5 thg 11, 2020

NGHI THỨC TRÌ TỤNG THẬP CHÚ

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Chùa Hoằng Pháp

NGHI THỨC TRÌ TỤNG THẬP CHÚ

KỆ TÁN PHẬT

Đấng pháp vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loài

Quy y tròn một niệm

Dứt sạch nghiệp ba kỳ

Xưng dương cùng tán thán

Ức kiếp không cùng tận

QUÁN TƯỞNG

Phật, chúng sinh tính thường rỗng lặng

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn

Lưới đế châu ví đạo tràn

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện

Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai Thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta-bà giáo chủ điều ngự Bỏn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, Đương lai hạ sinh Di-lặc tôn Phật, Đại trí Van Thù Sư-lợi Bồ-tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ-tát, Hộ pháp chư tôn Bồ-tát, Linh Sơn hội thượng Phật Bồ-tát (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại từ Đại bi A-di-đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát, Đại Thế Chí Bồ-tát, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát, Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ-tát (1 lạy).

DÂNG HƯƠNG

Lư hương xạ nhiệt

Pháp giới mông huân

Chư Phật hải hội tất diêu văn

Tùy xứ kiết tường vân

Thành ý phương ân

Chư Phật hiện toàn thân

Nam mô Hương Vân Cái Bồ-tát Ma-ha-tát (3 lần)

* * *

CHÚ ĐẠI BI

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị đa, bà lô kiết đế, thước bát ra da, Bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô yết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha Bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra, Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra, hô lô hô lô, hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, Bồ đề dạ Bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà dủ nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng kiết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án, tất điệ đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

* * *

THẬP CHÚ

1. NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI

Nma mô Phật-đà-da

Nam mô Đạt-ma-da

Nam mô Tăng-già-da

Nam mô Quán Tự Tại Bồ-tát Ma-ha-tát, cụ đại b tâm giả. Đát điệt tha.

Án, chước yết ra phạt để chấn đa mạt ni, ma ha bát đẳng mế, rô rô rô rô, để sắt tra thước ra hồng.

Án, bát lặc đà, bát đẳng mế hồng.

2. TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ

Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. A bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha.

3. CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ

Nam mô Phật-đà-da

Nam mô Đạt-ma-da

Nam mô Tăng-già-da

Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha.

4. PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ

Khể thủ quy y Tô tất đế, đầu diện đảnh lễ thất câu chi.

ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ.

Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề, câu chi nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha.

5. THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI

Asn, nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, thiệt chấp đạt, điệp tá ra tể dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp.

Án, tát rị ba, tang tư cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại, tang mã ngột cả đế, ta ba ngỏa, tỷ thuật đế, mã hắt nại dã, bát rị ngỏa rị tá hắc.

6. DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN

Nam mô bạt già phạt đế, bệ sát xả, lũ rô thích lưu ly, bát lặt bà, hắc ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắc đế, tam miệu tam bột đà da. Đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha.

7. QUÁN ÂM LINH CẢM CHƠN NGÔN

Án, ma ni bát di hồng, ma hắt nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tát nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất, tháp cát nạp, bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da, tóa ha.

8. THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha.

9. VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ

Nam mô a di đa bà dạ. Đa tha dà đa dạ. Đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ, a di rị đa, tỳ ca lan đế, a di rị đa, tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na. Chỉ đa ca lệ, ta bà ha.

10. THIỆN NỮ THIÊN CHÚ.

Nam mô Phật-đà

Nam mô Đạt-ma

Nam mô Tăng-già

Nam mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, ba lỵ phú lầu na giá lỵ, tam mạn đà, bạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể ba ra, ba nể tát rị phạ lặt tha, tam mạn đà, tu bát lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di Lặc đế, lâu phả tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha a nậu, đà la ni.

* * *

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Quán Tự Tại Bồ-tát, hành thâm

Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến nghũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-lợi-tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-lợi-tử! thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo; vô trí diệc vô dắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề-tát đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hưu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thi vô đẳng đẳng chú năng trừ nhất thiết khổ, chân thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật đa (3 lần)

TÁN PHẬT

Tán lễ Thích Tôn

Vô thượng năng nhơn

Tăng kỳ cửu viễn tu chơn

Đâu-suất gián trần.

Trường từ bảo vị kim luân

Tọa Bồ-đề tòa đại phá ma quân

Nhất đổ minh tinh

Đạo thành giáng pháp lâm

Tam thừa chúng đẳng quy tâm

Vô sinh dĩ chứng

Hiện tiền chúng đẳng quy tâm

Vô sinh tốc chứng

Tứ sinh cửu hữu, đông đăng Hoa tạng huyền môn, bát nạn tam đồ, Cộng nhập Tỳ-lô tánh hải.

