4 thg 7, 2020

LÒNG TỪ BI TRONG CUỘC SỐNG HIỆN ĐẠI

 Daisaku Ikeda

“Nếu bạn muốn người khác hạnh phúc, luyện tập từ bi. Nếu bạn muốn chính mình hạnh phúc, luyện tập từ bi”

-H.H.DaLaiLaMa

 TẬP QUAN TÂM ĐẾN NGƯỜI KHÁC

Có một người bạn nói với tôi: “Ngày nay dường như mọi người quá ích kỷ với nhau. Ngay cả trong nhóm bạn với nhau, tôi thấy phần lớn các bạn ấy cũng ít quan tâm đến nhau”.

Cách người ta cư xử với người khác, nhất là những người ở vị thế kém may mắn hơn, thể hiện khá rõ tính cách họ. Một cử chỉ yêu thương hay một câu nói đồng cảm có thể để lại ấn tượng không bao giờ phai.

Lúc 12 tuổi, tôi có làm công việc đi giao báo. Tôi muốn làm bất cứ điều gì để phụ giúp gia đình vì các anh trai tôi đã đi chiến đấu. Nghề của gia đình tôi là trồng tảo biển, vì thế có rất nhiều việc vặt, bắt đầu từ sớm tinh mơ. Trong khi cả thị trấn còn đang ngủ, tôi sẽ bắt đầu tuyến đường đưa báo của mình. Tôi nhớ đã đạp xe trong cái gió rét cắt da cắt thịt, hơi thở thì bốc khói, cái rét thấu vào tận xương. Tôi không mấy khi thấy mặt những người ở trong các nhà trên tuyến đưa báo của mình, nhưng trong những dịp hiếm hoi có gặp, họ cũng không tỏ ra thân thiện. Đến cả lũ chó của họ cũng làm khó tôi.

Nhưng tôi không bao giờ quên sự ấm áp và quan tâm của một cặp vợ chồng trẻ. Một ngày nọ, cô vợ trẻ đang bê bếp than củi vào hành lang để nấu cơm. Tôi chào và đưa cho cô tờ báo. Đón mừng tôi bằng một nụ cười ấm áp, cô cám ơn tôi và nhận xét rằng tôi lúc nào cũng thật nhanh nhẹn, vui tươi. Đưa cho tôi một xấp những miếng khoai tây ngọt sấy, cô giải thích rằng chúng được gửi từ quê cô ở phía Bắc Nhật Bản mấy ngày trước. Cô nói: “Cô hy vọng là cháu thích chúng” và gửi lời hỏi thăm cha mẹ tôi.

Trong một dịp khác, sau khi tôi kết thúc ca đi giao báo buổi tối, đôi vợ chồng mời tôi ở lại ăn tối. Họ hỏi nhiều câu hỏi về gia đình tôi. Tôi kể cho họ về cha mình, cha bị ốm rất nặng và phải nằm liệt giường. Người chồng, đã an ủi tôi: “Người nào phải vật lộn khi còn trẻ là người thực sự may mắn đấy. Hãy học thật chăm chỉ và cháu sẽ đạt được những điều tuyệt vời.” Mặc dù những việc này đã xảy ra 60 năm trước, lòng tốt và sự ân cần họ vẫn còn đọng lại trong tim tôi đến tận hôm nay.

LÒNG TỐT THẬT SỰ

 “Bạn cố gắng đối xử công bằng với mọi người. Như thế chưa đủ sao?”

Sống một cách chu đáo là việc của trái tim. Từ ân cần trong tiếng Nhật được ghép từ các chữ tượng hình: “người” và “quan tâm”. Vì thế, chu đáo là quan tâm đến người khác, là thông cảm với họ đặc biệt là khi họ đang phải vật lộn với buồn phiềnđau đớn và cô đơn. Những chữ tượng hình này cũng có nghĩa là “xuất sắc”. Một người chu đáo một cách chân thành, người hiểu được trái tim người khác, là một con người đặc biệt, một học viên danh giá của cuộc sống. Có được sự quan tâm như thế dành cho người khác là sống có nhân văn nhất. Đó là dấu hiệu của một nhân cách vượt trội.

Tuy nhiên, sống tử tế không giống như chu đáo. Chu đáo nghĩa là hành động dựa trên những cảm xúc tốt đẹp của bạn. Điều này đặc biệt đúng khi có sự bất công xuất hiện. Trên thực tếchúng ta thể hiện sự yếu đuối bằng cách không hành động vào thời điểm quyết định.

Sống ân cần nghĩa là khi người khác càng khổ đau, hành vi của họ càng khó chịu, bạn càng thể hiện nhiều tình yêu dành cho họ hơn. Làm như vậy mang lại cho bạn can đảm để giúp đỡ người khác. Ân cần còn có nghĩa là nhận ra bản chất trong sự bất hạnh của người khác, cố gắng hiểu và chia sẻ sự khổ đau cùng họ. Điều này sẽ giúp bạn trưởng thành và đồng thời giúp người khác trở nên mạnh mẽ. Sự ân cần là rất thiết thực, nó rèn luyện chính chúng ta trong nghệ thuật an ủi người khác.

Điều quan trọng không chỉ là thông cảm hay thương hại người khác mà là hiểu được họ đang trải qua điều gì. Thấu cảm đóng vai trò quyết định. Đôi khi, có người hiểu được mình ở bên họ có thể mang lại cho họ sức mạnh để tiếp tục.

Nhiều người trân trọng sự ân cần ở người khác và cũng muốn tỏ ra chu đáo, nhưng đồng thời, lại không muốn liên quan quá sâu. Những người này hiểu nhầm ý nghĩa của việc sống ân cần, họ nghĩ rằng nó có nghĩa là giữ một khoảng cách an toàn với người khác để không làm tổn thương họ hoặc chính mình. Nhưng, ngược lại, ân cần có nghĩa là cho phép bản thân gần gũi với người khác, quý trọng phẩm giá của mỗi người.

Tôi nghĩ đến một vị thầy giáo tốt bụng, được các học trò của ông kính yêu vô cùng. Khi được hỏi về bước ngoặt quyết định trong đời mình, ông đã nói về một chuyện tình cờ từ thời thơ ấu. Một ngày mùa đông lạnh giá, một người mẹ và cô con gái, những người biểu diễn trên phố để xin ăn, tới nhà ông. Người mẹ chơi một nhạc cụ có dây và hát trong khi đứa con gái nhảy múa. Ngoài trời tuyết rơi nhẹ, và ông vừa từ cửa hàng trở về với một túi bánh bao to. Ông ngồi ăn bánh trong khi xem họ biểu diễn. Khi bài hát kết thúc, ông vụng về đưa cho cô bé một nửa chiếc bánh bao ăn dở.

