội sống sót cao hơn, và các sinh vật chưa có nhân đã bắt đầu sinh sôi và trở nên thích ứng tốt hơn với môi trường sống bên ngoài đại dương. Có lẽ các sinh vật chưa có nhân đã chinh phục mặt đất ngay từ 2,6 tỷ năm trước, thậm chí trước cả khi sinh vật nhân chuẩn xuất hiện. Trong một thời gian dài, lục địa vẫn là nơi không thể sinh sống đối với các sinh vật đa bào. Siêu lục địa Pannotia đã hình thành từ khoảng 600 triệu năm trước và đã vỡ thành nhiều mảnh 50 triệu năm sau đó. , những động vật có xương sống sớm nhất, đã bắt đầu xuất hiện tại các đại dương từ khoảng 530 triệu năm trước. Một cuộc tuyệt chủng đã xảy ra thời kỳ cuối kỷ Cambri, kỷ này chấm dứt 488 triệu năm trước.

Nhiều triệu năm trước, thực vật (có lẽ giống với tảo) và nấm bắt đầu mọc trên rìa mặt nước, và sau đó tách hẳn khỏi nó. Những hóa thạch nấm và thực vật cổ nhất trên đất liền có niên đại từ 480–460 triệu năm trước, dù bằng chứng phân tử cho thấy nấm có thể đã xâm chiếm đất liền ngay từ 1 tỷ năm trước và thực vật là 700 triệu năm. Ban đầu chúng vẫn ở gần mặt nước, các sự kiện đột biến và biến thể khiến chúng ngày càng xâm chiếm sâu hơn vào môi trường mới. Thời gian những động vật đầu tiên rời đại dương hiện vẫn chưa được biết chính xác: bằng chứng rõ rệt sớm nhất là những động vật chân đốt trên đất liền khoảng 450 triệu năm trước, có lẽ chúng đã phát triển và trở nên thích nghi với môi trường nhờ vào nguồn thực phẩm phong phú từ các loài thực vật trên đất liền. Cũng có một số bằng chứng chưa được xác nhận cho rằng những động vật chân đốt có thể đã xuất hiện trên mặt đất ngay từ 530 triệu năm trước. Khoảng 380 tới 375 triệu năm trước những động vật bốn chân đầu tiên xuất hiện từ loài cá. Mọi người cho rằng có lẽ các vây đã phát triển để trở thành chi cho phép những động vật bốn chân đầu tiên nhấc cao đầu khỏi mặt nước để hít thở không khí. Điều này giúp chúng sống được ở những vùng nước ít oxy hay đuổi theo những con mồi nhỏ vào trong vùng nước nông. Có thể sau này chúng đã tiến vào đất liền trong những khoảng thời gian ngắn. Cuối cùng, một số loài trở nên thích ứng tốt đến mức chấp nhận cuộc sống trên mặt đất và toàn bộ thời gian trưởng thành chúng đều sống trên đất liền, dù chúng sinh sản trong nước và quay lại đó để đẻ trứng. Đây là nguồn gốc của các động vật lưỡng cư. Khoảng 365 triệu năm trước, một giai đoạn tuyệt chủng khác diễn ra, có lẽ là do sự lạnh đi toàn cầu. Thực vật tiến hóa thêm hạt, giúp chúng tiến sâu hơn rất nhiều vào đất liền, khoảng thời gian này.