Nam mô Ta-bà thế giới Tam giới Đạo sư, Tứ sinh Từ phụ, Nhơn Thiên giáo chủ, Thiên bá ức hóa thân Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Nam mô Thích-ca Mâu-ni Phật (108 lần)

Nam mô Đại trí Văn-thù Sư-lợi Bồ-tát (10 lần)

Nam mô Đại hạnh Phổ-hiền Bồ-tát (10 lần)

Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ-tát (10 lần)

Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Phật Bồ-tát (10 lần)

SÁM PHỔ HIỀN

Đệ tử chúng đẳng, tùy thuận tu tập, Phổ Hiền Bồ-tát, thập chủng đại nguyện:

Nhất giả kính lễ chư Phật

Nhị giả xưng tán Như Lai

Tam giả quẩng tu cúng dường

Tứ giả sám hối nghiệp chướng

Ngũ giả tùy hỷ công đức

Lục giả thỉnh chuyển pháp luân

Thất giả thỉnh Phật trụ thế

Bát giả thường tùy Phật học

Cửu giả hằng thuận chúng sinh

Thập giả phổ giai hồi hướng.

HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện pháp giới chư chúng sinh

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não

Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ

Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sinh Tây Phương Tịnh độ trung

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sinh

Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ,

Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đẳng dữ chúng sinh

Giai cộng thành Phật đạo.

QUY Y TAM BẢO

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy).

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển (1 lạy)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý dại chúng, tất cả không ngại (1 lạy).


Link download file PDF tại đây:

Nghi Thức Trì Tụng Thập Chú

 

4 thg 11, 2020

HỒNG DANH BẢO SÁM

Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

Xưng niệm Hồng Danh 89 vị Phật Quá Khứ 

Pháp Hồng Danh Sám Hối này cũng thuộc về sự, do Ngài Bất Động Pháp Sư đời Tống bên Trung Hoa soạn ra. Từ Hồng Danh 89 vị Phật, Ngài rút 53 danh hiệu Phật trong Kinh "Ngũ Thập Tam Phật " tức là từ đức Phật Phổ Quang cho đến Phật Nhứt Thế Pháp Tràng Mãn Vương, và rút 35 hiệu Phật trong Kinh "Quán Dược Vương, Dược Thượng" với pháp thân đức Phật A Di Đà, sau thêm vào kệ Phổ Hiền Đại Nguyện, thành nghi sám hối này, tổng cộng là 108 lạy, để ám chỉ trừ 108 phiền não.

Nghi thức sám hối này, nếu ai chí thành kính lễ, thì sẽ diệt trừ những phiền não và tội lỗi đã tạo, trong đời hiện tại cũng như nhiều đời về quá khứ. Đức Phật Tỳ Bà Thi nói: "Nếu chúng sInh nào nghe danh hiệu 53 vị Phật này, thì trăm ngàn ức kiếp không đọa vào ba đường ác". Đức Phật Thích Ca nói: "Thuở xưa, đời Phật Diệu Quang, ta đi tu nhằm đời mạt pháp, nhờ được nghe danh hiệu 53 vị Phật này, và thành tâm lễ bái, mà tránh khỏi những đau khổ trong đường sanh tử luân hồi nhiều kiếp". Còn 35 danh hiệu Phật sau, từ đức Phật Thích Ca cho đến đức Phật Bửu Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương, thì trong Kinh Bửu Tích nói: "Nếu tất cả chúng sanh, hoặc phạm tội ngũ nghịch hay thập ác, đến muôn kiếp không thể sám hối, chỉ xưng danh hiệu 35 vị Phật này và lễ bái, thì bao nhiêu tội chướng đều tiêu trừ".

Về sau Ngài Từ Vân Pháp Sư vì những người yếu đuối hoặc không quen lạy nhiều, nên dã soạn ra một nghi thức sám hối, rất gọn dễ và đầy đủ ý nghĩa, cũng gọi là Pháp Tiểu Sám Hối, để cho Phật tử có thể hằng ngày sám hối tội lỗi của mình.


Link down dưới đây nhé các bạn!

NGHI THỨC SÁM HỐI


CHÚ THỦ LĂNG NGHIÊM (Tiếng Phạn & Tiếng Việt)

    Chú Lăng nghiêm, tiếng Phạn là Sanskrit Śūragama Mantra, nói đủ là “Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Thần Chú”, Trung Hoa dịch là “Đại Định Kiên cố”. Nghĩa là cái bản thể chơn tâm sẵn có của tất cả chúng sanh và chư Phật. Vì thể của nó rộng lớn không có giới hạnbao la trùm khắp cả pháp giới, nên gọi là “Đại”. 

    Tâm thể nầy xưa nay vốn là thanh tịnh, không có tán loạnthường hằng vắng lặng, không lay động dời đổi, nên gọi là “Định”. Vì tính chất của nó không dời đổi, thấu xưa suốt nay, thường hằng bất động, ở nơi thánh không tăng, ở nơi phàm không giảm, hằng hữu bất hoại, nên gọi là “Kiên cố”. Đại khái, đó là nghĩa của ba chữ “Thủ Lăng Nghiêm”, tức là “Đại Định Kiên Cố”.

    Nguyên nhân Phật nói thần chú Lăng Nghiêm là vì Tôn giả A Nan mắc nạn Ma Đăng Già. Ngài A Nan bị nàng Ma đăng già dùng chú thuật Ta tỳ ca la tiên Phạm thiên ép buộc tình duyên… Lúc đó, Tôn giả A Nan rất buồn rầuthành kính  hướng về đức Phật, mong  đức Phật đoái hoài thương xót cứu độ giải nạn cho Ngài. 

    Phật biết Ngài A Nan bị nạn, nên sau khi thọ trai xong, Phật không thuyết pháp như thường lệ mà trở về tinh xá ngay và rồi Ngài ngồi kiết già, trên đảnh phóng hào quang, có hoa sen ngàn cánh, trên hoa sen có đức Hóa Phật ngồi kiết già, nói thần chú Lăng Nghiêm. 

    Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi đem thần chú ấy đi đến chỗ nàng Ma đăng già , để phá trừ tà chú, cứu nạn cho A Nan. Ngài A nan được kịp thời cứu thoát và sau đó Phật độ luôn cho nàng Ma đăng già tu hành trở thành bậc A la hán. Đó là nguyên nhân có ra năm đệ thần chú Lăng Nghiêm mà chư Tăng Ni cũng như quý Phật tử thường trì tụng vào mỗi buổi sáng sớm. 

    Trì tụng chú Thủ Lăng Nghiêm mỗi ngày sẽ giúp cho các Phật tử có được sự tinh tấn thiền định, xua tan mọi tạp niệm và vọng tưởng trong tâm. Ngoài ra giúp cho mọi người được bình an, Quỷ Thần ác đạo, tà mê bùa chú đều bị diệt trừ rốt ráo.

CHÚ LĂNG NGHIÊM TIẾNG PHẠN


CHÚ LĂNG NGHIÊM TIẾNG HÁN - VIỆT



*** Bài phiên âm tiếng Phạn sang tiếng Việt mình có link bên dưới, các bạn down về nhé!

Chú Lăng Nghiêm (tiếng Phạn)

*** Kinh Nghi Thức Trì Tụng Chú Lăng Nghiêm dành cho các bạn có nhu cầu tụng chú hằng ngày, các bạn down link bên dưới.

Nghi Thức Trì Tụng Chú Lăng Nghiêm (tiếng Việt)


2 thg 11, 2020

CHÚ ĐẠI BI (Tiếng Phạn & Tiếng Việt)

Bài chú được trích ở hàm chữ "Năng" trong Đại tạng, kinh đề là Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni Kinh. Quán Thế Âm Bồ Tát vì nghĩ đến chúng sanh với tâm đại từ đại bi, Ngài mong muốn chúng sanh được an vui, diệt trừ được tất thảy bệnh tật, sống lâu, được giàu có, được tiêu trừ toàn bộ nghiệp chướng của nhiều đời nhiều kiếp, được chứng quả thành tựu công đức, được thành tựu tất cả thiện căn, không lo sợ hãi, được mong cầu đầy đủ như ý, Ngài đã nói ra câu thần chú này.

Câu thần chú sau này được một thiền sư Ấn Độ dịch lại và du nhập vào Trung Quốc vào thời nhà Đường, sau đó được dịch sang tiếng Trung và được Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch sang tiếng Việt. Kinh và thần chú được trân trọng trì tụng trong các khóa lễ, các nghi lễ trì tụng theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa ở nhiều quốc gia.

Dưới đây là bản tụng tiếng Phạn nghe online và bản tụng bằng tiếng Việt (file đính kèm theo link bên dưới). Các bạn nên trì tụng hoặc nghe mỗi ngày 5 biến, khi tụng hoặc nghe cần phải thật sự chuyên tâm thành kính, đặt lòng tin tuyệt đối với kinh thì mới có sự linh ứng nhé!

CHÚ ĐẠI BI TIẾNG PHẠN



CHÚ ĐẠI BI ÂM HÁN - TIẾNG VIỆT


* Các bạn xem xong, nếu có nhu cầu lấy phần NGHI THỨC TRÌ TỤNG CHÚ ĐẠI BI bằng tiếng Việt, thì nhấn vào link bên dưới để down về. Chúc các bạn luôn an vui!

Kinh A Di Đà (trì tụng)

Kinh A Di Đà (tiểu bản Sukhàvatì - vyùha) là một bản toát yếu của Đại Vô Lượng Thọ Kinh (đại phẩm Sukhàvatì - vyùha), dịch từ Phạn bản qua Hán bản. Bản Kinh người viết dùng làm tư liệu tham khảo ở đây là bản dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần, một trong toàn tập Tịnh Độ dịch từ năm 147 đến năm 713.

Tập kinh Quán Vô Lượng Thọ (Amitayur - Dhyàna Sutra) cho ta biết nguyên lai của giáo lý Tịnh độ do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết. A Xà Thế, Thái tử thành Vương Xá, nổi loạn chống lại vua cha là Tần Bà Sa La và hạ ngục nhà vua này; hoàng hậu cũng bị giam vào một nơi. Sau đó, hoàng hậu cầu thỉnh Đức Phật chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai biến xảy ra như vậy.

Đức Thế Tôn liền hiện thân trước mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ và bà chọn quốc độ của Phật A Di Đà coi như tối hảo, Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ này để sau cùng được thác sinh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo pháp riêng của Ngài và đồng thời giảng giáo pháp của Phật A Di Đà.

Cả hai giáo pháp cuối cùng chỉ là một, điều này ta có thể thấy rõ theo những lời Ngài dạy Tôn giả A Nan ở đoạn cuối của các bài pháp: "Này A Nan, hãy ghi nhớ bài thuyết pháp này và lặp lại cho đại chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo này, ta gọi đấy là Kinh A Di Đà". Quan điểm đó của kinh Quán Vô Lượng Thọ như muốn nói lên giáo lý A Di Đà cùng nguồn gốc với giáo lý Nguyên thủy, đều do Đức Thế Tôn thuyết. (Các tông phái đạo Phật, bản dịch của Tuệ Sỹ, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1973, tr.329).

Kinh A Di Đà là kinh khen ngợi công đức và được tất cả chư Phật hộ niệm. Kinh này chuyển tải nội dung rất sâu xa do đức Phật Thích Ca Mâu Ni tự giảng nói. Nhận ra ý này nên Hòa Thượng Thích Trí Quảng nói: “Niệm Phật không phải là kêu Phật. Đa số người lầm tưởng kêu tên Phật là niệm Phật. Niệm Phật hoàn toàn khác với kêu tên Phật. Suốt ngày chúng ta đọc Nam-mô A Di Đà Phật là kêu tên Phật để vãng sanh thì không thể nào vãng sanh được.”

Pháp niệm A Di Đà là chỉ nơi tâm mà hành trì, chứ không qua trung gian phương tiện giúp chúng ta đạt đến nhất tâm bất loạn. Cõi tịnh độ của Phật A Di Đà được ẩn dụ cho sự vô thủy vô chung. Còn gọi là vô lượng thọ, vô lượng quang, hay pháp giới tạng thân.


Các bạn xem kinh Online theo link bên dưới:


Các bạn down kinh về máy tính theo link sau:

Kinh A Di Đà (trì tụng)

1 thg 11, 2020

Kinh Dược Sư (trì tụng)

 DẪN NHẬP

Kinh Dược Sư là do Ngài Văn Thù Sư Lợi thỉnh cầu Đức Phật thuyết giảng về những cách mà người đời sau nên làm để được lợi lạc. Chúng ta thấy rằng, chỉ có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là con người của lịch sử, có nguồn gốc rõ ràng còn những vị Phật khác như: Đức Phật A Di Đà, Dược Sư Lưu Ly hay Ngài Bồ Tát Quán Thế Âm,…đều là truyền thuyết qua lời kể lại của Đức Bổn Sư.

Bằng thiên nhãn thông, Đức Phật nói rằng cách đây hơn mười muôn ức cõi nước chư Phật, có một cõi nước tên là Tịnh Lưu Ly, nơi đó Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là giáo chủ.

Tên gọi Đức Phật là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nghĩa là vị Phật này lấy hiệu là thầy thuốc để thể hiện lòng thương xót từ tâm của Ngài cứu chữa cho chúng sanh bị bệnh khổ, tâm khổ, luôn lấy pháp dược để cứu mọi khổ đau của chúng sanh đang gánh chịu trong sự luân hồi.

Khi tu đạo thành Phật, Đức Phật Dược Sư đã phát 12 lời nguyện và đã dùng rất nhiều phương tiện để độ chúng sanh. Trong những lời nguyện đó luôn nghĩ đến lợi ích cho chúng sanh thoát khổ, được ấm no, tốt đẹp thân tướng.

Tại sao các Đức Phật và các vị Bồ Tát lại phát ra những lời nguyện?

Để đạt đến quả vị Như Lai, các vị Phật phải hành Bồ Tát đạo, đặt lợi ích chúng sanh làm sự nghiệp, dùng tâm từ bi đứng đầu. Cho nên, vị nào hành Bồ Tát đạo luôn phải phải phát nguyện, chẳng hạn như: Đức Phật A Di Đà phát 48 lời nguyện, Quan Thế Âm Bồ Tát phát 12 đại nguyện, Đức Địa Tạng phát thệ nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ Đề”. Lời nguyện chính là lý tưởng, là mong muốn, là ước ao đạt được của các vị Bồ Tát đó.

Tuy nhiên, đa phần những người đọc kinh sẽ hoài nghi về những điều được ghi lại trong kinh bởi họ cầu nguyện không được như ý muốn như lời nguyện của Đức Phật, cũng như thấy một vài điểm mâu thuẫn từ lời nguyện ấy. Vì thế nên suy ngẫm, dùng trí tuệ để thấu đạt lý cao thâm nhiệm mầu của Đức Phật, khi hiểu trọn vẹn chúng ta mới không còn hoài nghi.

Niềm tin vào chánh kiến rất quan trọng đối với người học Phật, nếu tâm có lòng thành rồi thì rất dễ đạt được thành tựu và ngược lại. Do đó, chúng ta phải thấy rõ là: Khi chưa đạt được thành tựu là do chúng ta không chí thành trì chú và thực hiện theo lời Phật dạy bởi những sự chi phối về đời sống hiện đại hoặc lòng tin chưa sâu cũng như chưa có đủ phước báu để khiến sở cầu được như ý. Đừng nên quay lại trách Phật nói sai mà lại thối tâm, càng thối tâm càng xa với đạo và càng dễ rơi xuống những ác đạo. Cần phải biết sách tấn tu hành nỗ lực hơn nữa.

Trong 12 lời nguyện của Đức Phật Dược Sư nói rằng: “Nếu nghe, trì niệm danh hiệu Ngài sẽ được những vật ăn ngon, thân tướng tốt đẹp và khổ nạn tiêu trừ”. Sở dĩ mọi người khó thấy được kết quả là do không thực hiện theo đúng lời dạy của Ngài.

Cũng như một vị thầy giáo rất giỏi phát tâm đến vùng xa để xóa nạn mù chữ cho những em nhỏ, nhưng các bé tại đây được dạy mà không chịu học nên cũng không có kết quả.

Vì thế, Đức Phật muốn độ sanh mà dạy chúng ta những điều tốt đẹp nhưng chúng ta lại không thực hành thì làm sao có kết quả được? Cho nên, ngụ ý của bài kinh muốn nói rằng:

Hãy luôn tạo những nhân duyên lành: Muốn được xinh đẹp thì dâng hoa cúng Phật, hiếu thảo cha mẹ; muốn được giàu sanh thì không ganh ghét người hơn mình, biết bố thí,.. Có gieo trồng nhân lành mới đạt được điều thiện lành.

Kinh này, Đức Phật chỉ dạy cho chúng ta mỗi khi đau ốm phải tìm thầy, chạy thuốc chữa bệnh. Thêm vào đó một phương pháp chữa bệnh linh nghiệm không kém, đó là sự tin tưởng. Tụng danh hiệu đức Ðông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tức là cầu tìm đúng thuốc chữa úng căn bệnh của mình, không tin những tà ma yêu nghiệt, những bọn thầy pháp chuyên đem chuyện mê tín dị đoan chữa bệnh khiến phải sa đọa vào vòng hoạnh tử. Lại nữa, kinh Dược Sư còn chữa bệnh do tâm động loạn, vọng tưởng mê lầm, khiến cho tâm được kiên định, quay về chánh kiến, tinh tấn hành trì, đạt được lợi ích tu tập viên mãn.



Các bạn xem kinh Online theo link bên dưới:


Link down về máy tính bên dưới nhé các bạn!

Kinh Dược Sư Bổn Nguyện (trì tụng)

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***