Nhìn thấy thế, cha ông chạy tới đầy tức giận và mắng ông. Người cha quay lại những người biểu diễn, cúi chào thật thấp và xin lỗi vì sự thiếu lịch sự của cậu con trai. Ông cũng nhất định bắt con trai mình cúi đầu xin lỗi. Sau khi đưa cho người mẹ và cô con gái một túi gạo nhỏ, ông lấy chỗ bánh còn lại của con trai mình và đưa cho cô bé.

Người cha muốn thể hiện với con trai ông rằng tất cả mọi người đều bình đẳng và xứng đáng được tôn trọng. Khi cậu bé lớn lên, cậu không bao giờ quên được bài học này và trở nên nổi tiếng vì lòng tốt của cậu dành cho người khác.

Đồng thời, tôi cũng nhớ tới người sáng lập ra tổ chức của chúng tôi, Tsunesaburo Makiguchi, người đã trở thành một vị hiệu trưởng đáng kính ở Tokyo. Khi ông còn là giáo viên dạy cấp 1 ở Hokkaido, trong suốt cơn bão tuyết, ông đã đi ra ngoài để đón học sinh khi chúng tới trường. Ông cũng có sẵn nước nóng trong phòng học để ngâm qua những bàn tay lạnh cóng của lũ trẻ, hỏi thăm chúng: “Con thấy thế nào? Có khá hơn không?”

Sau này, ông Makiguchi dạy ở một ngôi trường cho trẻ em nghèo. Thêm vào việc chăm lo cho 8 thành viên gia đình mình, trước khi rời nhà, ông còn chuẩn bị đồ ăn cho những học sinh đi học mà không có cơm trưa. Ông đặt những suất ăn trưa này ở một chỗ khuất nơi những đứa trẻ nghèo có thể lấy mà không thấy xấu hổ.

Khả năng từ bi của trái tim con người là vô cùng lớn.

CAN ĐẢM GIÚP ĐỠ

“Sẽ thế nào nếu bạn bị người khác chối bỏ hay thậm chí chế giễu vì cố giúp đỡ ai đó? Hoặc nếu việc mình đề nghị giúp đỡ lại làm người kia khó chịu?”

Chắc chắn là không thể biết được người khác sẽ phản ứng thế nào. Đôi khi chủ đích chân thành của bạn lại bị từ chối hoàn toàn hoặc bạn có thể bị cười chê, thậm chí nhạo báng. Hãy nhớ, dù cho điều này có xảy ra, quay đi và nổi giận với người bạn đang cố gắng giúp đỡ không có ích cho ai cả. Để cho nỗi thất vọng làm mình tê liệt cũng thật là ngốc.

Cuối cùng thì điều thực sự có ý nghĩa là ý định của bạn. Hãy can đảm nghe theo bản năng khi quyết định giúp đỡ mọi người. Bạn càng hành động vì người khác, cuộc đời bạn sẽ càng rộng mở, bất kể đối phương phản ứng với lòng tốt của bạn thế nào. Ân cần chính là sức mạnh, vì thế bạn càng ân cần với người khác, bạn càng trở nên mạnh mẽ.

Tsunesaburo Makiguchi không thích nhìn thấy ai đứng ỳ ra và không làm gì. Ông tin rằng những người tốt nhưng hèn nhát, không thể đấu tranh chống lại cái xấu, cuối cùng sẽ bị nó đánh bại. Ông thường nói:

Không làm điều tốt cũng không khác gì làm điều xấu. Hãy thử tưởng tượng ai đó đặt một tảng đá to đùng ngay giữa đường đi. Như thế thật độc ác vì nó sẽ gây khó khăn cho người qua lại. Rồi, ai đó tới và nhìn thấy vật cản đường to tướng ấy, thậm chí biết rằng nó sẽ gây hậu quả nghiêm trọng nhưng cứ để nó đó với thái độ: “À, mình có để nó ở đấy đâu.” Đây có vẻ như là một thái độ vô thưởng vô phạt, nhưng thực ra, không chuyển tảng đá đi cũng gây phiền phức cho người sẽ đi qua như việc đặt nó vào đó từ đầu.

Hầu như ai cũng có một tia lửa của sự ấm áp hay tình người trong tim. Không ai sinh ra đã lạnh lùng. Nhưng nếu qua thời gian, người ta chôn vùi hơi ấm của mình sâu trong tim họ vì sợ bị tổn thương, họ sẽ trở nên lạnh lùng và sắt đá. Tương tự, những người chỉ biết nghĩ đến mình và nghĩ ai cũng chống lại họ thường có xu hướng tự bọc mình trong tấm áo giáp của sự tàn nhẫn và tự đại. Hành vi như thế thật phi nhân tính.

Đức Phật luôn bắt đầu trò chuyện với mọi người để giúp họ đương đầu với những đau khổ của mình. Ngài không đợi người khác bắt chuyện với mình trước, cũng không lo lắng về việc họ có thể nghĩ gì về mình. Ngài chú tâm tới mọi người một cách ấm cúng và thoải mái.

THỂ HIỆN SỰ QUAN TÂM

“Cách tốt nhất để giúp đỡ mọi người là gì?”

Điều tối quan trọng là chân thành mong muốn thấy người khác được hạnh phúc. Và đó là điều mà chúng ta nên nỗ lực hướng tới mỗi ngày. Ông Makiguchi thường nói về việc phân loại việc tốt thành những việc tốt nhỏ, tốt vừa và cực tốt. Cách này cũng được áp dụng cho sự quan tâmquan tâm ít, quan tâm vừa và cực kỳ quan tâm.

Ví dụ, hình dung rằng bạn có một người bạn đang cần tiền ngay lập tức. Đưa tiền cho người bạn đó là việc tốt nhỏ, còn giúp họ tìm một công việc là việc tốt vừa.

Tuy nhiên, nếu bạn của bạn phải chịu đau khổ là do hậu quả của xu hướng tắc trách và lười biếng thì một món tiền hay một công việc đều không có ích gì. Tiền sẽ bị phung phí, và bạn của bạn chắc chắn sẽ mất việc vì những thói xấu của họ. Việc cực tốt là giúp người đó đối mặt và nhổ tận gốc thói lười biếng, cội nguồn đau khổ của họ - nói cách khác, giải thích và giúp họ định hướng xây dựng một hệ thống niềm tin đúng đắn.