Khoảng 20 triệu năm sau, quá trình tiến hóa màng ối đã cho phép trứng được ấp trên đất liền, chắc chắn đó là một lợi thế tồn tại cho phôi của loài động vật bốn chân. Điều này dẫn tới sự phân nhánh động vật có màng ối ra khỏi động vật lưỡng cư. 30 triệu năm sau nữa, sự phân nhánh giữa Synapsida (gồm các loài động vật có vú) với Sauropsida (gồm các loài chim và những loài bò sát không bay hay không phải là động vật có vú) diễn ra. Tất nhiên, những nhóm sinh vật khác tiếp tục tiến hóa và phân nhánh thành cá, côn trùng, vi khuẩn và các loài khác, nhưng chúng ta không có nhiều thông tin chi tiết như các loài trên. 300 triệu năm trước siêu lục địa gần đây nhất hình thành, được gọi là PangaeaSự kiện tuyệt chủng lớn nhất cho tới nay diễn ra 250 triệu năm trước, ở khoảng thời gian phân tách giữa kỷ Permi và Trias; 95% các loài sinh vật trên Trái Đất biến mất. Nhưng sự sống vẫn tồn tại, và khoảng 230 triệu năm trước, các loài khủng long bắt đầu chia tách khỏi tổ tiên bò sát của chúng. Một cuộc tuyệt chủng ở thời gian giữa hai kỷ Trias và Jura 200 triệu năm trước nhưng không ảnh hưởng tới nhiều loài khủng long, chúng nhanh chóng chiếm vai trò thống trị trong số động vật có xương sống. Dù một số loài có vú cũng bắt đầu phân chia tương tự trong thời gian này, các loài có vú thời đó có lẽ đều nhỏ như chuột chù ngày nay. Khoảng 180 triệu năm trước, Pangea vỡ thành Laurasia và Gondwana. Ranh giới giữa các loài khủng long bay và không bay là không rõ ràng nhưng Archaeopteryx, theo truyền thống thường được coi là một trong những con chim đầu tiên, sống vào khoảng 150 triệu năm trước. Bằng chứng sớm nhất về thực vật hạt kín tiến hóa thành các loài có hoa là ở thời kỳ kỷ Creta, khoảng 20 triệu năm sau Cuộc cạnh tranh với những loài chim khiến nhiều loài thằn lằn bay tuyệt chủng, và những con khủng long có lẽ cũng đã ở thời kỳ suy thoái vì một số nguyên nhân khi, 65 triệu năm trước, một thiên thạch đường kính 10 kilômét dường như đã đâm vào Trái Đất ngay ngoài khơi bán đảo Yucatán, tung một lượng lớn vật chất và hơi nước lên không, che khuất ánh sáng Mặt Trời, ngăn cản quang hợp. Đa số các loài động vật lớn, gồm cả những loài khủng long không bay, bị tuyệt chủng, đánh dấu sự chấm dứt thời kỳ kỷ Creta và đại Trung Sinh. Sau đó, ở thời kỳ thế Paleocen, các loài động vật có vú nhanh chóng phân chia, trở nên lớn hơn và chiếm vai trò thống trị trong số các động vật có xương sống. Có lẽ vài triệu năm sau, vị tổ tiên chung cuối cùng của toàn bộ động vật linh trưởng đã có mặt. Tới cuối thời kỳ thế Eocen, 34 triệu năm trước, các loài động vật có vú trên mặt đất đã quay trở về biển để trở thành các loài động vật như Basilosaurus sau này sẽ trở thành các loài cá heo và cá voi.

10. Loài người xuất hiện:

Một loài khỉ họ người châu Phi đã có mặt khoảng sáu triệu năm trước đây là loài vật cuối cùng có con cháu gồm cả loài người hiện đại và loài tinh tinh, họ hàng gần nhất của con người. Chỉ hai nhánh trong cây dòng họ của nó là có hậu duệ tồn tại tới ngày nay. Ngay sau khi phân nhánh, vì các lý do hiện còn chưa được xác định, các giống khỉ họ người trong một nhánh đã phát triển khả năng đứng thẳng. Kích thước não tăng nhanh chóng, và hai triệu năm trước đây những động vật đầu tiên được xếp loại Con người đã xuất hiện. Tất nhiên, giới hạn giữa các loài khác nhau hay thậm chí giữa các loại khá rộng bởi vì các sinh vật tiếp tục thay đổi theo từng thế hệ. Cùng khoảng thời gian này, nhánh kia chia thành các tổ tiên của tinh tinh thông thường và tổ tiên của tinh tinh lùn khi quá trình phát triển tiếp tục diễn ra đồng thời ở mọi dạng sự sống. Khả năng kiểm soát lửa dường như đã bắt đầu có ở Homo erectus (hay Homo ergaster), có lẽ ít nhất từ 790.000 năm trước nhưng có thể sớm từ 1.5 triệu năm trước. Rất khó để xác định nguồn gốc của ngôn ngữ; chúng ta không biết liệu Homo erectus có thể nói hay khả năng này chỉ xuất hiện từ Homo sapiens. Khi kích thước não tăng lên, trẻ em được sinh ra sớm hơn, trước khi đầu chúng trở nên quá to để đi lọt xương chậu. Vì thế, chúng có quãng thời gian sống phụ thuộc dài hơn, mềm yếu hơn, và có khả năng học tập tốt hơn. Các kỹ năng xã hội trở nên phức tạp hơn, ngôn ngữ phát triển, và các công cụ được chế tạo tinh vi hơn. Điều này khiến sự hợp tác trở nên chặt chẽ cũng như lại kéo theo sự phát triển thêm của não. Về mặt giải phẫu con người hiện đại—Homo sapiens—được cho là đã có nguồn gốc xuất hiện từ khoảng 200.000 năm hay sớm hơn tại châu Phi; những hóa thạch cổ nhất có niên đại từ khoảng 160.000 năm trước. Con người đầu tiên thể hiện bằng chứng về khả năng tinh thần là người Neanderthal (thường được xếp loại là một giống riêng biệt và không có hậu duệ còn tồn tại ngày nay); họ biết chôn người chết, thường chôn theo cả thực phẩm hay công cụ. Tuy nhiên, bằng chứng về những đức tin phức tạp hơn, như những bức tranh tường Cro-Magnon giai đoạn sớm (có lẽ có ý nghĩa ma thuật hay tôn giáo) chỉ xuất hiện khoảng 32.000 năm trước. Người Cro-Magnon cũng để lại những bức tượng đá nhỏ như Vệ nữ Willendorf, có lẽ cũng thể hiện đức tin tôn giáo. Tới 11.000 năm trước, Homo sapiens đã mở rộng phạm vi sinh sống tới mũi phía nam Nam Mỹ, lục địa có người ở cuối cùng. Kỹ năng sử dụng công cụ và ngôn ngữ tiếp tục được cải thiện; những quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng trở nên phức tạp hơn.

