4 thg 4, 2022

TÂM VÀ ĐẠO (PHẦN MỞ ĐẦU)

Quán tưởng về cuộc sống trong Đạo Phật
The Mind and The Way
Buddhist Relections on Life

Ajahn Sumedho
Susanta Nguyễn dịch

Montreal, Quebec, Canada, 2004

Chúng tôi thành kính dâng tập sách nầy đến các vị Ân sư và Thiện trí đã hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trên đường tu tập giải thoát.

***

Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tạo tác
Với tâm ý ô nhiễm
Nói năng hoặc hành động
Đau khổ theo liền ta
Như bánh xe theo vật kéo.

Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tạo tác
Với tâm ý thanh tịnh
Nói năng hoặc hành động
Hạnh phúc liền theo ta
Như bóng không rời hình.


--- Kinh Pháp Cú, 1- 2


Ajahn Sumedho

Ajahn Sumedho (1) có thế danh là Robert Jackman. Ông sanh năm 1934 tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Mỹ và lớn lên trong một gia đình đạo Tin Lành cùng với một người chị. Từ năm 1951 đến 1953, ông học tiếng Trung Hoa và sử học tại Đại học Washington. Sau đó ông làm cán bộ y tế cho bộ Hải quân Mỹ. Làm y tế được bốn năm, ông quyết định đi học trở lại và tốt nghiệp bằng cử nhân khoa Đông phương học.

Nhờ học về phương Đông, ông được làm quen với Đạo Phật qua sách vở; và bốn năm làm y tế trong Bộ Hải quân Mỹ đã cho ông cơ hội tiếp xúc với Giáo hội Phật giáo Nhật Bản. Sau đó, với tâm nguyện phục vụ con người, ông làm công tác xã hội từ thiện cho Hội hồng thập tự Mỹ. Năm 1961, ông tiếp tục học chương trình cao học về văn hóa các nước Nam Á như Ấn độ, Tích Lan, Miến điện, Thái lan v.v... tại Đại học California ở Berkeley và tốt nghiệp thạc sĩ (Master of Arts) năm 1963.

Từ năm 1964 đến 1966, ông là tình nguyện viên của Đoàn Hòa Bình Mỹ (Peace Corps) dạy tiếng Anh ở Sabah thuộc Bắc Borneo.

Năm 1966, ông đến Thái Lan, tìm hiểu thêm về đạo Phật, tập tu thiền và sau đó thọ giới sa di tại một ngôi chùa quê hẻo lánh thuộc tỉnh Nong Khai, miền đông bắc Thái Lan. Tháng 5 năm 1967, sa di Sumedho thọ giới tỳ kheo. Từ đó ông Robert Jackman trở thành Đại đức Sumedho. Trong thời gian nầy, thiền sư sống độc cư trong rừng và chủ yếu hành thiền chỉ (2). Dù đã đạt những tầng thiền cao (Jhanas), sư vẫn cảm thấy cần được hướng dẫn thêm để có những tiến bộ thật sự. Nhờ có duyên may gặp ngài Ajahn Chah, một trong những cao tăng nổi tiếng của Thái Lan, sư rời Nong Khai về tu học thiền minh sát (Vipassana) với ngài Ajahn Chah tại tu viện Wat Nong Pah Pong, thuộc tỉnh Ubon trong hơn 10 năm (3).

Trong thời gian nầy, từ năm 1967 đến 1977, thiền sư Sumedho tu học tại nhiều tu viện do ngài Ajahn Chah sáng lập và đi hành hương ở Ấn Độ vào cuối năm 1973. Năm 1975, ngài Ajahn Chah thành lập và bổ nhiệm làm sư trụ trì tu viện Wat Bung Wai trong rừng để hướng dẫn các tăng ni và Phật tử phương Tây đến Thái Lan tu tập. Wat Bung Wai được sự ủng hộ nhiệt thành của các Phật tử Thái Lan. Vì thế, sau đó không lâu, Wat Bung Wai dưới sự hướng dẫn của sư trở thành Tu viện Phật giáo quốc tế trong rừng đầu tiên của Thái Lan.

Năm 1976, thiền sư Sumedho trở về Mỹ thăm cha mẹ và trên đường đi, sư ghé thăm nước Anh và được mời đến ở một tu viện Phật giáo ở Hamstead, Luân Đôn. Năm sau, nhận lời mời của các Phật tử Anh, sư trở lại Anh và đã ở lại đó giúp truyền bá giáo pháp cho đến ngày nay. Với công phu cần mẫn và tâm đạo nhiệt thành, sư đã giúp thành lập hai tu viện Phật giáo lớn ở Anh. Đó là tu viện Cittaviveka tại Chithurst, West Sussex và tu viện Amaravati ở Great Gaddensden, Hertfordshire. Hiện nay, thiền sư Sumedho là viện chủ tu viện Amaravati và là vị sư hướng dẫn của hơn 100 tu viện và hàng trăm tăng ni thuộc hệ phái Phật giáo Nguyên thủy tại Anh, Tân Tây Lan, Thụy Sĩ, Ý và Mỹ. Ông Jack Kornfield, một học giả Phật giáo người Mỹ, thiền sư, và cũng đã từng là bạn đồng tu với sư cho rằng ở phương Tây, Ajahn Sumedho là vị viện chủ Phật giáo Nguyên thủy có uy tín và thành công nhất và là người đã đặt nền tảng cho sự phát triển của Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy phương Tây (4).


Lời người dịch

“ Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Ngài là bậc Ứng Cúng cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri, do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy “.

Năm 1995, nhà xuất bản Phật giáo Wisdom Publications ở Boston, Mỹ yêu cầu Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy Anh phổ biến những bài viết của Đại đức Sumehdo về quan điểm và cách tiếp cận của đạo Phật về những vấn đề của con người hiện đại. Mục đích là giúp các Phật tử Mỹ tu tập tốt hơn và người dân phương Tây có dịp làm quen với đạo Phật - một tôn giáo có mặt ở Á châu từ hơn 2.500 năm nay, được du nhập vào phương Tây từ thế kỷ thứ 19 và ngày càng phát triển, nhất là ở Bắc Mỹ.

Tu viện Cittaviveka ở Chithurst, West Sussex, Anh quốc cử Đại đức Sucitto và một số tăng ni làm công việc tập hợp và biên tập lại những bài viết của Đại đức Sumedho theo những đề tài đã được yêu cầu. Theo lời của Đại đức Sucitto, ban biên tập nhận thấy nếu chỉ trình bày quan điểm Phật giáo về những vần đề của xã hội hiện đại thì sẽ không đủ. Đọc giả cần được trang bị thêm những kiến thức cơ bản về giáo lý và phương pháp tu tập trong đạo Phật hầu có thể tiếp thu và hiểu rỏ hơn những quan điểm của đạo Phật về những vấn đề của xã hội hiện đại. Vì thế, ban biên tập thêm hai phần quan trọng, đó là những vấn đề giáo lý cơ bản và phương pháp hành thiền của Phật giáo nguyên thủy. (5)

Tập sách nầy gồm 20 bài Pháp do Đại đức Sumedho giảng cho các Phật tử tại Anh và được chia làm 3 phần. Phần I gồm 7 bài về Pháp học hay những giáo lý cơ bản của đạo Phật như Tứ Điệu Đế, Tam Bảo, Nghiệp và Tái Sinh, Niết Bàn v.v.. Phần II gồm 6 bài về Pháp hành hay những pháp thanh lọc tâm như Quán hơi thở, Ghi nhận không gian, Sống trong hiện tại v.v... Phần III gồm 7 bài về cách tiếp cận của đạo Phật với những vấn đề hiện đại như Tự do, Gia đình, Giáo dục, Sự sống và sự chết, Xã hội toàn hảo, Tương lai của con người v.v... Vì thế, Tâm và Đạo không phải là một quyển sách hoàn chỉnh và hệ thống về giáo lý đạo Phật hay phương pháp hành thiền. Nó cũng không đề cập hết tất cả những vấn đề của con người hiện đại. Nó không phải là một tập sách nghiên cứu hay học thuật. Như tựa quyển sách có ghi rõ, nó chỉ là những quán tưởng về cuộc sống của Đại đức Sumedho, một nhà sư người Mỹ đã tu theo Phật giáo Nguyên thủy hơn 30 năm tại các miền rừng núi xa xôi và hẻo lánh ở Thái Lan và Anh quốc.

Tập sách có một sức sống và sức mạnh kỳ lạ làm thức tỉnh con người. Nằm ẩn phía sau những quán tưởng về cuộc sống hình như rất bình thường, nhẹ nhàng và tản mạn nầy là năng lượng từ bi bao la và cái nhìn trí tuệ xuyên thấu của Đại đức Sumedho. Trong phần giới thiệu nầy, chúng tôi sẽ không nói nhiều về chất lượng từ bi và trí tuệ của tác phẩm để quý đọc giả có thể tự mình tiếp nhận hương vị pháp bảo tỏa ra từ tác phẩm. Chúng tôi chỉ muốn giới thiệu ngắn về pháp môn mà Đại đức Sumedho tu học với ngài Ajhan Chah vì pháp môn có ảnh hưởng rất lớn trên con đường phát triển tâm linh và cái nhìn của tác giả về cuộc đời.

Ngài Ajahn Chah là một trong những vị thiền sư hiếm có và nổi tiếng trong thế giới Phật giáo Nguyên thủy. Ngài và các đệ tử của ngài tu theo hạnh đầu đà (Dhutanga), còn được gọi là tu khổ hạnh, ở những nơi hẻo lánh cách xa dân chúng địa phương. Họ sống trong những cái "cốc" hay những cái chòi nhỏ làm bằng tre nứa đơn sơ, rải rác chung quanh ngôi chùa. Thỉnh thoảng, các nhà sư tu theo hạnh đầu đà có thể rời cốc, đi lang thang trong rừng, sống dưới những gốc cây, với muỗi mòng, rắn rít, thú rừng, gió mưa và nóng bức nhiệt đới. Từ tờ mờ sáng, họ phải đi vào làng cách xa từ 10 đến 15 cây số để khất thực. Ai cho gì ăn nấy. Có khi đó chỉ là một nắm xôi với chút muối ớt. Có khi không có gì hết. Đến mười giờ họ phải trở về cốc để thọ thực và ăn xong trước 12 giờ trưa. Từ 12 giờ trưa cho đến sáng ngày hôm sau, họ chỉ được uống nước chứ không ăn gì hết. Không than phiền. Mục đích chính của cuộc sống khổ hạnh là tập kiên nhẫn và chịu đựng để tồn tại trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Trong hoàn cảnh tu tập như thế, chư tăng không thể học và nghiên cứu kinh điển nhiều. Trái lại, họ tập trung hành thiền và gìn giữ giới luật - những giới luật được thiết lập từ thời Đức Phật. Có hơn 227 giới chính và hàng ngàn giới phụ mà các vị tỳ kheo phải giữ từ cách mặc y, rửa bát, đến quan hệ với thầy tổ, các bạn đồng tu, thiện tín, và môi trường thiên nhiên... Cuộc sống khổ hạnh như thế là môi trường tốt nhất cho những tâm bất thiện như dễ duôi, phóng dật, hoài nghi, trạo cử, sân hận, cô đơn, sợ hãi, tham ái, thích hưởng thụ, ngã mạn, ganh tỵ, không kiên nhẫn, than phiền v.v... ồ ạt và liên tục sinh khởi trong tâm. Và trong hòan cảnh đó, người tu không có cách nào khác hơn là nhìn thẳng vào những tâm bất thiện nầy và tập buông bỏ - nghĩa là để cho chúng xảy diễn trong thân và tâm và ra đi một cách tự nhiên; không can thiệp, không sân hận cũng không dính mắc. Đó là cách tu tập giải thoát của những người tu Phật. Ngài Ajahn Chah dạy: "Hãy làm tất cả với tâm buông bỏ. Đừng mong cầu được khen hay sở hữu gì cả. Nếu buông bỏ một chút, chúng ta sẽ được an vui một chút; Nếu buông bỏ nhiều, chúng ta sẽ được an vui nhiều; Nếu buông bỏ hoàn toàn, chúng ta sẽ được an vui hoàn toàn." (6)

