TIỂU LỤC THẦN PHONG
Ất
Lăng thành, 11/2020
Đạo
Phật đồng hành với dân tộc đã hơn hai ngàn năm nay.
Người Việt tiếp xúc với đạo Phật hầu như đủ các trường phái, pháp môn: Bắc tông, Nam tông, nguyên thủy, mật tông.
Trong các tông ấy laị chia chi li hơn nữa như: thiền
tông ( của cả Bắc lẫn Nam truyền), tịnh độ, kim cang thừa…
Nếu như qúy thầy, qúy học giả uyên thâm, hiểu biết sâu
nội dung cũng như những biểu tượng của Phật giáo thì những Phật
tử sơ cơ như chúng mình thì hiểu
biết cạn cợt, thậm chí không biết hoặc là biết một cách mơ hồ, sai lệch. Thực tế có
nhiều Phật tử sơ
cơ chúng mình hiểu về đạo rất
cạn, những giáo lý căn bản cũng không
nắm được, tuy cũng xưng là Phật tử,
cũng đi chùa nhưng chỉ biết xì
sụp lễ lạy, bỏ chút tiền vào thùng phước
sương, cầu xin này nọ, nhờ thầy cầu an, cầu siêu… hiểu đạo chỉ nhiêu đó thì oan cho
Phật quá. Đó là nội dung đạo, còn những biểu tượng trong
nhà phật cũng chẳng biết ý nghĩa là
gì. Đức Phật đã từng nói:” Tin ta mà
không hiểu ta tức là phỉ báng ta”. Bài
viết này không dám đề cập đến nội dung giáo lý,
chỉ xin trình bày sơ lược chút
ít ý nghĩa của những biểu tượng trong đạo
Phật.
Trong các biểu tượng của đạo
Phật, hoa sen có lẽ là
một biểu tượng thông dụng nhất, sử
dụng nhiều nhất. Hầu hết các pho tượng hay tranh vẽ về Phật, Bồ Tát đều ở tư thế ngồi hoặc đứng trên bông sen.
Tại sao laị là bông sen mà không phải là một loại hoa nào khác? Hoa sen là loài hoa phổ
biến ở Ấn Độ cũng như
nhiều nước châu Á khác. Hoa sen mọc
trong bùn lầy nhưng không dính
bùn, hoa sen vượt lên trên bùn lầy để nở và toả hưong. Việc tạo tác hình tượng Phật và Bồ
Tát đứng hay ngồi trên hoa sen là
ngụ ý Phật và Bồ Tát cũng như hoa sen vậy. Vượt lên trên vũng bùn ngũ dục, không dính, không nhiễm, từ vũng bùn ngũ dục mà vươn lên để trở thành bậc chánh
đẳng chánh giác. Hoa sen nở ra
là có hạt ngay trong liên bồng, bởi thế ngụ ý là nhân quả đồng thời, nhân
quả không tách rời được. Hình
tượng đức Phật sơ sinh bước bảy
bước trên hoa sen quả là một hình tượng đẹp, ý
nghĩa sâu xa, hiếm có một hình tượng nào của thế
gian có thể hay hơn, nhiều ý nghĩa hơn.
Bảy hoa sen tượng
trưng cho thất chúng, cũng có
thể hiểu là ba thời và bốn phương, điều ấy muốn thể
hiện Phật có khắp đông, tây, nam, bắc và có ở cả quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi đức Thế Tôn giơ
cành hoa sen lên, pháp hội thánh chúng ngơ
ngác không hiểu gì, chỉ có mỗi ngài Ca Diếp thoáng
cười mỉn và đức Phật truyền trao phó chúc cho ngài. Hoa
sen lúc này tượng trưng cho chánh pháp nhãn tạng của Như Lai. Ngài Ca Diếp hiểu
được ẩn ý của Phật nên được phó chúc là thế. Hoa
sen được dùng trang trí sâu rộng trong đạo Phật, trong nghệ thuật Phật giáo…
Chúng ta thường thấy tôn tượng hay tranh vẽ đức bổn sư Thích Ca mâu Ni thường ngồi dưới cội bồ đề, thật sự chẳng có cây nào là cây bồ đề cả. Sa môn Cù Đàm ngồi thiền suốt
bốn mươi chín ngày cho đến thành chánh đẳng chánh giác, cái cội cây ấy cũng nhờ thế mà
được gọi là cây bồ đề. Bồ đề là tiếng Phạn, có nghĩa là giác ngộ. Hữu tình chúng sanh mới có thể giác ngộ, vô tình chúng
sanh không thể. Một khi chánh báo chuyển
thì y báo chuyển theo, chánh báo là chính con
người ấy, hữu tình chúng sanh ấy, y báo là hoàn cảnh nhân sự, vật
chất chung quanh. Đức Phật là
một hữu tình chúng
sanh đã giác ngộ, nhờ đó mà cái
cội cây ấy được gọi theo là bồ đề.