11. Nền văn minh:

Trong hơn chín mươi phần trăm thời gian lịch sử của mình, Homo sapiens sống thành những nhóm nhỏ kiểu du mục săn bắt - hái lượm. Khi trí thông minh tăng thêm và ngôn ngữ trở nên phức tạp hơn, khả năng nhớ và truyền đạt thông tin dẫn tới một hình thức tái truyền tải thông tin mới: meme. Các ý tưởng có thể được trao đổi nhanh chóng và truyền lại cho những thế hệ sau. Quá trình phát triển văn hoá đạt bước tiến nhảy vọt so với quá trình phát triển sinh học, và lịch sử thực sự bắt đầu. Thời điểm nào đó trong khoảng 8500 tới 7000 trước Công Nguyên, con người ở vùng Đồng bằng lưỡi liềm màu mỡ tại Lưỡng Hà bắt đầu tiến hành trồng cấy và chăn nuôi có hệ thống: sự khởi đầu của nông nghiệp. Cách thức trồng cấy mới nhanh chóng lan rộng ra các vùng lân cận, và nó cũng được phát triển độc lập tại những vùng khác trên thế giới. Không còn kiểu sống du mục, con người bắt đầu thiết lập những khu định cư lâu dài. Sự phụ thuộc an ninh lẫn nhau cũng như tăng cao năng suất thu hoạch cho phép mở rộng dân số. Nông nghiệp có một ảnh hưởng quan trọng; con người bắt đầu tác động đến môi trường, ở mức chưa từng có trước đây. Thặng dư lương thực cho phép tầng lớp cai trị và thầy cúng xuất hiện, tiếp đó là sự phân công lao động. Điều này dẫn tới sự xuất hiện nền văn minh đầu tiên trên Trái Đất tại Sumer vùng Trung Đông, khoảng 4000 tới 3000 trước Công nguyên. Các nền văn minh khác nhanh chóng xuất hiện tại Ai Cập cổ và Châu thổ sông Indus.

Bắt đầu từ khoảng năm 3000 trước Công nguyên, Hindu giáo, một trong những tôn giáo cổ nhất Trái Đất còn tồn tại đến ngày nay, bắt đầu hình thành.

Các tôn giáo khác cũng nhanh chóng xuất hiện. Sự phát minh ra chữ viết cho phép các xã hội phức tạp hơn xuất hiện: những thư khố và các thư viện trở thành nơi lưu giữ những hiểu biết của nhân loại cũng như tăng cường sự chuyển giao văn hóa và thông tin. Con người không còn dùng toàn bộ thời gian để kiếm sống - tính tò mò và giáo dục khiến mọi người nhanh chóng có được sự hiểu biết và khôn ngoan. Nhiều môn học, gồm cả khoa học, xuất hiện. Các nền văn minh mới mở rộng, trao đổi thương mại với nhau và lao vào các cuộc chiến tranh giành lãnh thổ và các nguồn tài nguyên: các đế chế bắt đầu hình thành. Tới khoảng năm 500 trước Công Nguyên, các đế chế đã xuất hiện tại Trung Đông, Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp, hầu như đều dựa trên cùng một cơ sở tương tự; khi một đế chế phát triển tới cực điểm, nó sẽ giảm sút và tàn lụi sau này.