Khi những tâm bất thiện ra đi, trong tâm sẽ chỉ còn lại những tâm thiện. Vì thế, chúng ta thấy nhiều tu sĩ sống khổ hạnh mà vẫn tươi cười và hoan hỷ, thành thật, đơn giản, dễ chịu, mát mẻ, không buông lung, không lượm thượm, trí tuệ sâu sắc, lễ phép, từ bi, an lạc, và nhất là thích khôi hài và vui tính. Đó là thể hiện của những tâm thiện qua thân và tâm của các vị ấy. Ngài Ajahn Chah và Ajahn Sumedho là như thế. Vì thế, khi đọc những quán tưởng về cuộc sống của thiền sư Sumedho, bạn sẽ cảm nhận được những tiếng cười hồn nhiên, năng lượng từ bi ấm áp, tinh thần tự do thật sự, sự chân thật mà ông Jack Kornfield, một học giả Phật tử người Mỹ gọi là sự chân thật "đáng sợ" (terrible) và nhất là cái trí tuệ trong sáng, sắc bén và "không khoan nhượng." (uncompromising) (7)

Nếu chữ "tu" được hiểu đơn giản là "sửa" thì trong quá trình dịch tác phẩm của Ajahn Sumedho, những quán tưởng của sư đã giúp chúng tôi "sửa" mình rất nhiều. Cái nhìn trí tuệ của sư về những điều hết sức đơn giản trong cuộc sống như nghe một bản nhạc, nhìn một tấm quảng cáo, uống một ly nước, ngắm một đóa hoa, trò chuyện với bạn bè v.v... đã làm chúng tôi giật mình tỉnh thức: "À, thế mà từ bấy lâu nay, mình cứ làm như vậy, nghĩ như vậy... Mình đã không thấy và không hiểu..." Từ đó, chúng tôi "sửa" cách nhìn và cách sống của mình.

Xuyên suốt những bài pháp, Ajahn Sumedho luôn nhắc chúng ta chánh niệm, tỉnh giác và khẳng định đây là con đường duy nhất giúp chúng ta đi đến giải thoát. Sư nói ở đâu và bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể chánh niệm nếu chúng ta nhớ đến nó và sử dụng nó. Những lời sư dạy nhắc chúng tôi nhớ lại những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Đại Niệm Xứ (Sati Patthana Sutta): "Đây là con đường duy nhất để thanh lọc tâm chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh Đạo và Giác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. (...) Nầy các thầy tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu quát sát thân trong thân, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm để loại bỏ mọi tham ái và ưu phiền sân hận trong cõi đời (...). (8)

Về hình thức, đây là những bài giảng pháp nên văn của tập sách là văn nói, không phải văn viết. Khi biên tập những bài giảng nầy, sư Sucitto có ý muốn giữ nguyên văn nói bằng tiếng Anh để đọc giả có thể vừa "thấy" và "nghe" được pháp của thiền sư Sumedho (9). Khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, chúng tôi tôn trọng nguyên tắc giữ đúng nội dung và nguyên văn nói của tác giả. Tuy nhiên vì có những phần văn nói, mà nếu dịch nguyên văn sang tiếng Việt, sẽ không thích hợp, nên chúng tôi mạn phép điều chỉnh phần nào phong cách diễn tả của tác giả để đọc giả Việt Nam có thể tiếp thu dễ và hiểu rõ hơn. Vì trình độ hiểu Pháp của chúng tôi còn thấp và khả năng dịch thuật còn nhiều giới hạn nên tập sách dịch nầy chắc chắn có nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin chân thành sám hối trước Tam Bảo và kính mong quý đọc giả tha thứ về những sai sót và khuyết điểm trong tập sách nầy.

Nguyện cầu cho tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc.


Susanta Nguyễn

Montreal, Quebec, Canada, 2004

----------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Ajahn là phiên âm từ tiếng Pali Thái "Acariya" nghĩa là vị thầy hay người hướng dẫn. Ở các tu viện Thái lan, Ajahn cũng có nghĩa là người có đức độ lớn. Ajahn có thể dịch sang tiếng Việt là Đại đức.

(2) Thiền chỉ (Samatha) còn được gọi là thiền vắng lặng. Đó là hành thiền theo 40 đề mục nhằm mục đích đạt được tâm vắng lặng và bình an do chế ngự được một số phiền não và chướng ngại.

(3) Thiền minh sát (Vipassana) nguyên nghĩa là "Thấy bằng nhiều cách". Đó là năng lực quán sát đối tượng thân tâm qua ánh sáng của vô thường, khổ não và vô ngã.

(4) Ajahn Sumedho, Teachings of a Buddhist Monk, Buddhist Publishing Group, Ashprington, U.K. 2000. tr. 17

(5) Ajahn Sumedho, The Mind and The Way, Wisdom Publications, Boston. 1995. Phần giới thiệu của Ban biên tập. tr. xv

(6) Ajahn Sumedho. Sách đã dẫn. tr. xix

(7) Ajahn Sumedho, Teachings of a Buddhist Monk. tr.17

(8) Sayadaw U Silananda. Kinh Đại Niệm Xứ. Tỳ kheo Khánh Hỷ dịch, Như Lai Thiền viện, San Jose. 1999. tr. 271-272. Những chữ nhấn mạnh là của người dịch.

(9) Ajahn Sumedho. The Mind and The Way. Phần giới thiệu của Ban biên tập. tr. xxii


3 thg 4, 2022

12 CÂU TỰ VẤN CUỘC ĐỜI

Đại Sư Tinh Vân

Làm người, chúng ta cần phải thời khắc tự mình phản tỉnh lấy chính mình, mới có đủ năng lực tu bồi đức hạnh, tiến tu đạo nghiệp. Dưới đây là 12 vấn đề mà chúng ta cần nên tư duy phản tỉnh tự hỏi lấy chính mình.

1. Mình sanh ra trên thế gian này, mình đã từng thành tựu được những gì có lợi ích cho nhân thế?

2. Đối với ân đức của các bậc thầy tổ, cha mẹ; mình đã tận tâm, tận lực báo đáp?

3. Mình đã thọ nhận của thế gian biết bao nhiêu là thiện duyên hỗ trợ dưỡng dục; mình đã hồi đáp được bao nhiêu?

4. Đối với các bậc thầy tổ, quyến thuộc bạn bè, xã hội ... v.v....  mình có nợ họ chăng?

5. Thế gian cung cấp cho mình vật thực, quần áo, nhà ở, dụng cụ, thuốc thang, học hành ... mình cần nên có bổn phận đền đáp như thế nào?

6. Tự mình có thấu suốt được nguồn gốc nhân duyên bản lai diện mục của chính mình, khi duyên sanh ra ta từ đâu và khi duyên diệt ta sẽ về đâu? Ta ra đi với chí hướng, sự nghiệp như thế nào?

7. Mình có từng lắng tâm quán sát thế giới nội tâm của chính mình và đếm chính xác mỗi ngày bao nhiêu lần mình trôi lăn, lặn hụp, bay nhảy trong trong các cảnh giới tam đồ, lục đạo của thiên đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?

8. Mình có thể kiểm soát rõ về chính mình trong sinh hoạt mỗi ngày đối mặt với các bệnh dịch độc nhiễm tham sân, si, mạn, nghi, ác kiến ... mình làm thế nào để hóa giải trị liệu?

9. Mình ngày ngày có hằng sống với thức tâm tỉnh cảnh giác ba nghiêp thân-khẩu-ý của chính mình? Mỗi lần cảnh tỉnh điều gì?

10. Vận chuyển giữa dòng sống nhân thế, chúng ta cần nên làm những gì để có được cuộc sống vui tươi tự tại?

11. Mình cần phải ứng phó thế nào để tiêu trừ phiền não, phá tan vô minh, tìm về chân tâm bản tánh?

12. Mình có cần phải kiến tạo tư lương và sắp đặt như thế nào cho cuộc sống của chính mình trong hiện tại và trong tương lai?

Trên là 12 vấn đề về cuộc sống con người, bao gồm các vấn đề giữa mình và người, giữa mình và xã hội, giữa mình và quốc gia.

Thông thường chúng ta mỗi ngày chỉ suy nghĩ đến lợi ích cho riêng mình, rất ít quan tâm đến phúc lợi của người khác. Do bởi chúng ta thường đem cái tự ngã kiến lập trên quốc gia xã hội mà tạo nên nhiều tệ hại, rồi khi gặp điểm khó khăn, trắc trở, trước không chịu kiểm điểm lấy chính mình, mà lại oán trời trách đất và đổ lỗi cho người; thậm chí là oán trách vận mệnh đen tối đưa đẩy, chứ không biết những trắc trở kia là do tư tưởng hành vi bất chánh đang cư trú trong nội tâm của chính mình tạo nên, do vậy phải lặn hụp trong cuộc sống phiền não, lo âu, buồn khổ.

Lục tổ Huệ Năng thường khuyến cáo các môn đồ: 

”Vận tốt, tâm tốt sớm phát đạt vinh hoa. 

Tâm tốt, vận không tốt, đời sống vẫn ấm no hạnh phúc. 

Vận tốt, tâm không tốt, e rằng không thể đảm bảo được tiền trình cuộc sống.

Tâm, vận đều không tốt thì cả một đời nhận chịu sự đau khổ, nghèo cùng “. 

Câu chuyện như vầy: Châu Lợi Bàn Đà Già sanh tánh ngu muội. Nhưng do biết thành tâm sám hối những chướng nghiệp tội trong quá khứ; đồng thời nỗ lực hành trì lời Phật giáo huấn mà cuối cùng ông đã thành tựu được đạo quả. Còn Đề Bà Đạt Đa vốn được sanh ra trong dòng quý tộc vương tử, thông minh tài trí, nhưng do tâm nổi tham dục lợi dưỡng, phá tăng hại Phật mà cuối cùng phải nhận lấy ác quả, sống trong đau khổ đến cuối đời, đọa vô gián địa ngục.