Những người thực hành bài pháp tự làm chủ bản thân của Đạo Phật Nichiren, pháp giúp con người kiểm soát được cuộc sống của mình và làm mới lại ý chí của họ để sống vinh quang mỗi ngày, biết rằng chỉ hành động để sống hạnh phúc cho riêng mình thôi là chưa đủ. Không một ai có thể hạnh phúc trọn vẹn nếu những người xung quanh còn phải vật lộn. Vì thế, những người thực hành Đạo Phật nhận ra rằng điều chu đáo và ân cần nhất họ có thể làm là chia sẻ những bài pháp này với mọi người.

Thường thì những nỗ lực để làm những điều cực kỳ tốt dễ bị hiểu lầm. Không nghi ngờ gì, chính bạn hẳn cũng gặp sự đối kháng khi cố gắng giúp ai đó với sự quan tâm của mình. Nhưng, dù nỗ lực của bạn không được đánh giá cao vào lúc này, miễn là bạn hành động với sự chân thành tuyệt đối, mọi người rồi sẽ nhận ra sự thật và sẽ tin tưởng bạn. Đến lúc, họ sẽ thực sự biết ơn vì tình yêu, lòng tốt và hành động quyết liệt xuất phát từ sự quan tâm bạn dành cho họ.

ĐỐI DIỆN VỚI SỰ NHẪN TÂM

“Tôi lúc nào cũng bị trêu chọc vì tôi tàn tật.”

Những người cười nhạo và trêu cợt bạn thật là độc ác và suy nghĩ lệch lạc. Họ tạo nên một gánh Nghiệp xấu khủng khiếp cho chính mình bằng cách coi thường quyền được đối xử như một con người và được tôn trọng của bạn. Nhưng để cho những lời xúc phạm của họ tác động tới mình là một thất bại của bạn với tư cách là một con người. Dù sao, sự mạnh mẽ là vinh quang.

Vì thế, bạn phải mạnh mẽ hơn nữa. Cuộc đấu tranh của bạn cũng là một phần của cuộc đấu tranh giành nhân quyền. Làm cho người khác nhận ra quyền của bạn không chỉ là khiến cho họ hành động một cách cảm thông. Hãy tự hào về bản thân bạn với tư cách là một cá nhân, bất kể sự tàn tật của bạn. Hãy tự hào về sứ mệnh của bạn trong cuộc đời này. Để sống ân cần, chúng ta cần phải mạnh mẽ. Chúng ta cũng cần phải mạnh mẽ để bảo vệ nhân quyền, không chỉ của chúng ta mà của những người khác nữa.

ĐỐI DIỆN VỚI BẠO LỰC

“Nhiều bạn trẻ đang trở nên bạo lực. Vài người thậm chí còn tự hào vì nó. Bạn có thể làm gì để thay đổi tình hình không?”

Tôi hiểu rằng sau vụ thảm kịch Colorado ở trường trung học Columbia, trong vụ này nhiều học sinh 13 tuổi đã bị bắn chết, Tổng thống Clinton đã nói: “Chúng ta phải hướng tới bọn trẻ và dạy chúng cách bộc lộ sự phẫn nộ và giải quyết mâu thuẫn của chúng bằng lời nói, không phải bằng vũ khí”. Tôi hoàn toàn đồng ý. Chẳng gì có thể khiến tim tôi đau hơn sự thật là những người trẻ tuổi, những người sở hữu tiềm năng vô hạn cho tương lai, hủy hoại cuộc sống của họ và của những người khác.

Khi còn trẻ, tôi mất người anh cả trong Thế chiến Thứ II. Anh là một người thật nhân hậu, là người kịch liệt phản đối đường lối hành động của Nhật. Đau đớn trước cuộc xâm lược của Nhật vào Trung Quốc, anh nói: “Quân đội Nhật thật vô lương tâm. Anh thấy xót xa vô cùng cho nhân dân Trung Hoa.”

Tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh mẹ tôi nhìn từ phía sau, tấm lưng nhỏ của bà run lên khi tin về cái chết của đứa con trai cả của mình. Ngay lúc đó, tôi đã cảm nhận sâu sắc rằng chúng ta cần bãi bỏ chiến tranh và bạo lực khỏi trái đất, dù thế nào đi nữa.

Trong khi, tất nhiên, điều tối cần thiết là kiểm soát được những yếu tố bên ngoài của bạo lực bằng cách bãi bỏ vũ khí, phát triển nhiều hơn các luật tương đương và thiết lập thỏa thuận hòa bình giữa các nước, thì căn bản nhất, điều cần làm là phải hiểu được rằng bạo lực xuất phát từ điều kiện bẩm sinh của loài người. Đạo Phật đặt tên cho điều kiện này là thú tính, một trạng thái con người bị các thèm khát bản năng kích động và mất hết lý tính hay đạo đức. Thậm chí nếu chúng ta có quét sạch được hết vũ khí khỏi hành tinh này, bạo lực sẽ không bao giờ tiêu tan trừ khi chúng ta kiểm soát thành công thú tính trong ta. Vì lý do này, chúng ta cần phải thay đổi điều kiện của con người từ bên trong.

Tôi vẫn thường kêu gọi điều giống như một cuộc cạnh tranh nhân đạo, ở đó, tất cả những tôn giáo giảng dạy về lòng khoan dung và sự quan tâm, cạnh tranh xem mỗi tôn giáo có thể khuyến khích được bao nhiêu người quan tâm. Trong bất cứ trường hợp nào, giáo dục dựa trên phẩm giá của mỗi cá nhân cũng là giải pháp.

Bạo lực là một tội ác thuần túy. Bất kể điều bạn nói có đúng đến đâu, nếu bạn viện đến bạo lực để chứng minh điều đó, bạn vẫn là kẻ thất bại. Thậm chí nếu bạn dường như đã có được chiến thắng từ kết quả của một hành động bạo lực, kết cục bạn cũng sẽ bại trận.

Đạo Phật nhấn mạnh mối tương giao của tất cả sự sống. Chính khả năng nhận thức giới hạn của chúng ta mới khiến chúng ta đặt quá nặng khoảng cách “họ” và “chúng ta”. Chính do mối tương giao này, với việc sử dụng bạo lực, bạn không chỉ làm tổn hại và tàn phá người kia mà cả chính bạn. Những người sử dụng bạo lực và coi thường cuộc sống của người khác thực ra đang coi thường chính họ và phá hoại cuộc sống của chính họ.

Điều quan trọng là phải hiểu được rằng bản chất của bạo lực là sự hèn nhát. Bởi vì một người hèn nhát, anh ta hay cô ta mới trở nên bạo lực. Cá nhân đó không đủ can đảm để đàm thoại. Mahatma Gandhi nói hùng hồn rằng: “Bất bạo động không phải là cái vỏ của sự hèn nhát, mà đó là phẩm hạnh tối thượng của sự can đảm… Hèn nhát hoàn toàn không đồng nhất với bất bạo động… Bất bạo động hàm chứa khả năng đấu tranh.”

Trong tổ chức Soka Gakkai Quốc tế, giới trẻ Mỹ vẫn đang tiến hành những hoạt động kêu gọi chấm dứt bạo lực. Họ đang thực hiện ba lời thề sau đây:

  1. Tôi sẽ trân trọng cuộc sống của mình
  2. Tôi sẽ tôn trọng mọi sự sống
  3. Tôi sẽ truyền hy vọng đến cho người khác.

Khi mỗi người chúng ta đều có thể trân quý cuộc sống của chính mình, tự nhiên chúng ta cũng sẽ có thể trân trọng cuộc sống của những người khác.

Điều quan trọng là bạn phải hành động. Bắt đầu là bước đầu tiên. Số 0 là số 0 ngay cả khi nhân với nhiều số khác. Nhưng như những người Phương Đông thường nói: “1 là mẹ của hàng vạn.”

BẠO LỰC VỚI PHỤ NỮ

“Ngày nay, có vẻ như bạo lực về thể xác và tình dục với phụ nữ đang có xu hướng tăng cao. Có thể cải thiện được không?”

Không có gì thấp kém bằng bạo lực với phụ nữ. Bạo lực không thể được dung thứ. Tất cả đàn ông nên nhớ điều này, và họ nên tôn trọng những người phụ nữ cùng thời với họ như những người chị em, những người mà cuộc sống của họ đáng được trân trọng. Thật đáng hổ thẹn cho những người đàn ông không dịu dàng.

Phụ nữ bảo vệ bản thân bằng hiểu biết và sự khôn ngoan cũng cực kỳ quan trọng. Đã có nhiều nhóm, hội tổ chức ra đời để giúp đỡ phụ nữ. Khi bạn nhận ra cuộc sống của bạn quý giá thế nào, bạn sẽ làm mọi điều có thể để bảo vệ nó. Lưu ý đến lời khuyên của cha mẹ và những người bạn mà bạn tin tưởng là điều rất quan trọng.

Nạn nhân của bạo lực thường bị tổn thương sâu sắc về tinh thần và thể chất. Họ mất lòng tin vào nhân tính của mình và thường cảm thấy nhơ nhuốc như thể cuộc sống của họ đã bị hủy hoại. Nếu bạn là nạn nhân của bạo hành, xin hãy nhớ rằng, dù gì đi nữa, giá trị của bạn với tư cách là một cá nhân sẽ không bao giờ thay đổi. Hãy đứng thật vững. Hãy tự nhủ: “Mình không phải là người cho phép một việc như thế hủy hoại cuộc đời mình.” Không ai có thể hủy hoại đời bạn ở mức độ sâu sắc nhất. Bất kể bạn bị tổn thương đến đâu, bạn vẫn có thể giữ lại được cho mình phẩm giá căn bản – không ai có thể tước mất điều đó ở bạn mà không được sự cho phép của bạn.

Đạo Phật giảng về nguyên tắc rằng bông hoa sen trắng thuần khiết lớn lên từ ao bùn. Cũng giống như thế, trạng thái tối thượng của cuộc sống có thể hình thành khi phải sống giữa thực tại đau thương nhất.

Bất kể bạn cảm thấy chán nản đến đâu, ở đâu đó luôn có ai đó cũng đang chịu đựng tình cảnh tương tự, và bạn nói riêng, có thể giúp đỡ người đó nhờ sự thấu hiểu thông thường của bạn. Và có những tình cảm chân thành trong trái tim của những người khác mà chỉ bạn mới có thể khám phá. Bạn có thể không muốn rắc rối của mình liên quan đến người khác lắm, nhưng có được thậm chí chỉ một người bạn có thể tham khảo ý kiến về trải nghiệm của mình sẽ thay đổi hoàn toàn cách nhìn của bạn. Bạn không nên chịu đựng một mình. Cuộc đời bạn vốn dĩ đã có một tiềm năng vô cùng to lớn. Nếu bạn từ bỏ chính mình thì mọi chuyện chỉ càng kinh khủng hơn thôi, vì làm như vậy sẽ khuếch đại những tổn thất đã có. Đừng bao giờ cho phép sự khổ đau khiến bạn bỏ rơi con người thật của mình.

Có vẻ lạ lùng, nhưng những người đã phải chịu đựng nhiều nhất hay những người đã từng bị phiền lòng nhiều nhất có thể trở thành hạnh phúc nhất. Với những giọt nước mắt đã rơi, bạn có thể lau sạch cuộc đời mình và làm nó sáng lên. Dấn bước là điều cốt lõi của sống và là tinh thần của Phật tử.

3 thg 7, 2020

CÔNG ĐỨC NGHE PHÁP

Bài viết này của Quảng Tánh

xin phép được đăng tải lại để đại chúng cùng xem!

 

Thời Thế Tôn, nhiệm vụ trọng yếu của một Tỳ-kheo là tu học, khất thực và thuyết pháp. Cốt tủy của nội dung tu học là thiền định (tu) và nghe pháp (học). Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe pháp từ kim khẩu của Thế Tôn, nghe pháp từ chư vị Trưởng lão trong các hội chúng. Sau đó các Tỳ-kheo thường tụng đọc lại nội dung pháp thoại đã được nghe cho đến khi thuộc lòng.

Không chỉ các Tỳ-kheo, hàng Phật tử tại gia cũng luôn được Thế Tôn khuyến khích siêng năng nghe pháp. Các Phật tử có thể đến tinh xá vào buổi chiều để nghe Thế Tôn hoặc các vị Trưởng lão thuyết pháp. Mỗi sáng, sau khi dâng cúng thực phẩm, các Phật tử được nghe lời chúc phúc hay một pháp thoại ngắn từ các Tỳ-kheo đang trì bình khất thực.

Nhìn chung, hoạt động nghe pháp và thuyết pháp liên tục được diễn ra trong bốn chúng đệ tử Phật. Mỗi Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ đều tham gia nghe pháp và thuyết pháp. Quan trọng nhất là nghe pháp: Nghe để hiểu giáo pháp (văn), hiểu rồi thì suy ngẫm cho thấu triệt giáo pháp (tư), cuối cùng là ứng dụng giáo pháp vào trong đời sống hàng ngày (tu). Vì thế, tùy thời nghe pháp luôn được tán thán và khích lệ.

“Một thời, Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Tùy thời nghe pháp có năm công đức. Tùy thời lãnh thọ chẳng mất thứ lớp. Thế nào là năm? Điều chưa từng nghe sẽ được nghe; điều đã được nghe, đọc tụng lần nữa; cái thấy không bị tà, lệch; không có hồ nghi; liền hiểu nghĩa thậm thâm.

Tùy thời nghe pháp có năm công đức. Thế nên các Tỳ-kheo nên tìm phương tiện tùy thời nghe pháp. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, hoan hỷ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm Thính pháp, 

VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.385)

“Tùy thời nghe pháp có năm công đức”. Công đức đầu tiên của nghe pháp là nghe được điều chưa từng nghe. “Tu không học là tu mù” nên cần có pháp học để hỗ trợ cho pháp hành. Trong đạo Phật, mọi người đều phải học pháp, học liên tục, học trọn đời, học cho đến khi nào đạt đến bậc “vô học” mới thôi.

Cũng không nên ỷ lại, đã nghe pháp thoại ấy rồi nên không cần nghe nữa. Chúng ta không phải thần đồng hay thông thái, nghe xong pháp thoại liền nhớ, mà cần nghe đi nghe lại nhiều lần. Người học Phật cần nghe pháp cho đến khi “thâm nhập kinh tạng”, khiến cho giáo pháp trở thành máu thịt, làm một với mình.

Quan trọng nhất là nhờ nghe pháp mà thành tựu “cái thấy không bị tà, lệch”. Thời Thế Tôn, có một số vị nghe pháp loáng thoáng nên thuyết pháp và tu học theo chủ kiến của mình, không đúng với giáo pháp. Những vị này đã bị Thế Tôn khiển trách rất nặng nề. Và ngày nay, có không ít người là đệ tử Phật nhưng vì ít học hoặc có học mà chưa thấu đáo nên không nhận thức đúng về giáo pháp. Cái thấy, nhận thức về giáo pháp mà bị tà lệch thì chắc chắn không thể nào thực hành đúng lời Phật dạy.

Khi đã thấu triệt về giáo pháp rồi, “con đã thấy con đường đi” rồi thì chắc chắn không còn chút nghi ngờ, lung lạc. Người tin Phật mà chưa hiểu hoặc không hiểu giáo pháp thì dễ dàng bị thối thất trên đường đạo. Nhờ hiểu đúng và sâu sắc giáo pháp nên chắc chắn tin tưởng, tuyệt không chút nghi ngờ.

Pháp của Thế Tôn nói ra từ sự chứng ngộ của Ngài, nên không phải pháp nào nghe qua cũng hiểu rõ. Nên pháp học cần kết hợp với pháp hành, hành xong mới hiểu được sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp.

Ngày nay, tuy hoạt động thuyết pháp và nghe pháp vẫn được duy trì trong nội dung tu học của bốn chúng đệ tử Phật nhưng có thể chưa đúng mức và không mấy phổ biến nên chúng ta chưa thực sự hưởng được trọn vẹn năm công đức này. Đây cũng là điều đáng suy ngẫm của những người làm công tác hoằng pháp cũng như tất cả các đệ tử Phật.



2 thg 7, 2020

BUÔNG XẢ LÀ HẠNH PHÚC

 Quang Minh

Cuộc sống biến đổi không ngừng, và con người không nằm ngoài quy luật đó. Có khi chúng ta làm việc gì cũng không thuận lợi, có sự ngăn cản, có sự ràng buộc, có những phiền lụy. Nhưng lại có lúc chúng ta làm việc gì cũng rất thuận lợi, lại may mắn, tốt lành. Vậy nguyên do ở đâu mà lại có như vậy?

Chỉ có thể là nghiệp báo mỗi người ứng thời điểm đón nhận nghiệp quả mà thôi. Nên những nỗi khổ, những niềm bất hạnh, những phiền lụy khổ đau đó sinh ra mà tâm ta đón nhận theo tâm thế coi đó là nghiệp ta tạo ra nên giờ không tốt, và cái gì không tránh được thì chi bằng mở tâm đón nhận trong trạng thái buông xả, mọi vọng động chấp thủ chấp ngã chấp niệm đừng khởi tâm, mà tự bản thân rước lấy vào nỗi khổ trần lao.

Còn những điều tốt, may mắn có xảy ra, ta cũng như vậy. Cho dù có vui có thích nhưng hãy có chừng mực, coi đó là nghiệp báo nhân quả ta nhận được tốt lành do nhân quá khứ ta làm thiện, tích phước, sống tốt mà có hôm nay. Đừng vì phúc giây hạnh phúc của sự tốt lành, may mắn mà tự ngã bản thân, kiêu căng tự mãn, coi mình tài giỏi, khinh khi kẻ khác; làm vậy chỉ làm cho cái Ngã trong người mình lớn lên, che mờ tâm trí, gây bất ổn rối loạn trong tâm đó là tự chuốc lấy phiền não nghiệp chứng trong cái niềm hạnh phúc kia.

Vậy hạnh phúc may mắn nhiều lúc chưa phải điều tốt mà có khi kết quả đem lại tuy bề ngoài nhận được tài lợi hay niềm vui thích nhưng bên trong thì đánh mất chính bản tâm thanh tịnh của mình rồi. Và đó cũng không phải là niềm hạnh phúc chân thực. Chỉ khi nào tâm ta an tĩnh, buông xả ý niệm khổ đau hay tâm tư tham đắm hỷ lạc thì khi đó mới là chân hạnh phúc. 

Sự buông xả là ngoài không sở cầu trong không sở đắc. Buông là không bám chấp vào sự bên ngoài, xả là ý niệm tâm tư bên trong. Nên nói buông xả là đưa tâm về với yên nguyên thanh tịnh, không có gì khiến ta buồn, cũng không điều gì khiến ta vui. Chỉ tự tâm thanh tịnh thì khởi sự thanh bình yên vui trong tĩnh lặng đó là thứ hạnh phúc chân thực chúng ta cần đi kiếm. Đi là buông, kiếm là xả thì có vậy mới thấy được điều chúng ta cần thấy, biết những cái chúng ta cần biết, nhận được những gì mà chỉ khi nào tâm thanh tịnh mới có được mà thôi.

Vậy khi sự không tốt tới thì chúng ta cần nghĩ thoáng, coi đó là nghiệp mà đón nhận nhưng với tâm thế tích cực. Siêng năng làm thiện, sống chánh tâm thì ắt những gì không may sẽ giảm và chiêu cảm những gì tốt lành tới. Còn khi gặp may khi gặp những điều tốt thì cũng buông xả cái hỷ vô thường đó mà thanh tĩnh tâm ý ngõ hầu đưa tới tâm thuần thiện sống an lạc thì phước lành thêm thay. 

Ý Nghĩa Của Những Biểu Tượng Trong Đạo Phật

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 11/2020

Đạo Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay. Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp mônBắc tông, Nam tông, nguyên thủymật tông. Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độkim cang thừa… Nếu như qúy thầy, qúy học giả uyên thâmhiểu biết sâu nội dung cũng như những biểu tượng của Phật giáo thì những Phật tử sơ cơ như chúng mình thì hiểu biết cạn cợt, thậm chí không biết hoặc là biết một cách mơ hồ, sai lệch. Thực tế có nhiều Phật tử sơ cơ chúng mình hiểu về đạo rất cạn, những giáo lý căn bản cũng không nắm được, tuy cũng xưng là Phật tử, cũng đi chùa nhưng chỉ biết xì sụp lễ lạy, bỏ chút tiền vào thùng phước sương, cầu xin này nọ, nhờ thầy cầu an, cầu siêu… hiểu đạo chỉ nhiêu đó thì oan cho Phật quá. Đó là nội dung đạo, còn những biểu tượng trong nhà phật cũng chẳng biết ý nghĩa là gì. Đức Phật đã từng nói:” Tin ta mà không hiểu ta tức là phỉ báng ta”. Bài viết này không dám đề cập đến nội dung giáo lý, chỉ xin trình bày sơ lược chút ít ý nghĩa của những biểu tượng trong đạo Phật.

 Trong các biểu tượng của đạo Phậthoa sen có lẽ là một biểu tượng thông dụng nhất, sử dụng nhiều nhất. Hầu hết các pho tượng hay tranh vẽ về Phật, Bồ Tát đều ở tư thế ngồi hoặc đứng trên bông sen. Tại sao laị là bông sen mà không phải là một loại hoa nào khác? Hoa sen là loài hoa phổ biến ở Ấn Độ cũng như nhiều nước châu Á khác. Hoa sen mọc trong bùn lầy nhưng không dính bùn, hoa sen vượt lên trên bùn lầy để nở và toả hưong. Việc tạo tác hình tượng Phật và Bồ Tát đứng hay ngồi trên hoa sen là ngụ ý Phật và Bồ Tát cũng như hoa sen vậy. Vượt lên trên vũng bùn ngũ dục, không dính, không nhiễm, từ vũng bùn ngũ dục mà vươn lên để trở thành bậc chánh đẳng chánh giácHoa sen nở ra là có hạt ngay trong liên bồng, bởi thế ngụ ý  là nhân quả đồng thờinhân quả không tách rời được.  Hình tượng đức Phật sơ sinh bước bảy bước trên hoa sen quả là một hình tượng đẹp, ý nghĩa sâu xa, hiếm có một hình tượng nào của thế gian có thể hay hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Bảy hoa sen tượng trưng cho thất chúng, cũng có thể hiểu là ba thời và bốn phương, điều ấy muốn thể hiện Phật có khắp đông, tây, nam, bắc và có ở cả quá khứhiện tạivị lai. Khi đức Thế Tôn giơ cành hoa sen lên, pháp hội thánh chúng ngơ ngác không hiểu gì, chỉ có mỗi ngài Ca Diếp thoáng cười mỉn và đức Phật truyền trao phó chúc cho ngài. Hoa sen lúc này tượng trưng cho chánh pháp nhãn tạng của Như Lai. Ngài Ca Diếp hiểu được ẩn ý của Phật nên được phó chúc là thế. Hoa sen được dùng trang trí sâu rộng trong đạo Phật, trong nghệ thuật Phật giáo…

 Chúng ta thường thấy tôn tượng hay tranh vẽ đức bổn sư Thích Ca mâu Ni thường ngồi dưới cội bồ đề, thật sự chẳng có cây nào là cây bồ đề cả. Sa môn Cù Đàm ngồi thiền suốt bốn mươi chín ngày cho đến thành chánh đẳng chánh giác, cái cội cây ấy cũng nhờ thế mà được gọi là cây bồ đềBồ đề là tiếng Phạn, có nghĩa là giác ngộHữu tình chúng sanh mới có thể giác ngộ, vô tình chúng sanh không thể. Một khi chánh báo chuyển thì y báo chuyển theo, chánh báo là chính con người ấy, hữu tình chúng sanh ấy, y báo là hoàn cảnh nhân sự, vật chất chung quanh. Đức Phật là một hữu tình chúng sanh đã giác ngộ, nhờ đó mà cái cội cây ấy được gọi theo là bồ đề.

 Cụm từ “ Sư tử hống”, “ toà sư tử” thường lập đi lập laị trong kinh điển cũng như trong lời nói hàng ngày nơi cửa PhậtSư tử là vua trong loài thú, một khi nó rống lên thì chim muông thú rừng kinh sợ mà im lặng và không dám cử độngĐức Phật thuyết pháp được ví như sư tử hốngPhật thuyết pháp làm cho trời người ba cõi hoan hỷ nhưng ma vương và ngoại đạo phải kinh sợ, không dám tự tung tự tác. Lời thuyết pháp là sư tử hống, chỗ Phật ngồi là toà sư tử

 Biểu tượng chữ vạn thường thấy trên ngực các pho tượng Phật, được dùng trang trí trên nóc điện, cổng, ô gió và rất nhiều nơi trong chùa chiền, đền tháp, kinh sách… Chữ vạn có ý nghĩa là cát tườngthanh tịnh, tròn đầy công đức… là một trong ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp của đức Phật. Trong kinh tạng Pali của Phật giáo nguyên thủy thì không có đề cập đến chữ vạn. Chữ vạn vốn là chữ Swaskati (Phạn ngữ)xuất phát từ Ân Độ giáo và cũng có nhiều trong các nền văn minh Ấn- Âu. Biểu tượng chữ vạn ở Việt Nam hay các nước châu Á khác thì không có vấn đề gì, nhưng khi sử dụng chữ vạn ở Âu - Mỹ thì cần tế nhị một chút, đã từng xảy ra sự xô xát giữa sinh viên Phật tử Thái và sinh viên Do Thái. Nhiều người Âu - Mỹ - Do Thái không biết cái ý nghĩa của chữ vạn Swaskati, họ lầm lẫn với biểu tượng thập ngoặc của Đức Quốc Xã

 Lá cờ Phật giáo xuất hiện khá muộn so với quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo. Lần đầu tiên xuất hiện ở Colombo ( Sri Lanka) năm 1885. Sau đó ông Henry Steel Olcott, là đaị ý hải quân Mỹ, ông đến Tích Lan để nghiên cứu Phật học và đã đề xuất thay đổi và cho ra lá cờ ngũ sắc mà chúng ta thấy hiện nay. Tại đaị hội Phật giáo quốc tế năm 1950 ở Tích Lan đã công nhận  lá cờ ngũ sắc làm cờ chung cho Phật giáo quốc tế. Năm màu của lá cờ tượng trưng cho ngũ cănngũ lực ( Phật giáo Nhật thì quan niệm năm màu ấy tượng cho ngũ trí Như Lai). Màu trắng là tín, màu đỏ là tấn, màu vàng là niệm, màu xanh là định, màu cam là huệ. Giải màu hỗn hợp thì tượng trưng cho sự đoàn kết và thống nhất của Phật giáo toàn thế giới.

 Trong Phật giáo thường dùng hình tượng sư tử hay voi để trang trí, voi và sư tử cũng là biểu tượng thông dụng. Bà Ma gia phu nhân nằm mơ thấy voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu Suất đi xuống và vào hông phải của bà. Đó là điềm báo sanh thanh nhân, sáu ngà voi trắng tượng trưng cho lục độ ba la mật vậy. Tượng Bồ tát Phổ Hiển cỡi voi, bồ tát Văn Thù cỡi sư tử. Ấy là biểu trưng của nghệ thuật, thật sự các ngài chẳng cỡi voi hay sư tử chi cả. Voi to lớn vững vàngtrầm tĩnh, từng bước đi chắc chắn… tượng trưng cho đaị định. Sư tử vô cùng oai phong dõng mãnh, một khi nó cất tiếng rống thì muôn loài im bặtsư tử tượng trưng cho sự tinh tấn dõng mãnh vậy. Tượng ngài Phổ Hiền cỡi voi nhằm thể hiện sự đaị định, đức hạnh. Tượng ngài Văn Thù cỡi sư tử  cầm thanh gươm trí huệ tượng trưng cho sự dũng mãnh và tinh tấn, dùng trí huệ để phá phiền não vô minh.

 Phật tử chúng ta dù là theo Bắc Truyền hay Nam truyền cũng đều quen thuộc với hình ảnh đức Quán Thế Âm bồ tát cầm nhành dương liễu rưới nước cam lộPhật tử các nước Việt, Trung, Hàn, Nhật đều cung kính và xem đức Quán Thế Âm như mẹ hiền, dùng nhành dương liễu rưới nước cam lộ để dập tắt lửa phiền não, để cứu khổ ban vui. Nhành dương liễu có ý nghĩa nhẫn nhục, uyển chuyển. Bình Cam lộ còn gọi là tịnh bình tượng trưng cho sự thanh tịnh giới đức, nguồn an lạc vô biênlòng từ vô hạn. Cũng có người đọc kinh và sanh thắc mắc:” Rốt cuộc bồ tát Quán Thế Âm là nam hay nữ?”. Bồ tát vốn vô tướng, không có một tướng nhất địnhtùy tâm niệm chúng sanh mà hiện tướng. Ta có thể thấy Quán Thế Âm bồ tát có bốn tay, sáu tay, tám tay, ngàn mắt ngàn tay… Đó đều là ý nghĩa biểu trưng, các cánh tay trượng trưng cho năng lực, hành động, không gì mà không thể. Các con mắt tượng trưng cho sự soi xét thấu đáo những nỗi phiền não khổ đau của chúng sanhVô tri vô sở bất tri, vô năng vô sở bất năng

 Phật giáo Nam truyền ở Campuchia, Lào, Tháiland, Myanmar, miền Tây Nam bộ Việt Nam, Champa xưa… thuờng tạc tượng hay vẽ tranh đức Phật ngồi trong lòng rắn thần Naga, những cái đầu của nó vươn cao và xoè ra như cái lọng để che mưa nắng cho đức Phật. Theo truyền thuyết thì Naga đã che chở mưa nắng giông tố cho đức Phật trong bốn mươi chín ngày thiền định dưới cội cây. Rắn thần Naga và chim thần Garuda vốn là anh em cùng cha khác mẹ trong sử thi Mahabharata. Ban đầu rắn thần Naga  được sử dụng trong Hindu giáo nhưng dần dần được dùng trong Phật giáo như là vị thần hộ pháp.

 Nếu hoa sen là biểu tượng được sử dụng nhiều nhất trong Phật giáo thì bánh xe pháp có lẽ là đứng hàng thứ hai. Tuy là hàng thứ hai nhưng ý nghĩa còn quan trọng hơn biểu tượng hoa sen. Bánh xe pháp là tượng trưng cho giáo pháp của Thế Tôn. Bánh xe pháp được in trên kinh sách, tạc vào tường, bệ thờ, trên mái chùa… Bánh xe pháp tượng trưng cho sự thường chuyển của Phật phápPhật pháp cũng như muôn sự vật, sự việc của sơn hà đaị địa phải luôn luôn chuyển, chuyển là động, là sanh; không chuyển thì là hoaị, là chết. Phật pháp thượng trụ khắp mười phương ba đời, luôn chuyển khắp ba cõi. Bánh xe pháp có thể có tám căm, mười hai căm hoặc ngàn căm… Bánh xe pháp tượng trưng cho tứ thánh đếbát thánh đạo…Người Tây Tạng, Nepal chế ra luân xa cầm tay, họ xoay không ngừng dù là tụng kinh, niệm chú, hành thiền, kể cả nghỉ ngơi… luân xa cầm tay quay không ngừng để cho Phật pháp thường chuyển, để lời kinh, lời cầu nguyện tỏa ra trong trời đất. Bánh xe pháp tượng trưng cho giáo lý của Phật đà, có công năng đưa người từ mê đến giác, từ vô minh đến quang minh, từ địa ngục đến niết bàn… laị bánh xe pháp có thể nghiền nát mê lầmphiền não. Bánh xe pháp luôn tiến về trước…Hình tượng bánh xe pháp có rất sớm, cụ thể trên những phế tích từ thời vua Asoka đã có. Ngày nay bánh xe pháp được trân trọng trên lá cờ của nước Ấn Độ

 Trong các món pháp khí của Phật giáo, cây tích trượng thường được các thiền sư sử dụng, vừa là cây gậy vừa là vật giúp khai ngộ cho không ít trường hợp. Thiền sử kể thiền sư Lâm Tế thường dùng gậy với những chiêu: đả, hát, bổng đã khai ngộ cho nhiều đệ tử và hành giả. Cây tích trượng có ba bộ phận và mười hai cái khoen ( tượng trưng cho thập nhị nhân duyên). Những nhà sư khất thực dùng nó để đi đường, những cái khoen phát tiếng kêu làm cho súc sanh dưới đất biết mà tránh khỏi bước chân của các nhà sư, laị cũng để báo cho đàn na tín thí biết có nhà sư đến khất thực ở trước nhà mình. Tích trượng có tiếng Phạn là Khakhala, nghĩa là gậy đức hạnh và trí tuệ, có thể làm vơi phiền não, làm cho sáng suốt, hết khổ đau. Tích trượng còn là biểu tượng cho cho năng lực sức mạnh của chánh phápHình tượng ngài Địa Tạng bồ tát dùng tích trượng để mở địa ngụcphá địa ngục. Cầm tích trượng còn biểu thị chánh pháp phải hiểu tường tận thấu đáo, phải thực hành đúng như lời Phật dạyĐịa Tạng là đất tâm, dùng tích trượng là sức mạnh chánh pháp để mở cửa địa ngục cũng chính là khai mở cái tâm vọng, cái tâm mê mờ, cái vô minh. Các vị hoà thượng dùng tích trượng để tăng thêm phần oai nghi mỗi khi thượng đường, laị dùng để dẫn vong trong các đám tang giúp tăng thêm tín tâman tâm của tín đồ…

 Bình bát là vật dụng không thể thiếu đối với các tu sĩ Nam tông, nguyên thủy hay phái khất sĩBình bát dùng thâu nhận thức ăn cúng dường của tín thí, có thể xem như ruộng phước cho mọi người, vừa là cơ duyên để giáo hoá… Bình bát nêu gương sống phạm hạnhtam y nhất bát, đoạn trừ kiêu căng và ngã mạn, tránh xa hai thái cực hưởng thụ và khổ hạnh, đoạn trừ lòng tham tích chứa cất giữ…

 Phướn là một loại cờ, may bằng gấm, vải… có thể năm màu, trên ấy thêu tên Phật hay bồ tát, cũng có thể là câu thần chú hay câu kinh… treo phướn tượng trưng cho sự oai nghiêm của đức Phật, có nhiều tích giải thích khác nhau nhưng điều ấy không quan trọng, chính yếu là mình nhìn cờ phướn thì tín tâm tăng trưởng, lòng cung kính cũng rất mực, nhìn thấy phướn trong chánh điện như nhìn thấy Phật. Ngoài sân thì chỉ treo phướn vào những ngày lễ lớn, những sự kiện trong Phật giáo…Liên quan đến lá phướn, có một giai thoại thật hay. Năm ấy khi lục tổ Huệ Năng đến chùa Pháp Tính của ngài Ấn TôngHuệ Năng ( lúc này vẫn còn thân phận cư sĩ ) vô tình chứng kiến hai vị tăng đang bàn cãi: “phướn động hay gió động”, ngài bảo:” Chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải gió động mà tâm nhân giả động”. Giai thoại này trở thành một điển tích hay và đầy ý nghĩa trong thiền sử Bắc tông.

 Tràng thì may bằng vải, hình dạng giống như cái ống gió. Ngày xưa khi khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, việc thông báo truyền tin vô cùng hạn hẹp. Mỗi khi có pháp hội thì nhà chùa hay đạo tràng sẽ kéo tràng lên, ý nghĩa là cho biết ở đó sẽ có pháp hội hoặc có những sự kiện gì đấy trong đạo tràng…

Những biểu tượng trong đạo phật còn nhiều lắm,  những ý nghĩa hay ẩn ý cũng rất nhiều, có lẽ dành cho bài viết sau. Giờ xin nói thêm chút ít về ý nghĩa của việc dâng hương đăng hoa quả cúng dường. Việc dâng hoa quả là thể hiện tâm thành của mình, không phải dâng để Phật, bồ tát hưởng. Chư Phật cần gì đến hoa quả, hoa là tượng trưng cho nhân, quả là cái quả, nhân nào thì quả nấy, gieo nhân sẽ gặt quả. Hương, trầm là tượng trưng cho ngũ phần hương: giới, định, huệ, giải thoátgiải thoát tri kiến…Ngọn đèn tượng trưng cho quang minh, ánh sánh, trí huệ… dùng trí huệ phá vô minh, dùng trí huệ để phá mê mờ phiền nãoĐạo Phật là đạo của trí huệ, không dụng cảm tình hay sự mơ hồ mê tín. Ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, ai ăn nấy no, ai uống thuốc người ấy hết bệnh…

Tóm laị việc dâng hương đăng hoa quả là biểu hiện lòng thành kính, là lễ nghi, là xưng dương, là thực hiện các pháp lành…Mình phải hiểu chút chút thì mình mới có thể tu học Phật. Tu mà không học là đi mà không biết đi đâu, đi như thế nào và sẽ về đâu.Học mà không tu thì chỉ như cái đãy sách, miệng nói thao thao mà chẳng chịu đi, bệnh cũng chẳng hết. Mình đọc kinh sách, niệm Phật, ngồi thiền… để ba nghiệp thanh tịnh, để hiểu nghĩa lý kinh sách và lời Phật dạy, để phân biệt chánh tà. Đạo Phật có mặt ở thế gian này đã hai mươi lăm thế kỷ rồi, tuy có lúc thịnh suyĐạo Phật truyền đến đâu thì thích ứng với văn hoá địa phương và căn cơ của cư dân ở đấy. Cứ đến mỗi địa phương với nền văn hoá khác nhau thì laị bổ sung thêm những sắc thái mới, có thêm biểu tượng mới. Tuy nhiên cái cốt lõi của đạo Phật thì không thay đổi, cho dù đó là dòng Bắc truyền, Nam truyền, nguyên thủy hay mật tông… Đạo Phật vẫn duy nhất một vị giải thoát, một mục đích duy nhất thức tỉnh và giác ngộ chúng sanh. Hai mươi lăm thế kỷ quả là dài so với một đời người nhưng chẳng là bao so với dòng thời gian vô thủy vô chungGiáo pháp của Thế Tôn vẫn tồn tại cho đến khi có một vị Phật khác ra đời. Pháp Phật vẫn thường chuyển suốt quá khứhiện tại và vị lai, vẫn thường chuyển trong khắp mười phương hư không.

 


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***