Những năm 1300, thời kỳ Phục hưng bắt đầu xuất hiện tại Italia với những phát triển về tôn giáo, nghệ thuật và khoa học. Bắt đầu từ khoảng năm 1500, nền văn minh châu Âu bắt đầu trải qua những thay đổi dẫn tới các cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp: lục địa này bắt đầu chiếm lĩnh vị trí thống trị đối với các xã hội loài người trên khắp hành tinh. Từ năm 1914 đến 1918 và 1939 tới 1945, các quốc gia trên khắp Trái Đất lao vào các cuộc chiến tranh thế giớiHội quốc liên, tổ chức được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là bước đầu tiên tiến tới việc hình thành một chính phủ thế giới; sau Chiến tranh thế giới thứ hai tổ chức này được thay thế bởi Liên hiệp quốc. Năm 1992, nhiều nước châu Âu đã cùng gia nhập hình thành nên Liên minh châu Âu. Khi vận tải và thông tin phát triển, các nền kinh tế và các công việc chính trị của các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Sự toàn cầu hoá này thường gây ra bất hoà, dù sự hợp tác lẫn nhau cũng được tăng cường mạnh mẽ hơn.

1 thg 5, 2020

SỰ HÌNH THÀNH CỦA VŨ TRỤ

Phúc Thịnh (Zing)



Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học nói về sự hình thành vũ trụ như sau: tất cả nằm trong một "quả bóng" vật chất nhỏ bé và dày đặc, một vụ nổ lớn xảy ra làm phát sinh các nguyên tử, phân tử, ngôi sao và thiên hà như những gì chúng ta biết ngày nay.

Tất nhiên, đã có những thắc mắc về sự chính xác của lý thuyết này. Một số người cho rằng vũ trụ đã hiện diện ngay từ đầu, trong khi ý kiến khác nhận định có nhiều vũ trụ đang tồn tại, chúng ta chỉ là một phần rất nhỏ.

Lịch sử vũ trụ luôn là chủ đề cần nhiều công sức nghiên cứu, bên cạnh các giả thuyết có phần kỳ quái và không thể giải thích. Những nghiên cứu vật lý gần đây đã đưa ra thêm những thông tin về sự hình thành của vũ trụ.

Vũ trụ khởi đầu như thế nào?

Trong những năm qua, các nhà khoa học luôn cho rằng vụ trụ được hình thành sau một sự kiện gọi là vụ nổ lớn (Big Bang). Theo thuyết này, vũ trụ trong quá khứ có kích thước rất nhỏ, nóng và chứa lượng vật chất dày đặc. Đến khoảng 13,8 tỷ năm trước, một vụ nổ xảy ra hình thành nên không gian, năng lượng và vật chất để tạo ra vũ trụ như hiện nay.

Ngay sau vụ nổ, các hạt nguyên tử cơ bản của vũ trụ được hình thành gồm neutron, proton, electron, photon... Khi vũ trụ nguội đi, các neutron phân rã thành electron hoặc proton, hoặc kết hợp với proton để tạo ra đơteri (một đồng vị của hydro).

Vũ trụ nguội thêm dẫn đến nhiều sự kết hợp hơn: electron hợp nhất với hạt nhân tạo nên các nguyên tử trung tính, photon tạo thành nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background). Tóm lại, mọi nguyên tố cơ bản nhất của vũ trụ được hình thành chỉ vài phút sau vụ nổ Big Bang.

Từ đó đến nay, mọi quan sát, nghiên cứu về vũ trụ đều dựa trên thuyết Big Bang. Các nhà thiên văn học đã phân tích bức xạ còn sót lại từ thời kỳ đầu của vũ trụ đến đo lường các nguyên tố nhẹ nhất, tất cả chúng đều trùng khớp với dự đoán của thuyết Big Bang. Nói cách khác, Big Bang chính là bức tranh chính xác về sự hình thành của vũ trụ.

Tuy nhiên, bức tranh ấy vẫn thiếu một mảnh ghép quan trọng: khoảnh khắc đầu tiên của vũ trụ sau khi hình thành. Đó là thứ mà các chuyên gia đang tìm kiếm trong suốt nhiều năm qua.