Cụm từ “ Sư tử hống”, “ toà sư tử” thường lập đi lập laị
trong kinh điển cũng như trong lời nói hàng ngày nơi cửa Phật. Sư tử là
vua trong loài thú, một khi nó rống lên thì chim muông thú rừng kinh sợ
mà im lặng và không dám cử động. Đức Phật thuyết pháp được ví
như sư tử hống. Phật thuyết pháp làm cho trời người ba cõi hoan hỷ nhưng ma vương và ngoại
đạo phải kinh sợ, không dám tự tung tự tác. Lời thuyết pháp là sư tử
hống, chỗ Phật ngồi là toà sư tử
Biểu tượng chữ vạn thường thấy trên ngực các
pho tượng Phật, được dùng trang trí trên
nóc điện, cổng, ô gió và rất nhiều nơi trong chùa chiền, đền tháp, kinh sách…
Chữ vạn có ý nghĩa là cát tường, thanh tịnh,
tròn đầy công đức… là một trong ba mươi hai tướng
tốt tám mươi vẻ đẹp của đức Phật.
Trong kinh tạng Pali của Phật giáo nguyên thủy thì không có đề cập đến chữ
vạn. Chữ vạn vốn là chữ Swaskati (Phạn ngữ)xuất phát từ Ân Độ
giáo và cũng có nhiều trong các nền văn minh Ấn-
Âu. Biểu tượng chữ vạn ở Việt Nam hay các nước châu Á khác thì không
có vấn đề gì, nhưng khi sử dụng chữ vạn ở Âu - Mỹ thì cần tế nhị một chút, đã từng xảy ra sự xô xát giữa
sinh viên Phật tử Thái và sinh
viên Do Thái. Nhiều người Âu - Mỹ - Do Thái không biết cái ý nghĩa của chữ vạn Swaskati, họ lầm lẫn với biểu
tượng thập ngoặc của Đức Quốc Xã
Lá cờ Phật giáo xuất hiện khá
muộn so với quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo. Lần đầu tiên xuất
hiện ở Colombo ( Sri Lanka) năm 1885. Sau đó ông
Henry Steel Olcott, là đaị ý hải quân Mỹ, ông đến Tích
Lan để nghiên cứu Phật học và đã đề
xuất thay đổi và cho ra lá cờ ngũ sắc mà chúng ta thấy hiện nay. Tại đaị hội Phật giáo quốc tế năm 1950 ở Tích Lan đã công
nhận lá cờ ngũ sắc làm cờ
chung cho Phật giáo quốc tế. Năm màu
của lá cờ tượng trưng cho ngũ căn, ngũ lực ( Phật giáo Nhật thì quan
niệm năm màu ấy tượng cho ngũ trí Như
Lai). Màu trắng là tín, màu đỏ là tấn, màu vàng là niệm, màu xanh là
định, màu cam là huệ. Giải màu hỗn hợp thì tượng trưng cho sự đoàn kết và thống nhất
của Phật giáo toàn thế giới.