Do vậy, bậc thánh nhân nói rằng, quán nhìn việc xưa mà đoán biết được việc hiện tại; bất luận là khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu, chúng ta vẫn cần phải tự mình đặt chí hướng cho chính mình, kiện toàn cho chính mình mới bảo đẳm được sự sinh tồn.  Lại nữa “Phản Quan Tự Kỷ”, hằng sống với thức tâm tỉnh giác, chăm bón thiện duyên, là việc không thể thiếu để cất bước hướng vào cảnh giới an lạc giải thoát!

Trích Nấc Thang Cuộc Đời

Việt dịch Thich Nữ Huệ Phúc


2 thg 4, 2022

ĂN ĐỂ SỐNG, CHỨ KHÔNG PHẢI SỐNG ĐỂ ĂN

Thích Đạt Ma Phổ Giác

Tất cả chúng ta vì bị vô minh che lấp nên khi có mặt trên thế gian đều không có nhận thức sáng suốt, do đó ta chỉ lo thụ hưởng sự ăn uống mà nhẫn tâm giết hại các loài vật khác. Có những việc cần thiết mà chúng ta không quan tâm, chỉ cố tâm lo phần không quan trọng mà lãng quên đi lợi ích lâu dài. Trong cuộc sống chúng ta thường chỉ lo ăn với uống, cho đó là vấn đề chính yếu. Tối ngày chúng ta làm đủ cách chỉ để ăn với uống sao cho thỏa mãn sở thích, sao cho ngon miệng nên ta phải giết hại các sinh vật rồi tham đắm, dính mắc vào đó mà chịu quả báo xấu khổ khi đủ duyên. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị. Khi có quyền cao chức trọng thì ăn trên ngồi trước bắt người khác phải cung phụng cho mình đầy đủ những nhu cầu cần thiết.

Có một vấn đề khác mà chúng ta không bao giờ quan tâm đến, đó là vấn đề thở là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, ít ai nghĩ đến mình nhịn thở bao lâu mới chết. Trong vài phút thở ra mà không hít vào là chết ngay. Vậy mà người đời lại quan trọng việc ăn với uống nhiều hơn, còn hít thở ra sao không cần biết. Rõ ràng, việc tối quan trọng chúng ta lại lơ là, việc không chính đáng thì ta nỗ lực, làm việc nhọc nhằn vất vả chỉ để thỏa mãn cho nhu cầu ham muốn bản thân. Như vậy, hằng ngày ta chỉ luôn bồi đắp thân này cho thỏa thích, cho mập thây, cho hấp dẫn mà nhẫn tâm giết hại vô số các loài vật, ta ăn trên sự đau đớn quằng quại của chúng.

Cuộc sống của chúng ta trong thời đại này có quá nhiều thứ bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và hô hấp phát sinh từ sự ăn uống, hít thở không đúng đắn. Một số người ít hoạt động tay chân nên phát sinh rất nhiều bệnh tật. Chính vì thế, muốn thân khỏe mạnh, tâm an ổn nhẹ nhàng chúng ta cần phải biết điều hòa trong ăn uống, hít thở đúng cách và vận động thân thể nhiều hơn như tập thể dục, đi bộ, hoặc lễ lạy chư Phật Bồ tát, vừa sám hối, vừa tích phước, vừa rèn luyện sức khoẻ dẻo dai.

Đối với thức ăn vật chất, Đức Phật dạy mọi người không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích hợp với cơ thể. Cách thức ăn uống của người Việt tương đối lành mạnh nhưng chế độ ăn uống thường mang tính cách theo thói quen, ngon miệng, hợp khẩu vị mà có thể thiếu các chất bổ dưỡng cần thiết hoặc dư thừa chất bổ dưỡng.

Đại đa số chúng ta không ý thức được tầm quan trọng của nước đối với cơ thể nên thường uống ít nước hoặc có uống thì dùng các loại nước ngọt được chế biến hay rượu bia quá nhiều. Cách tốt nhất là uống nước mỗi ngày từ 2 lít đến 2,5 lít bằng nước đun sôi để nguội. Thân thể thiếu nước nên sinh ra nhiều bệnh tật như táo bón, nhức đầu, trĩ, sạn thận, thận suy, áp huyết cao, viêm gan siêu vi B và bụng hay sình trướng, khó tiêu… Lượng nước trong cơ thể chiếm 70% dưới mọi hình thái của nó, do đó các tế bào và mọi bộ phận trong thân thể cần có lượng nước nhất định. Ngoài việc tắm rửa hằng ngày để da dẻ sạch sẽ, mịn màng, chúng ta cần uống lượng nước cần thiết để điều hoà thân thể khoẻ mạnh. Muốn tránh các thứ bệnh nói trên chúng ta cần phải uống nhiều nước, chừng hai ba ly ngay sau khi ngủ dậy mỗi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối để giúp bộ máy tiêu hóa và tuần hoàn hoạt động tốt, dễ dàng lọc máu và thải mọi cặn bã ra ngoài.

Để quân bình trong cuộc sống ăn uống hằng ngày, cơ thể chúng ta cần có đủ chất bổ đến từ đạm thực vật hoặc động vật và chất xơ trong các thứ rau, đậu và trái cây. Chất xơ giúp tiêu hóa dễ dàng và loại bỏ các thứ mỡ không cần thiết cho cơ thể. Nói chung, thức ăn kho và luộc tốt hơn là chiên, xào, nướng. Ngoài ra, chúng ta nên để ý cách dùng các gia vị âm dương trong nghệ thuật nấu nướng và ăn uống của người Việt Nam. Theo đó, các loại thịt cá thuộc loại âm thường được nấu nướng hay ăn với các thứ gia vị và rau thuộc loại dương và ngược lại.

Thế giới chúng ta ngày hôm nay có quá nhiều bệnh tật vì ô nhiễm môi trường, ô nhễm thức ăn thực phẩm và do con người ăn uống vô độ. Có ai bệnh mà lại không buồn phiền? Điều đầu tiên chúng ta lo lắng là phải hao tiền tốn của lo thuốc thang tìm cách chữa trị.

Chính từ cách ăn uống không đúng dẫn đến cơ thể không được an ổn, chúng ta rất dễ trở nên nổi giận, cáu gắt hay nóng nảy, khó chịu khiến cho không khí xung quanh trở nên căng thẳng, mất tươi vui, hạnh phúc. Bệnh có hai dạng là thân bệnh và tâm bệnh, nhưng phần nhiều thân bệnh là do tâm điều hành, sai khiến. Thân chúng ta tại sao lại bệnh? Vì tâm tham ăn uống nên ta đưa nhiều các thức ăn thức uống nhiễm độc vào cơ thể. Do tâm tham muốn quá nhiều nên trở thành tâm bệnh, vì tham nên chúng ta muốn thân sung sướng, không ngờ cái sung sướng trong khoái khẩu lại là nguyên nhân gây ra bệnh.

Ta không biết trân quý sức khỏe sẽ làm tổn thương thân này. Có người suốt cả cuộc đời lúc nào cũng bệnh, khi bị như vậy ta phải biết mình đã gieo tạo nghiệp sát sinh hại vật quá nhiều.

Chúng ta hãy nên thường xuyên thực tập sám hối để dừng nghiệp cũ, không cho chúng tái phạm nữa; mặt khác lại hay giúp người cứu vật, nhờ vậy chúng ta sẽ mau được lành bệnh. Khi bệnh ta hãy tìm phương cách chữa trị như đi khám bác sĩ, đi bệnh viện theo dõi, đồng thời phải biết làm thiện để chuyển hoá nghiệp xấu ác thì từ từ sẽ hết bệnh. 

Rất nhiều bệnh tật phát xuất từ tình trạng máu huyết lưu thông không đều đặn do ít hoạt động chân tay. Do đó, một trong những cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là hay siêng năng hoạt động chân tay, tập thể dục, đi bộ, bơi lội, làm vườn, lau dọn nhà cửa và lễ lạy Phật Bồ tát mỗi ngày. Có một câu chuyên như sau:

Một hôm, Phật hỏi các vị Tỳ kheo: “Mạng người sống trong bao lâu?” Một thầy trả lời: “Mạng người sống chừng 80 năm”. Phật hỏi vị khác, thầy đó trả lời: “Mạng người sống trong bữa ăn”. Hai vị thầy trả lời Phật đều không chấp chận. Ngài hỏi tiếp vị thứ ba và vị này trả lời: “Mạng người sống trong từng hơi thở”. Phật nói: “Đúng thế, đời người chỉ dài bằng một hơi thở, bởi thở vào mà không thở ra thì xem như mất mạng”.

Chúng ta có thể không ăn mười ngày mà không chết, chính chúng tôi đã từng nhịn ăn mỗi lần ba bốn tuần, mỗi ngày chỉ uống nửa lít nước đun sôi để nguội, nhờ vậy mà vượt qua được bệnh tật hiểm nghèo.

Ngày xưa, đức Phật dạy các tỳ kheo quán hơi thở, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, đến khi thuần thục không cần theo dõi hơi thở nữa mà chỉ nhìn hơi thở vô ra dài sâu. Nhờ vậy, tâm an định và trí tuệ thấy biết đúng như thật phát sinh, do đó ngày càng sống tốt hơn mà hay giúp người cứu vật.

Khi tâm an định, tĩnh lặng, bớt đi tạp niệm thì trí nhớ sáng suốt, tuệ giác khai mở. Nhờ vậy, ta nhận biết cuộc sống vô thường, mạng sống vô thường và muôn loài vật cũng lại như thế. Mạng sống chúng ta ngắn như một hơi thở, nhờ thường xuyên quán sát như thế ta sẽ thấy biết đúng như thật nên dễ dàng buông xả phiền não tham-sân-si mà an nhiên, tự tại, giải thoát.

Trong cuộc sống, dân gian thường nói "có thực mới vực được đạo", tức có ăn mới tu hành được. Chính vì quan niệm như vậy, nên ăn uống đã trở thành nhu cầu cần thiết trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Điều này cũng được thể hiện qua câu nói “miếng trầu làm đầu câu chuyện”. Xã hội thường coi việc mời ăn, mời uống, tặng quà cáp cho nhau như một mối quan hệ cần thiết của mỗi người. Do đó, “bánh ít đổi đi, bánh quy đổi lại” hay “có đi, có lại mới toại lòng nhau”. Dĩ nhiên, đó cũng là một nhu cầu thiết thực trong mối tương giao cuộc sống.

Ăn uống, tiệc tùng như thế lâu ngày đã trở thành văn hóa tín ngưỡng trong dân gian mà "phép vua cũng thua lệ làng". Nói cho cùng, ăn uống là một nhu cầu cần thiết và cũng là phương tiện để bày tỏ tình thân hữu hay mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội, nhưng do lối văn hóa ăn uống của người Việt đã ăn thì phải ăn cho sướng, đã uống thì phải uống cho say, ăn với uống phải no say. Người dân có ba nhu cầu chính trong việc ăn uống là đám giỗ, đám cưới, đám ma. Ba đám này đã trở thành nhu cầu thiết thực trong cuộc sống, đâu đâu cũng thấy nhậu nhẹt, rìn rang, thịt cá đủ loại. Rồi chưa kể đến các quán nhậu, làng nướng, phục vụ ngày đêm đủ thứ món ngon vật lạ được phơi bày, ăn uống cho thỏa mãn. Cho nên, từ đó con người ngày càng sa đọa với thói quen ngu si chấp ngã mà làm tổn hại người và vật.

Dân gian có câu “ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo", nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta có thể đánh giá con người qua cách ăn, cách uống, cách nói năng và cách làm việc. Hay nói cách khác, ăn uống phản ánh phạm trù sống, phương thức sống, cách thức sống và phép tắc sống, nhìn vào cách ăn uống ta có thể biết người đó có lòng từ bi hay không!

Khi xưa, lúc chưa biết tu bản thân chúng tôi cũng là những kẻ đam mê ăn uống, ngày nào cũng phải có rượu thịt, thuốc phiện và gái gú. Trong khi chờ cắt cổ con vịt làm tiết canh, chúng tôi đã tranh thủ thẻo miếng mỡ bầu diều để bóp gỏi làm chua, khi con vịt đang còn sống. Loại ăn nhậu như chúng tôi ngày trước là hạng người sống không có nhân cách đạo đức, thử hỏi làm sao biết thương yêu chúng sinh, gia đình, người thân, lúc ấy chúng tôi chỉ có xảo quyệt và ác độc.

Ngày nay, các chương trình dạy nấu ăn trên truyền hình, trên mạng cho thấy trong nhà bếp tại gia hay bếp của các nhà hàng, ngay khi các con vật còn sống mà họ bắt bỏ vào chảo dầu sôi như cá chiên xù, bỏ cua đang sống vào nồi nước luộc, sò ốc bị nướng trên lò, bạch tuột sống tái chanh hoặc như khỉ bị dạt đầu mổ óc ăn sống. Những con vật còn ngo ngoe giẫy giụa, vùng vẫy rất đau đớn không khác nào địa ngục trần gian.

Phật pháp màu nhiệm lắm, tuyệt vời lắm, chúng tôi nhờ gặp bậc minh sư chân chánh, thầy lành bạn tốt nên mới có cơ hội làm lại chính mình, vượt qua những thói đam mê thấp hèn có tính cách hại người hại vật.

Là người Phật tử chân chính chúng ta phải biết chọn lựa những thức ăn và thức uống không làm ảnh hưởng xấu đến cơ thể và đến chúng sinh. Người ăn chay mà lại thích ăn đồ giả mặn, loại thức ăn này rất có hại, không đủ chất dinh dưỡng và lại đắc đỏ hơn những loại rau cải bình thường.

Lại nói, ăn chay trong thời buổi này, cần phải cao thượng và có ý thức, chúng ta chấp nhận muốn ít biết đủ như vậy sẽ ít bệnh. Trước khi ăn những món hiền lành và bổ dưỡng ta nên nói thầm trong miệng, "chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng ngăn ngừa tật bệnh và nuôi dưỡng thân tâm sáng suốt". Đó là ta luôn sống trong tỉnh giác khi ăn và khi nấu ăn. Ngoài những thức ăn vật chất để nuôi thân tồn tại, thức ăn tinh thần mới thực sự quan trọng đối với mọi người trên thế gian này. Nếu sống trong tu viện thì mỗi ngày đọc kinh, sám hối, ngồi Thiền, được gần gũi các bậc tu hành, trông thấy đức hạnh của họ sẽ giúp chúng ta sống tốt theo.

Người ăn chay đúng cách ít bệnh mà vẫn sống khỏe sống thọ. Ăn chay còn có ích lợi cho sức khỏe như dễ tiêu hóa hơn, tốt cho tim mạch hơn, ít gây bệnh tật hơn. Nhiều người xung quanh thường cảm thấy an tâm hơn khi sống gần gũi những người ăn chay. Những con thú chỉ ăn thực vật thảo mộc, không bao giờ sát hại các sinh vật khác, không gây sợ hãi cho các loài vật sống gần bên.

Người tự nguyện phát tâm ăn chay là người có tâm từ bi rộng lớn, coi muôn loài vật như bản thân mình, không thích giết hại một sinh vật nào, không muốn nhìn thấy một sinh vật nào đau khổ. Họ hiểu biết rằng các loài sinh vật đều ham sống sợ chết, khi bị sát hại chúng cũng đau đớn như loài người không khác. Có những người họ từ bi đến nỗi những loài vật nhỏ xíu như côn trùng, gián, kiến, ruồi, muỗi cũng không dám sát hại chúng; hoặc những loài vật lớn hơn như gà, vịt, heo, bò cũng không dám ăn thịt nên họ ăn chay trường. Ăn chay không phải là đổi món ăn cho ngon miệng, cũng không phải là cách ăn kiêng cữ do bác sĩ, thầy thuốc dặn bảo mà là một cách tu hành của người có lòng từ bi.

Trong cuộc sống của chúng ta, người nào phát tâm ăn chay trọn vẹn thì thật là đáng quý, đáng trân trọng. Đó là nhân duyên tốt để chúng ta tiến tu trên con đường hành Bồ tát đạo cho đến khi nào thành Phật viên mãn mới thôi. Khi ăn chay trường chúng ta giữ trọn vẹn giới không sát sinh, nhờ vậy ta luôn được khỏe mạnh an vui trong đời hiện tại.

Ăn chay đối với nhân loại mà nói không chỉ giữ được thân thể khỏe mạnh, tránh được nhân quả nghiệp báo mà còn có nhiều lợi ích khác không thể nói cho cùng. Lợi ích thiết thực lớn nhất của ăn chay là tăng trưởng lòng từ bi đến với các loài vật và cuối cùng là nhân chấm dứt ác nghiệp vì không tạo nghiệp giết hại chúng sinh.

Chỉ có Phật giáo mới có thể nói rõ được nguyên nhân vì sao chúng ta luôn đau khổ thân tâm. Chúng ta có thể thấy quả thì biết nhân, giống như thấy dưa thì biết ngay dưa là từ hạt giống dưa mà có. Hiện tại, sở dĩ loài người bị quả báo dẫn đến đau thương, chết chóc làm nhiều người đau khổ là do tạo nhân giết hại mà ra.

Sát sinh có hai nguyên nhân chủ yếu, một là trực tiếp giết và hai là xúi bảo người khác giết. Nếu tạo hai nghiệp sát này thuần thục thì khi đủ duyên tất sẽ kết thành quả ác. Một số người do không tin lý nhân quả, lại còn cho rằng trời sinh ra vạn vật để phục vụ con người nên mặc tình giết hại. Dân gian có câu “oan gia trái chủ”, giả sử có trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa thì những nghiệp tốt xấu mỗi người đã tạo ra cũng không mất. Nên biết, giữa nhân và quả còn có sự trợ duyên, khi nhân gặp duyên đầy đủ điều kiện tất yếu thì trổ quả.

Chúng ta thử tìm hiểu xem, ai làm người kể từ khi được sinh ra và lớn lên cho đến bây giờ cũng muốn bảo tồn mạng sống nhưng cũng đã giết chết vô số loài sinh vật. Lúc vừa mới chào đời tuy chưa biết ăn nhưng ta bú sữa mẹ, mà sữa mẹ là do đã ăn cơm uống nước cùng các loài sinh vật. Khi biết ăn ta đã ăn thịt cá từ bé đến giờ nên gây đau khổ cho biết bao loài vật. Tại sao ta phải giết chết các loài vật để ăn trong khi ta không cần giết chúng mà vẫn có sự sống nhờ các loài hoa màu bằng thảo mộc, chúng vẫn có thể giúp ta giữ được sức khỏe và hạn chế tối đa việc làm tổn thương các loài hữu tình? Nếu sự sống của con người vẫn được tồn tại mà không làm chết các sinh vật khác thì cuộc đời an vui, hạnh phúc biết bao.

Tại sao con người giết sinh vật để ăn? Từ khi loài người có mặt trên thế gian này họ chỉ ăn các loại cây trái và hoa màu thiên nhiên. Lúc đầu, loài người chỉ ăn các loại nấm, hạt, hoa, lá, củ, quả, cây, nghĩa là chỉ ăn thức ăn bằng thực vật mà thôi, nhưng dần dần, do nhu cầu phát triển theo sự ham muốn mà con người ăn thịt cá, bắt chước các loài dã thú ăn nuốt lẫn nhau.

Khi thấy một số súc sinh ăn nuốt lẫn nhau để bảo tồn mạng sống như ăn thịt, cá, con người dần dà bắt chước ăn theo. Mới đầu ta cũng ăn sống, sau này cuộc sống văn minh hơn nên biết nấu chín và chế biến theo nhiều hình thức khác nhau để phục vụ sự khoái khẩu của bản thân.

Sự phát triển của loài người ngày càng đông nên các thức ăn bằng thực vật ngày càng khan hiếm, không đủ cho con người tiêu dùng, mặc khác ăn thịt sẽ no lâu và nhiều năng lượng hơn, nên con người từ đó đã chuyển sang ăn các loài động vật và tự gây giống chăn nuôi thêm. Họ đã nghĩ rằng ăn thịt các loài động vật sẽ tăng sức khỏe đủ sức làm các công việc nặng nhọc, hơn nữa lúc đó họ chưa ý thức rõ sự tác hại trong vấn đề nhân quả nghiệp báo. Đa số cho rằng: “Trời sinh ra vạn vật là để phục vụ cho thần linh thượng đế và con người, con người được toàn quyền hành hạ, giết hại các loài vật để sinh sống”. Ai theo truyền thống này là tự mình đánh mất lòng từ bi bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Quan niệm “vật dưỡng nhân” làm cho con người trở nên thù ghét, giết hại lẫn nhau để bảo vệ quyền lợi riêng tư của mình.

Chính vì vậy, với đà văn minh tiến bộ của con người ngày nay, chúng ta đã thấu hiểu mọi khía cạnh trong cuộc sống đều dựa trên nền tảng nhân quả. Giết hại hay ăn các loài động vật sẽ thọ quả báo bị giết hại trở lại hay bệnh tật nhiều và chết yểu.

Nếu người Phật tử không có lòng thương xót trước cảnh giết chóc, ăn nuốt lẫn nhau thì hạt giống từ bi của chúng ta bị sự tham lam, si mê lấn chiếm, từ đó trở nên vô cảm và độc ác. Nếu chúng ta vì muốn ăn ngon để thỏa mãn sự tham đắm của mình mà nhẫn tâm giết hại các loài vật thì sao có thể là người Phật tử chân chính?

Ăn chay thể hiện lòng bình đẳng của tất cả muôn loài, vì tất cả chúng hữu tình đều có tính Phật như nhau. Đó là sự bình đẳng trên vấn đề nhân quả, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu khổ đau.

Chúng ta ăn chay để tránh nghiệp báo bệnh tật và chết yểu, nhưng cũng có người cho rằng “cỏ cây cũng có sự sống”. Đúng! Cây cỏ cũng có sự sống, nhưng cây cỏ không có cảm giác, không có ý thức tham sống sợ chết, lo lắng sợ hãi, vui buồn khổ đau như các loài động vật. Con người là một động vật có hiểu biết cao nhờ biết suy nghĩ và nghiệm xét, con người là vật tối linh trong các loài sinh vật.

Chính vì vậy, khi con người gây nghiệp sát sinh thì nghiệp nặng hơn do cố ý, còn các loài súc vật giết hại là do bản năng sinh tồn mà không có sự toan tính. Cỏ cây không có cảm giác rõ ràng, do đó Phật nói ăn hoa lá, củ quả của cây không gây nghiệp báo, nếu có cũng chỉ ảnh hưởng chút ít.

Trong trường hợp khi một người bệnh do vi trùng gây ra, nếu dùng thuốc do bác sĩ cho toa để diệt vi trùng thì người thầy thuốc có gây nghiệp sát sinh hại vật hay không? Vấn đề này quyết định là có sát sinh đối với vi trùng đó, nhưng vì loài sinh vật này không có cảm giác và đau khổ, nên nghiệp sẽ nhẹ hơn, và cứu được người bệnh thì phước tạo được của bác sĩ lớn hơn. Về mặt nhân quả đương nhiên phải chịu quả báo đối với các loài vi trùng đó, nhưng chỉ nhẹ thôi, không đáng kể.

Một bằng chứng cho thấy một số động vật chỉ ăn cỏ cây, hoa lá có thân hình thật to lớn, lại khoẻ như voi, trâu, bò, ngựa, dê,… Chúng chẳng bao giờ ăn thịt cá nhưng lại to lớn, khoẻ mạnh và có thể giúp nhiều việc cho con người.

Tóm lại, Trong cuộc sống hằng ngày, nếu con người không cần phải ăn uống mà vẫn sống bình thường thì chắc là không một ai đấu tranh, giành giựt vì quyền lợi riêng của mình và dân tộc mình, như thế mọi người sẽ sống an vui và hạnh phúc. Đó là chúng ta nói về phạm vi chung của nhân loại.

Riêng trong đạo Phật quan niệm về việc ăn uống có một vấn đề thường gây thắc mắc, tranh luận đúng sai từ xưa đến nay là ăn chay và ăn mặn. Theo lời Phật dạy, muốn có một cuộc sống đầy đủ sức khỏe và đủ năng lực để làm việc thì chúng ta cần ăn uống điều độ, vừa đủ để nuôi thân. Chúng ta nên theo một chế độ ăn uống thích hợp với bao nhiêu phân lượng chất đạm, chất xơ, chất bột, chất béo, chất ngọt, chất khoáng, chất vôi, chất sắt, chất nước và các loại sinh tố trong một ngày để cơ thể có đủ năng lượng hoạt động và làm việc. Quá dư chất cũng sinh bệnh và thiếu chất cũng sinh bệnh.

Đối với đạo Phật, vấn đề ăn uống không phải là chuyện quan trọng hàng đầu. Dù ăn mặn hay ăn chay chúng ta cũng nên ăn uống đơn giản, đạm bạc để dành nhiều thời gian cho những việc làm lợi ích. Chuyện ăn uống thuộc về phạm vi thể chất, bồi bổ cho tấm thân tứ đại giả tạm này để làm phương tiện tu tâm dưỡng tánh cho đến ngày giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Con người muốn sống một cuộc đời an nhàn, tự tại không nên lệ thuộc quá nhiều vào việc ăn uống.

Phật giáo có hai truyền thống. Phật giáo Nam tông, tức là Phật giáo nguyên thủy, họ ăn mặn theo quan niệm Tam Tịnh Nhục như Phật giáo Ấn Độ hiện tại vẫn ăn mặn. Thứ nhất là không trực tiếp giết hại con vật để ăn, thứ hai là không xúi bảo người khác giết, thứ ba là không thấy không nghe con vật bị giết. Ngược lại, Bà La Môn giáo ngày xưa, nay là Ấn Độ giáo, họ nghe lời Phật dạy nên biết được nghiệp sát sinh để bồi bổ thân này là tội lỗi, sẽ bị trả quả báo giết hại trở lại nên họ đã ăn chay.

Phật giáo thế giới chiếm số đông đa số ăn mặn vì họ theo quan niệm Phật giáo lịch sử ở Ấn độ, khất thực ai cho gì ăn đó.

Quan niệm của Phật giáo Bắc tông hiện nay cho ăn chay tu theo hạnh Bồ tát để thành Phật vì cho rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính bình đẳng như nhau và thể hiện lòng từ bi không muốn làm tổn hại muôn loài vật. Chính vì vậy, Phật giáo Bắc tông bắt buộc mỗi tu sĩ khi thọ giới Tỳ kheo phải thọ Bồ tát giới, cư sĩ tại gia nếu phát tâm cũng được thọ Bồ tát giới.

Riêng Phật giáo Nam tông không có thọ Bồ tát giới và ăn mặn theo Tam Tịnh Nhục. Vậy việc ăn chay, ăn mặn trong Phật giáo có làm ảnh hưởng đến sự tu tập hay không?

Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Khi đức Phật ra đời vì phải đi khất thực, không ở một chỗ quá ba ngày nên ai cho gì ăn đó mà không phải nấu nướng. Ngày nay, Phật giáo phát triển bắt buộc tu học tại chùa, không được đi khất thực và phải nấu ăn tại chỗ, nên phải ăn chay giữ giới sát sinh.

Thật ra, ăn chay hay ăn mặn cũng đều tu hành được cả, ai đủ duyên thì ăn chay hoàn toàn, ai chưa đủ duyên thì ăn mặn và tập sự ăn chay mỗi tháng từ 1 ngày cho đến 10 ngày và cuối cùng là ăn chay trọn vẹn.

Tóm lại, vấn đề ăn mặn và ăn chay còn khá nhiều khía cạnh tế nhị khác, trong phạm vi hạn hẹp và có giới hạn chúng tôi không dám luận bàn nhiều, chỉ nhắc lại lời cổ nhân dạy: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn". Nghĩa là, con người sanh ra trên trái đất này ngoài chuyện ăn uống để bảo tồn mạng sống thì chúng ta còn phải làm tròn trách nhiệm đối với gia đình, người thân và đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội. Cho nên, người tu theo đạo Phật dù tại gia hay xuất gia cũng phải ý thức chỗ này mỗi khi thọ thực. Chúng ta cần phát tâm từ bi rộng lớn thương xót những người chưa thể ăn chay vì một lý do gì đó bằng cách tự đọc lời cầu nguyện trước khi ăn để hồi hướng phước báu ăn chay đến với tất cả mọi người. Hoặc chúng ta chắp tay cầu nguyện cho tất cả chúng sinh ít ra cũng đều có những bữa cơm đạm bạc như mình vậy, vì sự ăn uống của mình không làm tổn hại đến các loài sinh vật.


1 thg 4, 2022

BẢN CHẤT THẬT CỦA THÂN

Thích Thông Phương

Tất cả mọi người ai cũng mang thân này và cho đó là thân mình. Chúng ta mang thân suốt cuộc đời và nhận nó là thân mình nhưng nếu xét kỹ thì chúng ta có thật biết rõ về nó chưa? Cho nên cần phải nhìn thật kỹ về nó. Lâu nay chúng ta nhìn thế nào về thân này? Thân này gồm có: đầu, tóc, mắt, tai, mũi, miệng, má, cằm, cổ, vai, ngực, bụng, tay, chân, eo, lưng v.v… mình cho đó là thân phải không? Thường thì ai cũng đều thấy thân như thế, nhưng bản chất của thân chẳng lẽ là vậy sao? Đó là chỗ chúng ta phải thấy cho thật kỹ, thật rõ. Nếu nhìn thấy thân như vậy, nhà Phật gọi là quá hồ đồ, hời hợt, tức là chúng ta chưa thật biết gì về thân mình.

Vậy thân là cái gì? Đó chỉ là tướng ngụy trang bên ngoài để che mắt thiên hạ, không cho người nhìn thấy cái bản chất thật bên trong của nó. Thân tướng ngụy trang bên ngoài chẳng thật, không phải chỉ bấy nhiêu đó, nhưng đa số con người chỉ thấy chừng ấy và cho đó là thân vì đó là tướng dễ thấy.

Tướng ngụy trang bên ngoài che mắt thiên hạ đúng là bấy nhiêu đó. Nhưng cần phải thấy những cái bên trong thân này. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Phật dạy hàng đệ tử cần phải quán xét thân trong thân. Tức là phải quán để thấy rõ cái thân bên trong thân thể, không phải chỉ cái tướng bên ngoài. Do vậy, với tinh thần của người học Phật, tu Phật thì phải thấy đúng lẽ thật của nó chứ không phải chỉ nhìn hời hợt như vậy rồi chấp chặt vào, đó là điều căn bản phải nhớ. Con người nhìn thấy đầu, mắt, mặt, mũi, cổ, ngực, tay, chân v.v… thì chụp bắt lấy rồi say đắm mê mệt, hoặc là chán ghét không muốn đến gần. Hai trường hợp đó đều là cái nhân để sanh phiền não, phiền não từ chỗ đó mà sanh. 

Chúng ta học Phật là phải quán xét rõ ràng để thấy thấu đến cái thân thể bên trong thân thể này nữa? Không phải chỉ gương mặt này mà bên trong nó còn có cái sọ dừa nữa, nhưng thường thì đâu ai dám nhìn tới cái sọ dừa, mà nếu có nhìn thấy thì chắc bỏ chạy! Thí dụ như ban đêm đang đi, nhìn xa xa chợt thấy cái sọ dừa thì chắc chạy không kịp! Còn những thứ khác như tủy, não, gân, xương, tim, phổi, ruột, gan, phèo v.v… là cả một đống ruột gan lòng thòng trong đó chứ đâu phải chỉ là một khối đặc cứng đâu.

Nếu quý vị mở được con mắt thần thông, hoặc con mắt như máy quang tuyến thì khi nhìn vào sẽ thấy rõ đó là cả một đống ruột gan, một bộ xương làm cái cốt. Nếu không có bộ xương làm cái cốt thì chắc thân này không đi đâu được. Nhưng lâu nay có mấy ai thấy đến được như vậy, nên người ta sống và làm rất nhiều điều điên đảo. Nếu con người thật sự có chút trí tuệ thì chắc các vị bác sĩ tu mau ngộ đạo lắm, vì thường thấy rõ ràng bản chất của thân. Nhưng bác sĩ cũng bị nó gạt, cũng bị lầm như thường, cũng sống điên đảo. Đó là vì con người chỉ thấy cái dáng bên ngoài rồi nhận càn làm thân mình, chứ sự thật thì chúng ta chưa biết gì về thân thật, về bản chất thật của mình. Chính vì cái lầm, cái điên đảo đó mà sanh ra bao nhiêu thứ phiền não khổ đau, ai nói động đến nó một chút là chịu không được. Nhưng nếu hiểu kỹ thì cho dù ai có nói động đến “ta” thì họ chỉ mới thấy cái dáng ngụy trang bên ngoài, chỉ nói động đến cái đầu, mắt, mặt, mũi, tai v.v… chứ chưa nói động đến gan, ruột, phèo, phổi v.v… bên trong thân.

Trong Nhập Bồ-tát Hạnh, Bồ-tát Tịch Thiên chỉ rõ bản chất thật của thân: “Này tâm ý, lúc bầy chim kên kên háo đói tranh nhau gặm thi thể của ngươi, ngươi cũng bỏ qua, vậy sao bây giờ ngươi lại để ý đến thân này? Sao còn ôm giữ cái thân, xem nó là tôi? Ngươi với nó khác nhau, nó có ích gì cho ngươi đâu? Này tâm ý ngu si kia, sao ngươi không giữ một cái thân như cây sạch sẽ mà giữ chi cái khí cụ hư hoại ô uế này? Ngươi cần gì thân này khi ngươi không thể ăn dơ uế trong thân, uống máu trong thân, hút gan ruột trong thân. Lý do duy nhất để tham thân, là nó làm thực phẩm cho chồn và kên kên, vậy thân người chỉ đáng nên chịu sự sai khiến để làm việc thiện”. Tức là lúc bầy chim kên kên háu đói tranh nhau gặm cái thây chết thì lúc đó ngươi bỏ qua hết, còn bây giờ thì tại sao ngươi lại để ý tới nó?

Thế nên, “Trước hãy dùng ý phân tách da ra khỏi thịt, rồi dùng trí tuệ sắc bén mà tách thịt ra khỏi bộ xương. Lại chẻ xương ra mà quan sát sâu vào tủy để tự hỏi, có cái gì sạch và đẹp không? Tìm cho kỹ thì cũng không thấy được cái sạch đẹp thì sao ngươi còn tham luyến mến giữ cái thân này?”. Đây Ngài nói rõ ràng sự si mê khi tham đắm thân này, trong khi nó chỉ đáng dùng làm thực phẩm cho chồn, kên kên. Do vậy, mình chỉ nên khéo dùng nó để làm việc thiện, tạo công đức thì mới xứng đáng vì cuối cùng thì cũng phải đưa nó ra đồng hoặc làm thức ăn cho chồn, cho kên kên hoặc là cho mấy con giòi! Phải quán kỹ, xét sâu để thấy rõ bản chất thật của thân như vậy, chứ đừng nhìn theo cái nhìn điên đảo bấy lâu nay. Thấy thấu như vậy tức là trừ lầm chấp về thân và bớt chấp ngã, mà bớt chấp ngã là bớt khổ. Với tinh thần của người học Phật, bản chất thân như thế nào thì chúng ta phải thấy đúng như thế. Đó mới là lẽ thật, chứ không thể thấy điên đảo như bấy lâu nay nữa. Chúng ta đã bị gạt quá nhiều, tự mình gạt chính mình.

Thứ nhất, thân là vô thường:

Vô thường tức là biến đổi, không bền chắc, không tồn tại lâu dài, nó biến đổi và rồi sẽ hư hoại. Thân này lúc nhỏ khác, khi lớn khác. Lúc mới sinh ra được mấy ký mà bây giờ thì mấy chục ký. Nếu giữa chừng gặp một cơn bệnh nặng thì sụt hết mấy cân. Như vậy, nó luôn luôn biến đổi chứ không phải dừng lặng hoài. Rồi trong mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây thì nó cũng luôn biến đổi chứ không phải đứng dừng một chỗ. Con người nhìn hời hợt nên chỉ thấy cái tướng của nó như vậy là sẽ như vậy hoài, còn chúng ta phải thấy sự thật về nó. Bản chất nó như vậy, dù cố giữ, cố chăm sóc cách mấy, hoặc tìm mọi cách quyến rũ nó ở lại thì nó cũng bỏ chúng ta mà đi. Chắc chắn nó sẽ bỏ đi. Làm gì thì làm, quyến rũ cách mấy đi nữa thì nó cũng bỏ đi. Dù cho nó ăn ngon, trang điểm nó cho tốt thì nó cũng bỏ đi, nó không có tình nghĩa gì hết! Ngay như thân ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của Phật, cuối cùng cũng đi theo chiều vô thường. Do vậy, khi Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, các thầy Tỳ-kheo than thở và nói lên bài kệ:

Thân này như bèo bọt

Mỏng manh có gì vui

Phật được thân kim cang

Còn bị vô thường phá.

Thân kim cang chư Phật

Đều về với vô thường

Tan mau như bọt sóng

Huống gì chúng sanh khác.

Tức là thân Phật đẹp như vậy, sức dẽo dai như vậy, nhưng theo quy luật vô thường thì cũng phải bỏ lại, nên nói “tan mau như bọt sóng”. Thân Phật còn như vậy huống là thân những chúng sanh khác. Đức Phật hiện ra đời bằng tấm thân như mọi người, đó cũng là bài học giúp cho tất cả chúng sanh phải tỉnh ngộ. Thân Phật ba mươi hai tướng tốt, công đức như vậy mà còn phải hoại còn thân mình thì có đáng gì! Quý vị kiểm lại xem thân mình được mấy tướng tốt? Do chúng sanh quá tham luyến thân mình nên Phật mới ra đời để cảnh tỉnh: “Thân Phật tốt đẹp như vậy rốt cuộc rồi cũng hư hoại, cũng phải bỏ lại còn thân mình có đáng gì mà tham luyến!”.

Sau này ở Việt Nam, trong bài “Nói Rộng Về Sắc Thân”, vua Trần Thái Tông diễn tả: “Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để ở trong nhà giòi đục tửa sinh, hoặc ném ra đường thì quạ ăn, chó xé; người đời bịt mũi đi qua, con hiếu lấy mềm quấn giấu. Nhặt thu hài cốt chôn cất thịt xương, quan quách phó cho đám lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro tàn”.

Thiền sư Tông Mật (Ngài Long Nha) có lần thượng đường nói bài kệ cảnh tỉnh đại chúng:

 Hưu bả đình hoa loại thử thân

Đình hoa lạc hậu cánh phùng xuân

Thử thân nhất vãng tri hà xứ?

Tam giới mang mang sầu xác nhân.

Tạm dịch:

Thôi sánh hoa sân với thân này

Hoa đã rụng rồi xuân lại thay

Thân một phen đi đâu là chỗ

Mịt mờ ba cõi sầu nhân thân.

Thứ hai, thân là khổ:

Vô thường cũng tức là mang đến sự mất mác, ly biệt, là mang đến khổ, là không có toại nguyện, không như ý. Bản chất của nó thường đem đến điều bất toại nguyện. Đang trẻ đẹp, muốn nó trẻ đẹp hoài cũng không được, bị một cơn bệnh là thân biến đổi rồi! Khi nó đang mạnh khỏe, muốn khỏe hoài nhưng cũng không được, nó cũng bệnh, không được như ý. Hoặc là có khi bị những cái vô thường, tai nạn chết chóc đến, không thể ngờ trước được cái gì hết! Còn trẻ mà tóc bạc sớm thì có vui không? Phải nhuộm tóc. Thân này không có như ý gì hết, bản chất nó là như vậy. Trong nhà Thiền có câu chuyện, gần Tết có một bà nhà giàu đến nhờ ông thầy đồ viết cho câu liễn, bà nói: “Thầy ráng nghiệm viết cho câu thật hay, làm sao chúc phúc cho gia đình của tôi, tôi sẽ đến thưởng thầy nữa”. Ông thầy này có học đạo, khi viết xong, ông gói lại đàng hoàng và đưa bà mang về.

Về đến nhà, mở ra để treo thì bà thấy: “Ông nội chết, cha chết, con chết, cháu chết”! Nổi sân, bà liền đi nhanh đến ông thầy, sừng sộ và nói:

- Tôi hết sức tin tưởng thầy, gần Tết đến xin thầy viết cho câu liễn tốt lành đem đến những điều an vui cho tôi, mà sao thầy ghét, thầy hận tôi cái gì mà thầy nguyền rủa như vậy?

Thầy đồ hỏi:

- Nguyền rủa làm sao?

Bà liền đưa tấm liễn ra và nói:

- Thầy viết vậy coi có được không?!

Thầy đồ nói:

- Hãy từ từ, đừng vội nóng, hãy nghe tôi giải thích. Bà muốn gia đình suông sẻ, vui vẻ, hạnh phúc nhưng nếu trong gia đình bà, lỡ ông cha chết trước ông nội thì bà có thích không?

Bà đáp lại:

- Đúng phép thì ông nội già phải chết trước, còn cha mà chết trước ông nội thì bất thường rồi.

Thầy nói tiếp:

- Rồi trường hợp con hoặc cháu chết trước cha thì sao?

Bà nói:

- Đó là sự bất hạnh.

Thầy nói:

- Như vậy, tôi đã chúc tốt cho bà rồi, không phải sao?

Nghe nói như vậy, bà thấy có lý!

Thầy đồ chúc ông nội chết rồi mới tới cha chết, cha chết rồi mới tới con chết, con chết rồi mới tới cháu chết, trong gia đình mà được tuần tự theo nhau ra đi như vậy thì đó là quá hạnh phúc rồi còn gì nữa! Nếu trong gia đình lỡ con mà chết trước cha thì đúng là quá bất hạnh. Câu chuyện đó nói lên lẽ thật: cuộc đời này luôn có những điều bất hạnh xảy ra. Ai cũng muốn nó đi theo chiều thuận nhưng không hẳn như vậy. Có những trường hợp con chết trước cha, có khi là cháu chết trước ông nữa, nếu thế thì đúng là bất hạnh. Cho nên ở đây, ông thầy đồ viết như vậy là để chúc mừng, mà hễ có chúc mừng tức là biết nó luôn luôn có sự bất hạnh trong đó. Đó là lẽ khổ của thân này. Cuộc sống con người không có gì bảo đảm là chắc chắn an vui, bởi vậy mới phải cầu nguyện. Luôn luôn có nỗi lo sợ là nó sẽ thay đổi bất thường, mà có sự bất thường tức là có bất hạnh. Vì thế, khi gặp nhau người ta thường chúc hạnh phúc, chúc an vui, chúc khỏe mạnh v.v… Nếu đã thật sự hạnh phúc rồi thì cần chúc chi nữa, hoặc là nó khỏe mạnh an vui rồi thì đâu cần phải chúc. Đó để thấy rằng, bản chất của nó là luôn luôn có sự bất thường, không hẳn là an vui, là khỏe mạnh hoài.

Như vậy, bản chất thực của thân là khổ, là không vừa ý, là bất toại nguyện. Đó là bản chất thật của thân nhưng người đời thì cứ nhắm mắt lờ qua không dám nhìn đến sự thật của nó, không dám thấy rõ nên luôn gặp khổ. Vì con người không dám nhìn thẳng vào sự thật nên đến khi gặp thì bất ngờ! Còn nếu nhìn thẳng thấu rõ lẽ thật rồi thì khi nó xảy ra, biết rõ nó vốn là như vậy nên bớt khổ. Trong nhà Thiền có câu chuyện, Thiền sư Thiên Ưng - Đạo Ngô thường ngày hay nói: “Sống vui, sống vui” nhưng khi sắp tịch thì Ngài kêu lên: “Khổ! Khổ! Diêm vương tới bắt ta”. Viện chủ nghe vậy mới hỏi: “Đương thời Hòa thượng bị Tiết sử ném xuống sông mà thần sắc chẳng động, còn hôm nay sao lại thế này?”. Tức là lúc đương thời có lần quan Tiết sử đến hỏi chuyện, Ngài đáp câu gì đó quan không vừa ý nên sai lính đem Ngài quăng xuống sông, lát sau thấy Ngài ngồi xếp bằng trên nước tự nhiên! Thấy như vậy, quan hối hận mới sai người vớt lên và sám hối với Ngài. Do vậy, Viện chủ mới hỏi Ngài câu này. Lúc đó, Ngài đưa chiếc gối lên và bảo: “Ngươi nói đương thời là phải hay hôm nay là phải?”. Viện chủ không đáp được! Quý vị đáp được không? Đó là lời cảnh tỉnh mọi người phải thấy rõ bản chất thật của thân này, cuối cùng phải đi đến chỗ này. Bình thường nói vui vẻ vậy nhưng đến đây thì mới biết vui hay không vui. Thí dụ như bình thường chúng ta nói: “Tôi không sợ chết”, nhưng đi khám bệnh thì bác sĩ nói: “Anh bị bệnh ung thư, hai tháng nữa chết!” thì mới biết sợ khi cái lẽ thật này bày ra.

Cũng một câu chuyện trong nhà Thiền, có bà lão lớn tuổi thường đi đến lễ Phật và cầu: “Nam mô A-di-đà Phật, cầu Phật mau rước con về cõi Cực Lạc. Con bây giờ già khổ nên ra đi cũng vừa, ở đây thêm là khổ thêm, mong Ngài rước con đi sớm chừng nào thì đỡ chừng ấy”. Có ông Sa-di nghe được, nói thầm: “Để ta thử bà này một chuyến”. Sau đó, ông rình, từ xa vừa thấy bà cụ đi đến chùa thì ông vào núp sau lưng Phật không cho bà cụ thấy. Đến khi lễ Phật, bà cầu nguyện như mọi ngày: “Nam mô A-di-đà Phật, cầu Phật mau rước con về cõi Cực Lạc. Con bây giờ già khổ nên ra đi cũng vừa, ở đây thêm là khổ thêm, mong Ngài rước con đi sớm chừng nào thì đỡ chừng ấy”. Khi đó, trên tượng Phật phát ra tiếng: “Tốt lắm! Bà có lòng thành, vậy thì hay lắm! Hãy về chuẩn bị, chiều nay ta đến rước”. Nghe vậy, bà té xỉu! Đó để thấy, chúng ta nói như vậy chứ không phải như vậy. Bình thường thì nói nghe hay vậy, nhưng gặp chuyện thì không được vậy, đó là lẽ thật. Ở đây, Thiền sư Thiên Ưng - Đạo Ngô cảnh tỉnh cho mọi người, nên bình thường nói “Sống vui, sống vui” nhưng đến lúc đó thì mới biết làm chủ được hay không? Bản chất khổ của thân này vốn là như vậy. Đối với việc này, chúng ta phải có sự thực tu, thực chứng đàng hoàng chứ không thể lý luận hay nói suông được. Nhà Phật thường nhắc nhở người học Phật là phải khéo tiêu hóa được những lời Phật dạy là như vậy. Khi nghe nói về vô thường thì quý vị hiểu rõ nhiều nhưng gặp chuyện mới thấy nó thực vô thường hay không, lẽ thật là như vậy.

Thứ ba, nó là vô ngã:

Bản chất của thân là vô thường, là khổ, là vô ngã, tức không có tự tại, không được gì ở nó hết. Thân này không có chủ tể, không có tự tại. Khi nó già, chúng ta bảo nó đừng già được không? Nếu nó thực có chủ tể, nó thuộc về mình thì khi mình bảo: “Tôi ra lệnh cho mày là không được già” mà nó không già thì đó mới thật là thuộc về mình. Còn đây bảo nó đừng già cũng không được, bảo nó đừng bệnh cũng không được v.v… Bảo nó: “Mày phải mạnh hoài, không được đau nghe không!” mà nó đâu có nghe lời. Trong thân này, tóc mọc dài ra, móng tay dài ra, nhịp tim đập v.v… chúng ta nào có hay biết gì đâu? Nó làm gì làm, mình không hay biết gì hết. Nếu nó thực là mình thì khi mình bảo: “Hãy dài từ từ, đừng có ra sớm, mất công cắt móng tay!” thì nó phải nghe lời. Trái tim cũng vậy, nếu là của mình thì khi bảo nó: “Mày đập chậm chậm, đừng có đập mau quá thở không kịp!”, nó phải nghe lời chứ!

Cho nên, thân này đúng là không có ngã, không thuộc về ta, không có cái ta gì trong đó hết. Nó chỉ làm chuyện của nó, mình không thể xen vào được gì hết. Khi suy tìm, phân tích đến tột thân thể bên trong này thì tìm không ra cái ngã, cái ta. Cái ngã, cái ta mình đã chấp bấy lâu nay chỉ là tưởng tượng thôi. Trong tim, gan, phèo, phổi, tủy, não, máu, thịt v.v…, phân tích kỹ thì tìm đâu ra cái ta trong đó? Mình nói: “Động đến ta rồi đó!”, mà tìm đâu ra cái ta bị nói động đó? Cho đến cuối cùng, đem thiêu nó đi, những phần da thịt bị thiêu này thì khi đó tìm cái ta ở chỗ nào? Cũng tìm không ra luôn. Như vậy, cái mà mỗi ngày chúng ta nghĩ là ta đó thì thật sự ở đâu? Phải tìm cho ra nó, mà cuối cùng tìm không ra thì sao? Thì đó đều từ điên đảo vọng tưởng chấp mà thôi, hiểu kỹ như vậy thì chúng ta nhẹ bớt tâm bám chấp vào nó.

Có câu chuyện, một bà già ở gần Thiền viện của ngài Achan Chah đến xin Ngài một bài pháp ngắn gọn để bà về thực hành vì bà lớn tuổi học nhiều không nhớ. Thiền sư mới bảo: “Này bà cụ! Bà hãy lắng nghe, ở đây không có ai hết, chỉ vậy thôi! Không có ai là chủ nhân, không có ai là già, không có ai là trẻ, không có ai tốt, không có ai xấu, không có ai mạnh, không có ai yếu, chỉ vậy thôi! Tất cả đều trống rỗng, chỉ là các yếu tố khác nhau của thiên nhiên tác dụng hỗ tương vậy thôi.” Tức là thân trong đây không có ai hết, không có ai già, không có ai trẻ, đều là vô ngã, không có ta gì trong đó hết. Đơn giản, ngắn gọn, bà về ngẫm kỹ điều đó thì đó là chỗ tu ngắn gọn nhất, hiểu được vậy rồi thì bà khỏi sợ chết.

Một lần khác, Ngài dạy trong chúng: “Người ta không ai chịu nghiên cứu, học hỏi cái vượt ra ngoài tốt xấu; mà họ lại thường cứ nói rằng: ‘Tôi sẽ như thế này, tôi sẽ như thế kia” nhưng chẳng hề nghe ai nói: “Tôi sẽ chẳng là cái gì cả”. Thật sự là chẳng có tôi, đó là điều mà họ cần phải học mà lại không chịu học”. Quý vị thấy, ở đây Ngài nói thẳng sự thật không sợ mích lòng. Ngài nói cái đáng học hỏi vượt ra ngoài tốt xấu nhưng thường thì người ta luôn nói là: “Tôi sẽ như thế này, tôi sẽ như thế kia”, luôn đưa cái tôi lên. Vì tôi sẽ như thế này, sẽ như thế kia, mà không phải như thế thì khổ.

“Ít nghe ai nói: “Tôi chẳng là cái gì cả””. Sự thật thì cái tôi không thật có, nếu hiểu được như vậy thì cuộc đời chúng ta sẽ bớt nhiều phiền não, khổ đau. Nghĩ: ‘Tôi không là gì cả’ nên khi có ai nói động đến thì khỏi động lòng. Nếu không vậy sẽ nghĩ: ‘Tôi là bác sĩ mà nói như thế sao?’ thì có chuyện. Vì cho tôi là cái này, cái kia thì chính những cái tôi đó đưa đến phiền não. Đây Ngài nói sự thật: “Không có gì là tôi hết”, đó chính là điều mọi người cần phải học, nhưng lại ít ai chịu học. Học Phật là học lẽ thật mà sao thấy ít ai học lẽ thật. Điều này không phải Phật bày ra cho chúng ta học, không phải như vậy. Phật chỉ chỉ ra cho chúng ta thấy đúng như vậy thôi, chứ không phải Phật đặt ra để bắt mình phải học. Do vậy, nếu hiểu rõõ, quán kỹ lẽ thật trong thân đây: “Không có gì thật là tôi hết” thì sẽ nhẹ nhàng bớt khổ nhiều.

Ngoài thế gian, người hay tự ái khổ nhiều là vậy, nói động một chút là tự ái, mà tự ái là động tới “tôi” chứ gì nữa! Còn ở đây, không có gì là tôi hết thì ai tự ái? Nhờø vậy thì ngay đó là bớt khổ. Cho nên, Phật dạy các đệ tử của mình phải khéo đặt gánh nặng khổ đau này xuống thì nó sẽ nhẹ bớt. Mà tại sao chúng ta cứ gánh lên hoài rồi cầu Phật cứu khổ! Chúng ta phải chịu đặt nó xuống, gánh hoài làm gì! Gánh nặng này ai bảo chúng ta gánh đây? Không ai bảo gánh hết, Phật còn bảo chúng ta buông bỏ xuống nữa, mà chúng ta lại không chịu đặt xuống, rồi cứ than khổ hoài. Vậy là chính mình làm khổ mình mà không hay, chỉ cần chịu khó đặt nó xuống thì nhẹ nhàng. Học Phật cũng là học để đặt gánh nặng xuống, quán rõ bản chất thật của thân là như vậy, thấy đúng như vậy thì sẽ rất nhẹ nhàng, là bớt khổ liền.

Thứ tư, là xả vọng chấp.

Khi chúng ta thấy rõ bản chất của thân thì phải bớt vọng chấp vào nó, nhờ vậy mà bớt khổ, cởi mở được phiền não. Có ai trong đó để chấp, để phiền não. Giả như thật có “ai” trong đó cho mình chấp thì cũng tạm được đi, còn đây tìm không ra cái “ai” đó thì chấp là chấp cái gì? Mà mình thì lại chấp nên việc không đáng khổ mà phải khổ. Tất cả mọi thứ buồn, vui, giận, ghét, hơn, thua v.v… ở thế gian này đều được xây dựng trên nền tảng của cái “ta” chứ không có hết. Nếu cái “ta” nền tảng đó bị sụp đổ thì mọi thứ kia bám vào đâu? Quý vị nghe hiểu điều đó rõ chưa? Tuy nghe rồi có nhận hiểu điều này thì cũng có thể được đó, nhưng ý nghĩa thật này thì không nằm trên ngôn từ, lời lẽ. Vậy nó ở đâu? Nó nằm ở trong tâm mỗi người. Đó là lẽ thật. Nghĩa là vô thường, khổ, vô ngã ở trong đây khác với nghĩa vô thường, khổ, vô ngã mà chúng ta diễn đạt nãy giờ. Đây là mới diễn tả trên ngôn từ thôi, còn những bậc thấy đạo thì thấy trực tiếp nên sự cảm nhận sẽ khác hơn những lời này, không thể diễn tả trên ngôn từ.

Quý vị phải nhớ kỹ điều này. Nghĩa là cái vô ngã được trình bày với cái vô ngã ở nơi tâm của mỗi người mà mình cảm nhận được thì sẽ thấy có khác, không phải như lời lẽ diễn tả. Nói như vậy là vì muốn nhắn nhủ tất cả: “Mỗi người phải có thực hành, phải có đặt chân đi thật sự để khi cảm nhận được lẽ thật thì chúng ta sẽ thấy rằng Phật pháp hiện hữu ngay trong cuộc sống hàng ngày, ở tất cả mọi nơi chứ không phải chỉ ở trong bộ kinh này, bộ kinh kia”. Chúng ta học Phật pháp là học kinh này kinh kia nhưng Phật pháp thực sự thì hiện hữu khắp mọi nơi trong cuộc sống hàng ngày của mọi người. Thí dụ, quý vị đi đường lỡ đạp phải cây gai thì Phật pháp là ngay chỗ đó, là hiện chỗ đó, không cần phải giải thích dài dòng. Là vì sao? Đang đi đường mà đạp trúng cây gai là thấy khổ rồi! Vô thường, khổ ngay đó thôi! Phật pháp là ở ngay chỗ đó chứ đâu phải ở trong sách vở này. Đang mạnh khỏe, nay trùm mềm nằm, cảm rồi. Ngay đó vô ngã lộ ra liền! Thấy được như vậy thì mới thấy được lẽ thật, nên chúng ta học đây là học để đi vào thực tế chứ không phải học trên chữ nghĩa. Học được như vậy thì chúng ta sẽ thấy cuộc đời bớt dần những vướng mắc, những khổ đau. Đó là thực tế, là lẽ thực chứ không phải chỉ là lý luận suông.

Có câu chuyện, một người đàn bà có chồng vừa mới chết nên liền đến một vị Lạt-ma để cầu mong sự an ủi. Gặp lúc vị này đi vắng, bà mẹ của vị ấy đang ở nhà thấy vậy thì kêu lại an ủi: “Con nghe đây! Chuyện đó là chuyện vô thường, là chuyện phải đến thôi. Con có khổ nhưng mà con phải biết dừng lại bớt. Bây giờ có thể là con khóc, rồi con bứt tóc bứt tai nhưng con cũng phải biết nghĩ lại và bớt buồn. Con đừng quên rằng ngay cái tâm trạng buồn khổ của con đây cũng vô thường, không có thực thể gì. Nó cũng như gió như mây vậy thôi, rồi nó cũng sẽ tan, sẽ vơi đi như mọi thứ ở trên đời. Cũng như ta đây là một bà già và ta cũng đã từng buồn, từng khổ, từng thấy nhiều người thân đến rồi ra đi, nên lời khuyên của ta cho con là đừng có mang vào lòng bất cứ thứ gì hết”. Đó là lời khuyên thiết thực, bởi vì tất cả đều là vô thường biến đổi, không có gì là thực hết nên đừng mang vào lòng cái gì thì sẽ bớt khổ. Người mang càng nhiều thì càng nặng, mà càng nặng thì càng khổ vậy nên đừng có mang gì hết thì bớt khổ.

Khi trở về, nghe được lời khuyên ấy, vị Lạt-ma bèn giảng nghĩa với nhóm học trò: “Đối với tôi thì chẳng có giáo pháp nào cao hơn lời nói của bà mẹ là phải tự nhận ra tính vô thường của sự vật, thấy chúng không có tự ngã và đừng mang bất cứ cái gì vào lòng cả”. Tức là thấy đúng lẽ thật về tính vô thường của sự vật, tất cả đều không có tự ngã nên không mang cái gì vào trong lòng thì sẽ bớt khổ đau. Đó là lời dạy tóm tắt về giáo pháp của Đức Phật, quý vị chịu khó ứng dụng để sống thì bớt khổ đau liền. Như có ai đó nói nặng một câu mà mình nghĩ cái đó cũng vô thường thì tiếng nặng đó cũng không có gì chắc chắn hết. Thí dụ như họ nói “Anh như trâu!”, nói xong thì tiếng đó tan vào trong hư không rồi đâu còn gì! Nhưng trong đầu chúng ta thì cứ ghi nhớ cái tiếng đó hoài. Nó tan mất rồi nhưng trong này cứ nhớ, cứ lãng vãng hoài “Anh như trâu!”, “Anh như trâu!”, “Anh như trâu!” … Khổ là ở cái chỗ đó. Cứ y như vậy mà mang nó, nhẩm tới nhẩm lui giống như người viết chữ. Đồ tới đồ lui càng đậm thêm nữa, đến tối lên giường ngủ lại đồ thêm thì ngủ không yên, trằn trọc suốt đêm thành tự làm khổ chính mình, trong khi câu đó thì tan mất tiêu từ lâu rồi! Do vậy, khi hiểu lẽ thật thì phải buông bớt bám chấp vào đó, thì sẽ bớt phiền não, bớt khổ đau, lẽ thật là như vậy.

Tóm kết lại, lâu nay chúng ta đã quen nhìn theo thói quen hồ đồ nên chưa gì thì chụp bắt liền mà không cần biết thực hư gì hết. Cứ thấy là bắt nên khổ là chỗ đó. Bây giờ học Phật rồi thì phải tập nhìn chín chắn trở lại, thấy cho đúng bản chất thật của thân này: nó như thế nào thì phải thấy đúng như vậy. Phật không bắt buộc chúng ta khi nghe nói là tin ngay, mà cần phải quán sát kỹ, không phải chỉ thấy cái tướng ngụy trang bên ngoài này mà cần phải thấy thấu đến cái thân bên trong nó. Lẽ thật này luôn luôn sáng ngời, không có gì phải che giấu hết. Việc này chúng ta có thể quán xét thấy rõ, không phải khó khăn tìm kiếm đâu xa ở trên núi, trên non hoặc học pháp xuất hồn lên cõi Trời để thấy nó, mà lẽ thật này ở ngay nơi mình, trong thân mình. Người ta thích những cái lạ còn cái thực ngay nơi mình đây thì không chịu làm nên chúng ta phải tập, phải nhìn cho rõ để thấy đúng lẽ thật. Có thấy đúng mới có nhìn đúng, mới có suy nghĩ đúng, thì mới có nói đúng, sống đúng, làm đúng thì đó mới là con đường chân chánh đưa đến giải thoát khỏi đau khổ.

Phải nhớ, người học Phật là học sự chân thật, học lẽ thật để thấy đúng như thật về các pháp. Nó như thế nào thì phải thấy đúng như thế ấy, không thể phủ lấp được. Đó chính là con đường trí tuệ, lối đi giác ngộ mà chính Đức Phật đã ra đời để khai sáng cho chúng sanh đi theo. Bây giờ chúng ta tu khỏe quá, Đức Phật đã vạch đường đi sẵn cho rồi. Chính Đức Phật mới khó khăn vì Ngài phải tự đi tìm lối đi, rất là khổ sở. Bây giờ chúng ta chỉ có đi thôi mà còn không chịu đi nữa thì lỗi tại mình rồi. Điểm căn bản là ở ngay nơi cái “ta” này thôi chứ không đâu khác, đây là then chốt của mê và giác, của phiền não và giải thoát. Chúng ta cột trói là ngay chỗ đó, khéo mở là cũng ngay chỗ đó. Do vậy, mình phải ngay đây mà lên đường chứ không phải tìm đâu khác.

Phải khéo nhớ kỹ, quán sâu chỗ này, luôn luôn nhớ kỹ lẽ thật này. Cái “ta” này quyết chắc chắn không phải là ta, dù nó có là cái gì đi nữa: “Ta là thân này”, “Ta là đẹp”, “Ta là xấu”, hoặc “Ta là sư cô”, “Ta là sư trưởng”, hoặc “Ta là bác sĩ”, “Ta là kỹ sư” gì đó v.v…. Phải hiểu kỹ: “Nó không phải là ta!”. Nhớ kỹ vậy, luôn luôn không lầm chứ đừng nghĩ rằng: “Ta là nó”. Cái đó là nguy! “Cái ta này quyết chắc chắn không phải là ta”, đây là chân lý muôn đời không đổi thay. Chúng ta không thể chết chìm trong đó mà chịu khổ lâu dài, không phải là khổ một ngày hai ngày, mà là khổ từ kiếp này qua kiếp khác, luân hồi trong sanh tử vì mê lầm theo nó. Cái này Phật gọi là sống trong điên đảo: không phải thực mà chấp là thực. Mình chấp nó là thân ta nhưng sự thật thì mình không biết rõ về nó.

Thiền sư Achan Chah nói: “Nếu cơ thể này biết nói thì suốt ngày nó sẽ nói với chúng ta như thế này: Bạn không phải là chủ của tôi đâu, bạn có biết không?”.

“Thật ra nó đang nói với chúng ta đấy, nhưng nó dùng ngôn ngữ giáo pháp để nói mà chúng ta không hiểu được”. Tức là hằng ngày nó vẫn đang nói với chúng ta, nhưng nó không nói bằng ngôn ngữ thế gian này mà nó đang nói bằng ngôn ngữ của giáo pháp, mà mình thì không nghe, không chịu nghe.

Ở đây quý vị có ai nghe được tiếng nói của nó chưa? Nghe được tiếng nói này thì ghi nhận để sống, để tu thì không phải nhọc nhằn mỗi tháng đến chùa nghe pháp nữa, nó nói với mình hàng ngày rồi. Vì không chịu nghe nó nên cứ phải đi nghe pháp hoài, mà cũng không thông. Đây quả đúng là lời của những bậc đã hiểu rõ, sống thật thì nói thật, chỉ ra lẽ thật. Ngoài đời, người ta không dám nói thực như vậy nhưng trong đạo thì phải nói thật, nó như vậy thì phải nói như vậy, không che lấp gì hết vì đó là lẽ thật, là Chân lý cuộc đời.

Mong rằng tất cả đều học, đều sáng tỏ được lẽ thật này, bước đi vững trên đường giải thoát thì Phật pháp vẫn luôn hiện hữu ở trong đây chứ không đâu xa xôi hết.

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***