Chuyện gì xảy ra trước vụ nổ Big Bang?

Vấn đề nằm ở thuyết vật lý chúng ta sử dụng để hiểu về vũ trụ sơ khai (sự kết hợp phức tạp của thuyết tương đối rộng và vật lý hạt năng lượng cao) rồi cũng sẽ bị phá vỡ. Ngày càng đi sâu vào sự hình thành của vũ trụ, bài toán càng khó trả lời.

Điểm mấu chốt mà chúng ta chưa thể nghiên cứu sâu chính là sự tồn tại của "điểm kỳ dị" (singularity) - là điểm có mật độ siêu dày đặc, nóng và đầy năng lượng lúc bắt đầu Big Bang. Điều này cho thấy có thời điểm vũ trụ chỉ nằm trong một hạt cực kỳ nhỏ và dày đặc. Rõ ràng đó là giả thuyết vô lý, hoặc trình độ vật lý hiện nay chưa thể giải thích.

Rất khó xác định chính xác điều gì xảy ra ngay sau Big Bang, khoảnh khắc những vật chất trong điểm kỳ dị "đường ai nấy đi". Các nhà khoa học đã biết chính xác những gì xảy ra trong 10^-43 giây sau Big Bang, nhưng vẫn chưa thể kết luận điều gì xảy ra ở thời gian trước đó vì mọi thứ vẫn còn rất nóng.

Điều đó đồng nghĩa chúng ta cần một mô hình vật lý mới tập trung vào trọng lực và các lực khác, kết hợp chúng lại dưới mức năng lượng cực cao. Nếu tìm được chuỗi lý thuyết này, nó có thể giải thích về những khoảnh khắc đầu tiên của vũ trụ.

Một trong những khái niệm chuỗi lý thuyết đầu tiên nói về vũ trụ ekpyrotic, tiếng Hy Lạp của conflagration (lửa). Trong thuyết này, Big Bang xảy ra sau khi bị tác động bởi một sự kiện khác, nghĩa là Big Bang không phải khởi đầu của vũ trụ, mà chỉ là một phần của quá trình.

Mở rộng lý thuyết về vũ trụ ekpyrotic lại dẫn đến một chuỗi lý thuyết khác gọi là vũ trụ học tuần hoàn (cyclic cosmology), nghĩa là sự hình thành của vũ trụ là một vòng lặp với chu kỳ vô hạn, sự vô hạn theo thời gian được tính bởi các điểm kỳ dị Big Bang tiếp theo.

Một chủ đề thú vị

Nhà vật lý học nổi tiếng Stephen Hawking từng bông đùa rằng vũ trụ có lịch sử không giống ai bởi không có điểm khởi đầu và kết thúc, nói rằng trước vụ nổ Big Bang là giai đoạn không có ranh giới. Cũng có lý thuyết cho rằng vụ nổ Big Bang không phải khởi đầu của mọi thứ, mà chỉ là khoảnh khắc vũ trụ chuyển từ thời kỳ co lại sang thời kỳ giãn nở.

Nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh sự hình thành vũ trụ khiến đây là đề tài thú vị của các nhà khoa học. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và quan sát mô hình gặp khá nhiều khó khăn. Rào cản lớn nhất chính là giải thích chúng sao cho phù hợp với thuyết nền vi sóng vũ trụ, bức xạ điện từ được sinh ra từ thời kỳ sơ khai của vũ trụ khoảng 380.000 năm sau Big Bang.

Tuy vậy, vũ trụ ekpyrotic vẫn là đề tài nghiên cứu thú vị trong nhiều năm. Một nghiên cứu đăng trên arXiv hồi tháng 1 đã đưa ra những thông tin về vũ trụ này. Trong khi đó, 2 nhà khoa học Robert Brandenberger và Ziwei Wang thuộc Đại học McGill (Canada) cho rằng tại thời điểm "nảy", khi vũ trụ co lại thành một điểm cực kỳ nhỏ và quay về trạng thái Big Bang chính là điều mà chúng ta muốn tìm hiểu.

Nói cách khác, một mô hình vật lý phức tạp sẽ là "chìa khóa" mở ra cái nhìn mới về cách vũ trụ hình thành và phát triển, tuy nhiên để thực hiện điều đó, con người sẽ phải đợi một mô hình thử nghiệm vũ trụ học mới để giải thích về vũ trụ ekpyrotic.

29 thg 4, 2020

NHỮNG LỜI DẠY CỦA THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH

Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội và nhà hoạt động hòa bình người Việt Nam. Thiền sư đồng thời cũng là người sáng lập tông phái Truyền thống Làng Mai, được lịch sử công nhận là nguồn cảm hứng chính và là người đưa ra khái niệm Phật giáo dấn thân. Ngài đã dành cả cuộc đời để mang đến cho Đạo, cho Đời những điều tốt đẹp và ý nghĩa nhất.

Những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh:

***
" Cũng như người làm vườn biết cách dùng phân bón để cho ra những bông hoa tươi đẹp, người tu tập biết tận dụng nỗi đau để tạo ra hạnh phúc "

***
" Thấu hiểu nỗi đau người khác là món quà to lớn nhất mà bạn có thể trao tặng họ. Thấu hiểu là tên gọi khác của yêu thương. Nếu bạn không thể thấu hiểu, thì bạn không thể yêu thương"

***
" Tự do có được nhờ tu tập và thói quen. Bạn phải tập bước đi như một người tự do, ngồi như một người tự do,  ăn như một người tự do. Bạn phải rèn luyện bản thân cách sống như thế " 

***
Khi nói "Tôi yêu bạn" có nghĩa là " Tôi có thể mang tới cho bạn sự bình yên và hạnh phúc". Để làm được điều đó, trước tiên, chính bạn phải là người có được những điều đó đã. 

***
Tĩnh lặng là điều cốt lõi. Chúng ta cần tĩnh lặng như chúng ta cần không khí, như cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta lúc nào cũng đầy áp những từ ngữ và suy tư, thì lấy đâu ra không gian cho chính chúng ta.

***
Khi một người tức giận bạn là do họ không giải quyết được nỗi đau buồn. Họ là nạn nhân đầu tiên của sự đau buồn đó, còn bạn là người thứ hai. Hiểu được điều này, lòng từ bi sẽ nảy nở và sự tức giận sẽ tan biến. Đừng trừng phạt họ, thay vào đó, hãy thấu hiểu và giúp họ vượt qua nỗi đau buồn này.

***
Đôi khi niềm vui mang tới nụ cười. Nhưng cũng đôi khi, chính nụ cười mang đến niềm vui.

***
Hạnh phúc khi được là chính mình. Bạn không cần phải được thừa nhận bởi kẻ khác.

***
Hãy mĩm cười, hít thở và bước đi thật chậm.

***
 Mỗi buổi sáng thức dậy, tôi lại mỉm cười. Hai mươi bốn giờ mới mẽ đang ở trước mắt tôi. Tôi nguyện sống trọn vẹn từng phút giây và trải nghiệm mọi thứ bằng ánh nhìn từ bi.

***
Những mầm mống khổ đau trong bạn có thể mạnh mẽ và dai dẳng, nhưng đừng đợi cho đến khi khổ đau qua hết rồi mới cho phép mình được hạnh phúc. Vì hạnh phúc nằm ngay trong khổ đau của bạn đấy.

***
Niềm hy vọng là điều rất quan trọng, nó giúp cho hiện tại bớt khắc nghiệt. Nếu ta hy vọng rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, ta sẽ chịu đựng được sự khó khăn của ngày hôm nay.

***

28 thg 4, 2020

CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT (1)

 ***

Buông bỏ chính là con đường dẫn đến sự bình an

***

Nguồn gốc mọi đau khổ của con người chính là sự dính mắc vào mọi thứ ".

***

Dứt nóng giận, trừ kiêu căng, không tham ái, buông dục vọng, sẽ giải thoát mọi ràng buộc và phiền não "

***

Phật Pháp là phương tiện để ta thực hành tu tập, ví như chiếc bè đưa ta qua sông, đến bến bờ giác ngộ và giải thoát, ta phải sử dụng chiếc bè ấy thật hữu ích để đến được bờ bên kia, chớ đừng vác chiếc bè ấy trên vai mà mãi nhìn về bờ giác như thế

***

Kết quả của việc thiền định không phải để đạt được tới tầng thứ mấy, thấy được cái gì, mà chính là tâm của bạn đã tĩnh lặng và bình an hay chưa "

***

Trong sạch và nhơ bẩn cũng đều tùy thuộc nơi mình. Không ai có thể làm cho người khác trong sạch hay ô nhiễm "

***

" Cuộc sống của chúng ta được định hình bởi chính tâm trí của chúng ta. Chúng ta sẽ trở thành những gì chúng ta nghĩ "

***

" Người chinh phục được chính mình còn vĩ đại hơn một nghìn lần người chinh phục ngàn người trên chiến trường "

***

" Không có nỗi sợ hãi nào với những ai có tâm trí tĩnh lặng và không còn ham muốn "

***

" Thế gian luôn đau buồn bởi cái chết và sự mất mác. Nhưng người trí tuệ không đau buồn vì họ nhận biết đó là bản chất của thế gian "

***

" Nếu không ai cùng đi trên con đường chánh đạo, hãy đi một mình, tự tu tập, an vui và giải thoát "

***

" Không có sự đau khổ nào lớn hơn sự thiếu hiểu biết "

***

" Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy không hề bị tàn lụi. Hạnh phúc không bao giờ cạn khi chúng ta biết sẻ chia "

***

Chúng ta thường tự thiêu đốt chính mình bằng ngọn lửa tham lam, sân hận, si mê, ngạo mạn và nghi kỵ... ngọn lửa ấy hừng hực nung nấu thân tâm. Thật uổng phí biết bao khi chúng ta sống một cuộc đời như thế 

***

Sở dĩ người ta đau khổ là do đeo đuổi những thứ sai lầm ở thế gian.

***

Nếu bạn không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho bạn. Tất cả do nội tâm bạn. Chỉ là bạn không chịu buông xuống.

***

Bạn hãy luôn cảm ơn những ai tạo ra nghịch cảnh cho bạn.

***

Bạn nên mở lòng khoan dung đối với kẻ khác, dù họ làm tổn thương bạn. Chúng ta buông bỏ để có được bình an đích thực.

***

Khi đang vui, bạn nên nghĩ rằng niềm vui này không lâu dài. Khi đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này rồi cũng không còn mãi.

***

Sự chấp trước ngày hôm nay sẽ là niềm khổ sầu cho ngày mai.

***

Bạn đã có thể gặp gỡ và yêu thương một ai đó nhưng đừng nên dính mắc, vì sự ly biệt là lẽ tất nhiên. Đã có hợp thì sẽ có tan, đã có sinh thì sẽ có diệt.

***

Đừng lãng phí cuộc sống mình tại những nơi mà nhất định bạn sẽ ân hận.

***

Khi nào bạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não.

***

Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành.

***

Chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, bạn mới có thể thay đổi người khác.

***

Bạn nên biết ơn mọi người và mọi vật, dù là bạn yêu thích hay chán ghét, bởi tất cả đều đóng góp một phần nhỏ vào cuộc đời của bạn. Nếu không có họ, thì bạn không thể tồn tại đến ngày hôm nay.

***

Bạn có thể đọc và thuộc rất nhiều kinh, nghe nhiều bài giảng của các vị tu sĩ, nhưng bạn không chịu hành trì tu tập, thì những phiền não của bạn vẫn còn nguyên ở đó.

***

Mỗi khi thức dậy, bạn hãy luôn mĩm cười vì bạn lại có thêm thời gian để trải nghiệm trọn vẹn cuộc sống nhiệm mầu.

***

Đừng lãng phí một phút giây nào để nhớ về quá khứ và tưởng đến tương lai. Hãy trân trọng cuộc sống trong phút giây hiện tại.

***

Chân lý của nhân sinh được hiển lộ trong cái bình thường và giản dị nhất.

***

Biết đứng ở góc độ của người khác để nghĩ và hiểu cho họ thì đó là lòng từ bi.

***

Mọi chúng sinh đều có sự sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được và biết quý trọng sự sống. Người không hiểu và không biết trân quý sự sống thì cuộc đời họ chỉ là những nỗi bất hạnh mà thôi.

***

Hãy biết ơn những gì ta đã có và hãy hài lòng những gì ta không có.

***

Mọi vật trên thế gian vốn dĩ không thuộc về bạn, vì thế bạn không cần cố gắng vứt bỏ nó. Cái cần vứt bỏ chính là tánh chấp ngã của bạn. Vạn vật đều hữu dụng, nhưng không thuộc về ai.

***

Khi tôi buồn rầu vì mình không có giày đẹp để mang, và tôi chợt nhận ra rằng có những người tàn tật không có chân.

***

Được sống thêm một ngày là hạnh phúc thêm một ngày, chúng ta nên trân quý từng phút giây hiện tại. 