Trong Phật giáo thường dùng hình tượng sư tử hay
voi để trang trí, voi và sư tử cũng
là biểu tượng thông
dụng. Bà Ma gia phu nhân nằm mơ thấy voi trắng sáu ngà từ cung trời Đâu Suất đi
xuống và vào hông phải của bà. Đó là điềm báo sanh thanh nhân, sáu
ngà voi trắng tượng trưng cho lục độ ba la mật vậy. Tượng Bồ tát Phổ Hiển cỡi voi, bồ tát Văn Thù cỡi sư tử. Ấy là biểu trưng của nghệ thuật, thật sự các
ngài chẳng cỡi voi hay sư tử chi cả.
Voi to lớn vững vàng, trầm tĩnh, từng bước đi chắc chắn… tượng trưng cho đaị định. Sư tử vô cùng oai
phong dõng mãnh, một khi nó cất tiếng rống
thì muôn loài im bặt, sư tử tượng trưng cho
sự tinh tấn dõng mãnh vậy. Tượng
ngài Phổ Hiền cỡi voi nhằm thể hiện sự đaị định, đức hạnh. Tượng ngài Văn
Thù cỡi sư tử cầm
thanh gươm trí huệ tượng trưng cho sự dũng
mãnh và tinh tấn, dùng trí huệ để phá phiền
não vô minh.
Phật tử chúng ta dù
là theo Bắc Truyền hay Nam truyền cũng đều quen thuộc với hình
ảnh đức Quán Thế Âm bồ tát cầm
nhành dương liễu rưới nước cam lộ. Phật tử các nước Việt, Trung, Hàn, Nhật đều cung kính và xem đức Quán Thế Âm như mẹ hiền, dùng nhành dương liễu
rưới nước cam lộ để dập tắt lửa phiền
não, để cứu khổ ban vui. Nhành
dương liễu có ý nghĩa nhẫn nhục, uyển chuyển. Bình Cam lộ còn gọi là tịnh
bình tượng trưng cho sự thanh tịnh giới đức, nguồn an lạc vô biên, lòng từ vô hạn. Cũng có người đọc kinh và sanh thắc mắc:” Rốt cuộc bồ tát Quán Thế
Âm là nam hay nữ?”. Bồ tát vốn vô tướng, không có một tướng nhất định, tùy tâm niệm chúng sanh mà hiện
tướng. Ta có thể thấy Quán Thế Âm bồ tát có
bốn tay, sáu tay, tám tay, ngàn mắt ngàn tay… Đó đều là ý nghĩa biểu trưng, các cánh tay trượng trưng
cho năng lực, hành động, không gì mà không
thể. Các con mắt tượng trưng cho
sự soi xét thấu đáo những nỗi phiền não khổ đau của chúng sanh. Vô tri vô sở bất tri, vô
năng vô sở bất năng
Phật giáo Nam truyền ở Campuchia, Lào, Tháiland,
Myanmar, miền Tây Nam bộ Việt Nam, Champa xưa… thuờng tạc tượng hay vẽ tranh đức Phật ngồi trong lòng rắn thần Naga, những cái
đầu của nó vươn cao và xoè ra như cái lọng để che
mưa nắng cho đức Phật.
Theo truyền thuyết thì Naga đã che chở mưa nắng giông tố cho đức Phật trong bốn mươi chín ngày thiền định dưới cội cây. Rắn thần Naga và chim
thần Garuda vốn là anh em cùng cha khác mẹ trong sử thi Mahabharata. Ban đầu rắn thần Naga được sử dụng trong Hindu giáo nhưng dần dần được dùng trong Phật giáo như là vị thần hộ pháp.
Nếu hoa sen là biểu
tượng được sử dụng nhiều
nhất trong Phật giáo thì bánh xe pháp
có lẽ là đứng hàng thứ hai. Tuy là hàng thứ hai nhưng ý nghĩa còn quan trọng hơn biểu tượng hoa sen.