***

Trước khi giác ngộ, gánh nước chẻ củi. Sau khi giác ngộ, gánh nước chẻ củi.


***
Trí huệ là sự hiểu biết, không phải một đức tin. Đừng vội tin cũng đừng vội bài bác, hãy khéo suy xét, kinh nghiệm thực tế ngay lúc này để thấu hiểu và thực chứng.

***

Khi thực hành hạnh bố thí, hãy dùng tâm chân thành và cung kính, không nên dùng tâm phân biệt để đối đãi.

***
Tất cả những ai thành khẩn trong việc tu hành nên chuẩn bị tinh thần để chịu đựng rất nhiều chướng ngại và khảo nghiệm.

***

Món quà tốt nhất bạn có thể trao cho người khác là chính bản thân bạn trở nên giác ngộ.

***

Đòi hỏi cuộc đời những thứ mà nó không thể trao cho bạn, thì bạn nên biết rằng mình đang đòi hỏi sự khổ. Bạn đang tạo ra khổ bằng những mong đợi của mình.

***

Mục đích thực sự của việc tu tập Phật Giáo là xả bỏ mọi thứ, không phải để có thêm nhiều thứ, chẳng hạn thêm nhiều thành tựu để thể hiện với người khác. 

***

Khi bạn nhìn thấy mọi mặt của sự việc và thấu hiểu nó, bạn sẽ không còn muốn phán xét điều gì nữa. Mọi vấn đề đều có nguyên nhân và điều kiện để tạo ra nó. Đây là bản chất của thế gian. Khi thấy mọi người làm những điều ngu ngốc cũng là một phần của cuộc sống ở thế gian, và mình chẳng thể làm được gì nhiều với nó, bạn mỉm cười và buông bỏ.

***

Khi bạn có trí huệ thấu tỏ những gì tạo ra sự an bình và hạnh phúc - một trí huệ không nhắm tới sự hoàn hảo, không bao giờ đòi hỏi những gì cuộc đời không thể cho bạn. Do sự sáng tỏ của nó, trí huệ ấy có khả năng tiêu trừ khổ.

***

"Bạn đi tới tự do, an bình và hạnh phúc từ những hiểu biết của mình thông qua giới hạnh, thiền hành và thiện tâm (giới-định-tuệ). Nhưng đừng để những thứ ấy gây áp lực đè nặng lên bạn. Nếu hiểu đúng về nó, bạn biết đó là thứ giải thoát bạn ra khỏi khổ, chứ không phải là một thứ gánh nặng mà buộc bạn vác lên vai".

***

Ý muốn là kẻ tra tấn, bào mòn trí não và đưa bạn đến khổ đau và tuyệt vọng. Ý muốn là biểu hiện của “cái tôi”. Càng buông bỏ cảm giác về một “cái tôi”, bạn càng giải thoát khỏi khổ dưới mọi hình tướng của nó.

***

Đức Phật từng nói sự ham muốn và dục lạc giống như một khoản vay; bất kỳ vui thú nào bạn có được từ trải nghiệm của các giác quan, bạn sẽ phải trả giá bằng sự thất vọng, vỡ mộng và khổ. Đây là món nợ vay đến hạn phải trả. 

***

Ý muốn là kẻ tra tấn, bào mòn trí não và đưa bạn đến khổ đau và tuyệt vọng. Ý muốn là biểu hiện của “cái tôi”. Càng buông bỏ cảm giác về một “cái tôi”, bạn càng giải thoát khỏi khổ dưới mọi hình tướng của nó.

***

Đi khắp thế gian để mưu cầu hạnh phúc là điều vô nghĩa. Rồi đến lúc cơ thể bạn hoàn toàn biến mất. Khi có một nhật thức trọn vẹn và bao trùm rằng mình thực sự chỉ là sự trống rỗng, bạn từ bỏ sự dính mắc đến mọi thứ ở thế gian, kể cả ý nghĩ và ham muốn. Không có gì ở đó, không có gì tái sinh. Hạt giống tái sinh đã bị trừ bỏ, không có gì mới được tạo ra. Đây là trải nghiệm niết bàn, là giải thoát và bình an tối hậu.

***

Hãy đề phòng sự tiêu cực, vì nó nuôi dưỡng cái tâm xét lỗi. Xét lỗi là một thái độ xuất hiện và tóm lấy bạn như một con rắn, nó đầu độc tâm bạn. Một khi sự xét lỗi đã bám rễ thì không bao giờ bạn có được bình yên. 






Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***