Bánh xe pháp là tượng trưng cho giáo pháp của Thế
Tôn. Bánh xe pháp được in trên kinh sách, tạc vào tường, bệ thờ, trên
mái chùa… Bánh xe pháp tượng trưng cho
sự thường chuyển của Phật pháp. Phật pháp cũng như muôn sự vật, sự việc của sơn
hà đaị địa phải luôn luôn chuyển, chuyển là động, là sanh; không chuyển thì là
hoaị, là chết. Phật pháp thượng trụ
khắp mười phương ba đời, luôn chuyển khắp ba
cõi. Bánh xe pháp có thể có tám căm, mười hai căm hoặc ngàn căm… Bánh
xe pháp tượng trưng cho tứ thánh đế, bát thánh đạo…Người Tây Tạng, Nepal chế ra luân xa cầm tay, họ xoay không
ngừng dù là tụng kinh, niệm chú, hành
thiền, kể cả nghỉ ngơi… luân xa cầm tay quay không ngừng để cho Phật pháp thường chuyển, để lời kinh, lời cầu nguyện tỏa ra trong
trời đất. Bánh xe pháp tượng trưng cho giáo lý của Phật đà,
có công năng đưa người từ mê đến giác,
từ vô minh đến quang minh, từ địa ngục đến
niết bàn… laị bánh xe pháp có thể nghiền nát mê
lầm, phiền não. Bánh xe pháp luôn
tiến về trước…Hình tượng bánh xe pháp có rất sớm, cụ
thể trên những phế tích từ thời vua Asoka đã có. Ngày nay bánh xe
pháp được trân trọng trên lá cờ của
nước Ấn Độ
Trong các
món pháp khí của Phật giáo, cây tích
trượng thường được các thiền sư sử dụng, vừa là cây gậy vừa là vật giúp khai ngộ cho không ít trường hợp. Thiền sử kể thiền
sư Lâm Tế thường dùng gậy với những chiêu: đả, hát, bổng
đã khai ngộ cho nhiều đệ tử và hành giả.
Cây tích trượng có ba bộ phận và mười
hai cái khoen ( tượng trưng cho thập nhị nhân duyên). Những nhà sư khất thực dùng
nó để đi đường, những cái khoen phát tiếng kêu làm cho súc sanh dưới đất biết
mà tránh khỏi bước chân của các nhà sư, laị cũng để báo cho đàn na tín thí biết
có nhà sư đến khất thực ở trước nhà mình. Tích trượng có tiếng Phạn là Khakhala, nghĩa là
gậy đức hạnh và trí tuệ, có thể làm vơi phiền
não, làm cho sáng suốt, hết khổ
đau. Tích trượng còn là biểu tượng cho cho năng
lực sức mạnh của chánh pháp. Hình tượng ngài Địa Tạng bồ tát dùng tích trượng để mở địa
ngục, phá địa ngục. Cầm tích trượng còn biểu
thị chánh pháp phải hiểu tường
tận thấu đáo, phải thực hành đúng
như lời Phật dạy. Địa Tạng là đất tâm, dùng tích trượng là sức
mạnh chánh pháp để mở cửa địa ngục cũng chính là khai mở cái tâm vọng,
cái tâm mê mờ, cái vô minh. Các vị hoà thượng dùng tích
trượng để tăng thêm phần oai nghi mỗi
khi thượng đường, laị dùng để dẫn vong
trong các đám tang giúp tăng thêm tín tâm, an tâm của tín đồ…
Bình bát là vật dụng không
thể thiếu đối với các tu sĩ Nam tông, nguyên thủy hay phái khất sĩ. Bình bát dùng
thâu nhận thức ăn cúng dường của tín
thí, có thể xem như ruộng phước cho mọi
người, vừa là cơ duyên để giáo
hoá… Bình bát nêu gương sống phạm hạnh, tam y nhất bát,
đoạn trừ kiêu căng và ngã mạn, tránh xa hai thái
cực hưởng thụ và khổ hạnh, đoạn
trừ lòng tham tích chứa cất giữ…
Phướn là một loại
cờ, may bằng gấm, vải… có thể năm màu, trên ấy thêu tên Phật hay bồ tát, cũng có thể là câu thần chú hay câu kinh… treo phướn tượng trưng cho sự oai nghiêm của đức Phật, có nhiều tích giải
thích khác nhau nhưng điều ấy không quan trọng, chính yếu là mình nhìn cờ phướn thì tín tâm tăng trưởng,
lòng cung kính cũng rất mực, nhìn thấy
phướn trong chánh điện như nhìn thấy
Phật. Ngoài sân thì chỉ treo phướn vào những ngày lễ lớn, những sự kiện trong Phật giáo…Liên quan đến lá phướn,
có một giai thoại thật hay. Năm ấy
khi lục tổ Huệ Năng đến chùa Pháp Tính của ngài Ấn
Tông, Huệ Năng ( lúc này vẫn
còn thân phận cư
sĩ ) vô tình chứng kiến hai
vị tăng đang bàn cãi: “phướn động hay gió
động”, ngài bảo:” Chẳng phải phướn động, cũng chẳng phải gió động mà tâm nhân giả động”. Giai
thoại này trở thành một
điển tích hay và đầy ý nghĩa trong
thiền sử Bắc tông.
Tràng thì may bằng
vải, hình dạng giống như cái ống gió. Ngày xưa khi
khoa học kỹ thuật còn lạc hậu, việc thông báo truyền tin vô cùng hạn hẹp. Mỗi khi có pháp hội thì nhà chùa hay đạo tràng sẽ kéo tràng lên, ý nghĩa là cho biết ở
đó sẽ có pháp hội hoặc có những sự kiện gì đấy trong đạo tràng…
Những biểu tượng trong đạo
phật còn nhiều lắm, những ý
nghĩa hay ẩn ý cũng rất
nhiều, có lẽ dành cho bài viết sau. Giờ xin nói thêm chút ít về ý nghĩa của việc dâng
hương đăng hoa quả cúng dường. Việc dâng hoa quả
là thể hiện tâm
thành của mình, không phải dâng để Phật, bồ tát hưởng. Chư Phật cần gì đến hoa quả, hoa là tượng
trưng cho nhân, quả là cái quả, nhân nào thì quả nấy, gieo nhân sẽ
gặt quả. Hương, trầm là tượng trưng cho ngũ phần hương: giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến…Ngọn đèn tượng trưng cho quang minh, ánh sánh, trí huệ… dùng trí huệ phá vô minh,
dùng trí huệ để phá mê mờ phiền não. Đạo Phật là
đạo của trí huệ, không dụng cảm tình hay sự mơ
hồ mê tín. Ông tu ông đắc, bà tu bà
đắc, ai ăn nấy no, ai uống thuốc người ấy hết bệnh…
Tóm laị việc dâng hương đăng hoa
quả là biểu hiện lòng thành kính,
là lễ nghi, là xưng dương, là thực hiện các pháp lành…Mình phải hiểu chút chút
thì mình mới có thể tu học Phật. Tu mà
không học là đi mà không biết đi đâu, đi như thế nào và sẽ về đâu.Học mà không
tu thì chỉ như cái đãy sách, miệng nói thao thao mà chẳng chịu đi, bệnh cũng
chẳng hết. Mình đọc kinh sách, niệm Phật, ngồi thiền… để ba nghiệp thanh tịnh,
để hiểu nghĩa lý kinh sách và lời Phật dạy, để phân
biệt chánh tà. Đạo Phật có
mặt ở thế gian này đã hai mươi lăm thế
kỷ rồi, tuy có lúc thịnh suy. Đạo Phật truyền đến đâu thì thích ứng với văn hoá địa phương và căn cơ của cư dân ở đấy. Cứ đến mỗi địa phương
với nền văn hoá khác nhau thì laị bổ sung thêm những sắc thái mới, có
thêm biểu tượng mới. Tuy nhiên cái cốt
lõi của đạo Phật thì không
thay đổi, cho dù đó là dòng Bắc truyền, Nam truyền, nguyên thủy hay mật tông… Đạo Phật vẫn duy
nhất một vị giải thoát,
một mục đích duy
nhất thức tỉnh và giác ngộ chúng sanh.
Hai mươi lăm thế kỷ quả là dài so với một đời người
nhưng chẳng là bao so với dòng thời gian vô thủy vô chung. Giáo
pháp của Thế Tôn vẫn tồn tại cho đến khi
có một vị Phật khác ra đời. Pháp Phật vẫn thường chuyển suốt quá khứ, hiện tại và vị lai, vẫn thường chuyển trong khắp mười phương hư không.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét