Thích Đạt Ma Phổ Giác
Tất cả chúng ta vì bị vô minh che
lấp nên khi có mặt trên thế gian đều không có nhận
thức sáng suốt, do đó ta chỉ lo thụ hưởng sự ăn
uống mà nhẫn tâm giết hại các loài vật khác. Có những
việc cần thiết mà chúng ta không quan tâm, chỉ cố tâm lo
phần không quan trọng mà lãng quên đi lợi ích lâu dài. Trong cuộc
sống chúng ta thường chỉ lo ăn với uống, cho đó là vấn
đề chính yếu. Tối ngày chúng ta làm đủ cách chỉ để ăn với
uống sao cho thỏa mãn sở thích, sao cho ngon miệng nên ta phải giết hại các
sinh vật rồi tham đắm, dính mắc vào đó mà chịu quả báo xấu khổ khi đủ
duyên. Ăn thì phải món ngon vật lạ hoặc cao lương mỹ vị. Khi có quyền
cao chức trọng thì ăn trên ngồi trước bắt người khác phải cung
phụng cho mình đầy đủ những nhu cầu cần thiết.
Có một vấn đề khác mà chúng ta không bao giờ quan tâm đến, đó là
vấn đề thở là điều quan trọng nhất trong cuộc sống, ít ai nghĩ đến mình
nhịn thở bao lâu mới chết. Trong vài phút thở ra mà không hít
vào là chết ngay. Vậy mà người đời lại quan trọng việc ăn với
uống nhiều hơn, còn hít thở ra sao không cần biết. Rõ ràng, việc
tối quan trọng chúng ta lại lơ là, việc không chính
đáng thì ta nỗ lực, làm việc nhọc nhằn vất vả chỉ để thỏa
mãn cho nhu cầu ham muốn bản thân. Như vậy, hằng ngày ta
chỉ luôn bồi đắp thân này cho thỏa thích, cho mập thây, cho hấp dẫn mà nhẫn
tâm giết hại vô số các loài vật, ta ăn trên sự đau đớn quằng
quại của chúng.
Cuộc sống của chúng ta trong thời đại này có
quá nhiều thứ bệnh thuộc bộ máy tiêu hóa và hô hấp phát
sinh từ sự ăn uống, hít thở không đúng đắn. Một số người ít hoạt
động tay chân nên phát sinh rất nhiều bệnh tật. Chính vì thế, muốn thân
khỏe mạnh, tâm an ổn nhẹ nhàng chúng ta cần phải biết
điều hòa trong ăn uống, hít thở đúng cách và vận động thân
thể nhiều hơn như tập thể dục, đi bộ, hoặc lễ lạy chư Phật Bồ tát,
vừa sám hối, vừa tích phước, vừa rèn luyện sức khoẻ dẻo
dai.
Đối với thức ăn vật chất, Đức
Phật dạy mọi người không nên ăn nhiều, chỉ ăn vừa
đủ giúp cơ thể khỏe mạnh, không nên ăn những gì không thích
hợp với cơ thể. Cách thức ăn uống của người Việt tương
đối lành mạnh nhưng chế độ ăn uống thường mang tính
cách theo thói quen, ngon miệng, hợp khẩu vị mà có thể thiếu các chất
bổ dưỡng cần thiết hoặc dư thừa chất bổ dưỡng.
Đại đa số chúng ta không ý thức được tầm
quan trọng của nước đối với cơ thể nên thường uống ít nước hoặc có uống thì
dùng các loại nước ngọt được chế biến hay rượu bia quá nhiều. Cách
tốt nhất là uống nước mỗi ngày từ 2 lít đến 2,5 lít bằng nước đun sôi để
nguội. Thân thể thiếu nước nên sinh ra nhiều bệnh tật như táo bón,
nhức đầu, trĩ, sạn thận, thận suy, áp huyết cao, viêm gan siêu vi B và bụng hay
sình trướng, khó tiêu… Lượng nước trong cơ thể chiếm 70% dưới mọi hình thái của
nó, do đó các tế bào và mọi bộ phận trong thân thể cần có lượng
nước nhất định. Ngoài việc tắm rửa hằng ngày để da dẻ sạch sẽ,
mịn màng, chúng ta cần uống lượng nước cần thiết để điều
hoà thân thể khoẻ mạnh. Muốn tránh các thứ bệnh nói trên chúng
ta cần phải uống nhiều nước, chừng hai ba ly ngay sau
khi ngủ dậy mỗi sáng và trước khi đi ngủ buổi tối để giúp bộ máy tiêu
hóa và tuần hoàn hoạt động tốt, dễ dàng lọc máu và thải
mọi cặn bã ra ngoài.
Để quân bình trong cuộc sống ăn uống hằng
ngày, cơ thể chúng ta cần có đủ chất bổ đến từ đạm thực vật hoặc động
vật và chất xơ trong các thứ rau, đậu và trái cây. Chất xơ giúp tiêu
hóa dễ dàng và loại bỏ các thứ mỡ không cần thiết cho
cơ thể. Nói chung, thức ăn kho và luộc tốt hơn là chiên,
xào, nướng. Ngoài ra, chúng ta nên để ý cách dùng các
gia vị âm dương trong nghệ thuật nấu nướng và ăn uống của
người Việt Nam. Theo đó, các loại thịt cá thuộc loại âm thường
được nấu nướng hay ăn với các thứ gia vị và rau thuộc loại dương và ngược lại.
Thế giới chúng ta ngày hôm nay có quá nhiều bệnh tật
vì ô nhiễm môi trường, ô nhễm thức ăn thực phẩm và
do con người ăn uống vô độ. Có ai bệnh mà lại không buồn phiền?
Điều đầu tiên chúng ta lo lắng là phải hao tiền tốn
của lo thuốc thang tìm cách chữa trị.
Chính từ cách ăn uống không đúng dẫn đến cơ thể không được an
ổn, chúng ta rất dễ trở nên nổi giận, cáu gắt hay nóng nảy, khó chịu
khiến cho không khí xung quanh trở nên căng thẳng, mất
tươi vui, hạnh phúc. Bệnh có hai dạng là thân bệnh và tâm bệnh, nhưng phần
nhiều thân bệnh là do tâm điều hành, sai khiến. Thân chúng
ta tại sao lại bệnh? Vì tâm tham ăn uống nên ta đưa nhiều
các thức ăn thức uống nhiễm độc vào cơ thể. Do tâm tham
muốn quá nhiều nên trở thành tâm bệnh, vì tham nên chúng
ta muốn thân sung sướng, không ngờ cái sung sướng trong
khoái khẩu lại là nguyên nhân gây ra bệnh.
Ta không biết trân quý sức khỏe sẽ làm tổn
thương thân này. Có người suốt cả cuộc đời lúc nào cũng bệnh, khi
bị như vậy ta phải biết mình đã gieo tạo nghiệp sát
sinh hại vật quá nhiều.
Chúng ta hãy nên thường xuyên thực tập sám
hối để dừng nghiệp cũ, không cho chúng tái phạm nữa; mặt khác
lại hay giúp người cứu vật, nhờ vậy chúng ta sẽ mau được lành bệnh.
Khi bệnh ta hãy tìm phương cách chữa trị như đi khám bác sĩ, đi
bệnh viện theo dõi, đồng thời phải biết làm thiện
để chuyển hoá nghiệp xấu ác thì từ từ sẽ hết bệnh.
Rất nhiều bệnh tật phát xuất từ tình trạng máu
huyết lưu thông không đều đặn do ít hoạt
động chân tay. Do đó, một trong những cách phòng bệnh hữu hiệu nhất là hay
siêng năng hoạt động chân tay, tập thể dục, đi bộ, bơi lội, làm
vườn, lau dọn nhà cửa và lễ lạy Phật Bồ tát mỗi ngày. Có một câu chuyên
như sau:
Một hôm, Phật hỏi các
vị Tỳ kheo: “Mạng người sống trong bao lâu?” Một thầy trả lời: “Mạng
người sống chừng 80 năm”. Phật hỏi vị khác, thầy đó trả lời: “Mạng người
sống trong bữa ăn”. Hai vị thầy trả lời Phật đều không
chấp chận. Ngài hỏi tiếp vị thứ ba và vị này trả lời: “Mạng người
sống trong từng hơi thở”. Phật nói: “Đúng thế, đời người chỉ dài bằng
một hơi thở, bởi thở vào mà không thở ra thì xem
như mất mạng”.
Chúng ta có thể không ăn mười ngày mà không chết,
chính chúng tôi đã từng nhịn ăn mỗi lần ba bốn tuần, mỗi ngày chỉ
uống nửa lít nước đun sôi để nguội, nhờ vậy mà vượt qua được
bệnh tật hiểm nghèo.
Ngày xưa, đức Phật dạy các tỳ kheo quán hơi
thở, thở vô mình biết thở vô, thở ra mình biết thở ra, đến
khi thuần thục không cần theo dõi hơi thở nữa mà chỉ
nhìn hơi thở vô ra dài sâu. Nhờ vậy, tâm an định và trí
tuệ thấy biết đúng như thật phát sinh, do đó ngày càng
sống tốt hơn mà hay giúp người cứu vật.
Khi tâm an định, tĩnh lặng, bớt đi tạp niệm thì trí nhớ sáng
suốt, tuệ giác khai mở. Nhờ vậy, ta nhận biết cuộc
sống vô thường, mạng sống vô thường và muôn loài vật cũng lại
như thế. Mạng sống chúng ta ngắn như một hơi thở,
nhờ thường xuyên quán sát như thế ta sẽ thấy biết đúng như
thật nên dễ dàng buông xả phiền não tham-sân-si mà an
nhiên, tự tại, giải thoát.
Trong cuộc sống, dân gian thường nói "có thực mới vực được
đạo", tức có ăn mới tu hành được. Chính vì quan niệm như
vậy, nên ăn uống đã trở thành nhu cầu cần
thiết trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Điều này
cũng được thể hiện qua câu nói “miếng trầu làm đầu câu chuyện”. Xã
hội thường coi việc mời ăn, mời uống, tặng quà cáp cho nhau như một mối
quan hệ cần thiết của mỗi người. Do đó, “bánh ít đổi đi, bánh quy đổi
lại” hay “có đi, có lại mới toại lòng nhau”. Dĩ nhiên, đó cũng là một nhu
cầu thiết thực trong mối tương giao cuộc sống.
Ăn uống, tiệc tùng như thế lâu ngày đã trở thành văn
hóa tín ngưỡng trong dân gian mà "phép vua cũng thua lệ
làng". Nói cho cùng, ăn uống là một nhu cầu cần
thiết và cũng là phương tiện để bày tỏ tình thân
hữu hay mối quan hệ giữa con người với nhau trong xã
hội, nhưng do lối văn hóa ăn uống của người Việt đã ăn thì phải
ăn cho sướng, đã uống thì phải uống cho say, ăn với uống phải no say. Người dân
có ba nhu cầu chính trong việc ăn uống là đám giỗ, đám cưới, đám
ma. Ba đám này đã trở thành nhu cầu thiết thực trong cuộc
sống, đâu đâu cũng thấy nhậu nhẹt, rìn rang, thịt cá đủ loại. Rồi chưa kể
đến các quán nhậu, làng nướng, phục vụ ngày đêm đủ thứ món ngon vật lạ được
phơi bày, ăn uống cho thỏa mãn. Cho nên, từ đó con người ngày càng sa
đọa với thói quen ngu si chấp ngã mà làm tổn hại người
và vật.
Dân gian có câu “ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ
mất tiền thêm lo", nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta có
thể đánh giá con người qua cách ăn, cách uống, cách nói năng và
cách làm việc. Hay nói cách khác, ăn uống phản
ánh phạm trù sống, phương thức sống, cách thức sống và phép tắc sống,
nhìn vào cách ăn uống ta có thể biết người đó có lòng từ bi
hay không!
Khi xưa, lúc chưa biết tu bản thân chúng tôi cũng là
những kẻ đam mê ăn uống, ngày nào cũng phải có rượu thịt, thuốc phiện
và gái gú. Trong khi chờ cắt cổ con vịt làm tiết canh, chúng tôi đã tranh
thủ thẻo miếng mỡ bầu diều để bóp gỏi làm chua, khi con vịt đang còn sống.
Loại ăn nhậu như chúng tôi ngày trước là hạng người sống
không có nhân cách đạo đức, thử hỏi làm sao biết thương yêu chúng
sinh, gia đình, người thân, lúc ấy chúng tôi chỉ có xảo quyệt và ác
độc.
Ngày nay, các chương trình dạy nấu ăn trên truyền hình,
trên mạng cho thấy trong nhà bếp tại gia hay bếp của các nhà hàng,
ngay khi các con vật còn sống mà họ bắt bỏ vào chảo dầu sôi như cá chiên xù, bỏ
cua đang sống vào nồi nước luộc, sò ốc bị nướng trên lò, bạch tuột sống tái chanh
hoặc như khỉ bị dạt đầu mổ óc ăn sống. Những con vật còn ngo
ngoe giẫy giụa, vùng vẫy rất đau đớn không khác nào địa
ngục trần gian.
Phật pháp màu nhiệm lắm, tuyệt vời lắm, chúng
tôi nhờ gặp bậc minh sư chân chánh, thầy lành bạn tốt nên mới có cơ hội
làm lại chính mình, vượt qua những thói đam mê thấp
hèn có tính cách hại người hại vật.
Là người Phật tử chân chính chúng ta phải
biết chọn lựa những thức ăn và thức uống không làm ảnh
hưởng xấu đến cơ thể và đến chúng sinh. Người ăn chay mà lại
thích ăn đồ giả mặn, loại thức ăn này rất có hại, không đủ chất dinh
dưỡng và lại đắc đỏ hơn những loại rau cải bình thường.
Lại nói, ăn chay trong thời buổi này, cần phải cao thượng
và có ý thức, chúng ta chấp nhận muốn ít biết đủ như vậy sẽ
ít bệnh. Trước khi ăn những món hiền lành và bổ dưỡng ta nên nói
thầm trong miệng, "chỉ xin ăn những thức
ăn có tác dụng ngăn ngừa tật bệnh và nuôi
dưỡng thân tâm sáng suốt". Đó là ta luôn sống trong tỉnh
giác khi ăn và khi nấu ăn. Ngoài những thức ăn vật chất để
nuôi thân tồn tại, thức ăn tinh thần mới thực sự quan trọng
đối với mọi người trên thế gian này. Nếu sống trong tu
viện thì mỗi ngày đọc kinh, sám hối, ngồi Thiền, được gần
gũi các bậc tu hành, trông thấy đức hạnh của họ sẽ
giúp chúng ta sống tốt theo.
Người ăn chay đúng cách ít bệnh mà vẫn sống
khỏe sống thọ. Ăn chay còn có ích lợi cho sức
khỏe như dễ tiêu hóa hơn, tốt cho tim mạch hơn, ít gây bệnh tật
hơn. Nhiều người xung quanh thường cảm thấy an tâm hơn khi sống
gần gũi những người ăn chay. Những con thú chỉ ăn thực vật thảo
mộc, không bao giờ sát hại các sinh vật khác, không gây sợ
hãi cho các loài vật sống gần bên.
Người tự nguyện phát tâm ăn chay là người
có tâm từ bi rộng lớn, coi muôn loài vật như bản thân mình,
không thích giết hại một sinh vật nào, không muốn nhìn thấy một
sinh vật nào đau khổ. Họ hiểu biết rằng các loài sinh vật
đều ham sống sợ chết, khi bị sát hại chúng cũng đau đớn như loài
người không khác. Có những người họ từ bi đến nỗi những loài vật
nhỏ xíu như côn trùng, gián, kiến, ruồi, muỗi cũng không dám sát
hại chúng; hoặc những loài vật lớn hơn như gà, vịt, heo, bò cũng không
dám ăn thịt nên họ ăn chay trường. Ăn chay không phải
là đổi món ăn cho ngon miệng, cũng không phải là cách ăn kiêng
cữ do bác sĩ, thầy thuốc dặn bảo mà là một cách tu
hành của người có lòng từ bi.
Trong cuộc sống của chúng ta, người nào phát
tâm ăn chay trọn vẹn thì thật là đáng quý, đáng trân trọng.
Đó là nhân duyên tốt để chúng ta tiến tu trên con
đường hành Bồ tát đạo cho đến khi nào thành
Phật viên mãn mới thôi. Khi ăn chay trường chúng
ta giữ trọn vẹn giới không sát sinh, nhờ vậy ta luôn được
khỏe mạnh an vui trong đời hiện tại.
Ăn chay đối với nhân loại mà nói không chỉ giữ
được thân thể khỏe mạnh, tránh được nhân quả nghiệp
báo mà còn có nhiều lợi ích khác không thể nói cho
cùng. Lợi ích thiết thực lớn nhất của ăn
chay là tăng trưởng lòng từ bi đến với các loài vật
và cuối cùng là nhân chấm dứt ác nghiệp vì không tạo nghiệp
giết hại chúng sinh.
Chỉ có Phật giáo mới có thể nói rõ được nguyên
nhân vì sao chúng ta luôn đau khổ thân tâm. Chúng ta có thể thấy
quả thì biết nhân, giống như thấy dưa thì biết ngay dưa là từ hạt
giống dưa mà có. Hiện tại, sở dĩ loài
người bị quả báo dẫn đến đau thương, chết chóc làm nhiều
người đau khổ là do tạo nhân giết hại mà ra.
Sát sinh có hai nguyên nhân chủ yếu, một là trực
tiếp giết và hai là xúi bảo người khác giết. Nếu tạo hai nghiệp sát
này thuần thục thì khi đủ duyên tất sẽ kết thành quả ác.
Một số người do không tin lý nhân quả, lại còn cho rằng trời sinh
ra vạn vật để phục vụ con người nên mặc tình giết hại.
Dân gian có câu “oan gia trái chủ”, giả sử có trải qua trăm
ngàn kiếp đi nữa thì những nghiệp tốt xấu mỗi người đã tạo ra cũng không mất.
Nên biết, giữa nhân và quả còn có sự trợ duyên, khi nhân gặp duyên đầy đủ điều
kiện tất yếu thì trổ quả.
Chúng ta thử tìm hiểu xem, ai làm người kể từ khi
được sinh ra và lớn lên cho đến bây giờ cũng muốn bảo
tồn mạng sống nhưng cũng đã giết chết vô số loài sinh vật. Lúc
vừa mới chào đời tuy chưa biết ăn nhưng ta bú sữa mẹ, mà sữa mẹ là do
đã ăn cơm uống nước cùng các loài sinh vật. Khi biết ăn ta đã ăn
thịt cá từ bé đến giờ nên gây đau khổ cho biết bao loài
vật. Tại sao ta phải giết chết các loài vật để ăn trong khi ta không cần giết
chúng mà vẫn có sự sống nhờ các loài hoa màu bằng thảo mộc,
chúng vẫn có thể giúp ta giữ được sức khỏe và hạn
chế tối đa việc làm tổn thương các loài hữu tình? Nếu sự
sống của con người vẫn được tồn tại mà không làm chết các
sinh vật khác thì cuộc đời an vui, hạnh phúc biết bao.
Tại sao con người giết sinh vật để ăn? Từ
khi loài người có mặt trên thế gian này họ chỉ ăn các
loại cây trái và hoa màu thiên nhiên. Lúc đầu, loài
người chỉ ăn các loại nấm, hạt, hoa, lá, củ, quả, cây, nghĩa là
chỉ ăn thức ăn bằng thực vật mà thôi, nhưng dần dần,
do nhu cầu phát triển theo sự ham muốn mà con người ăn thịt cá, bắt
chước các loài dã thú ăn nuốt lẫn nhau.
Khi thấy một số súc sinh ăn nuốt lẫn nhau để bảo
tồn mạng sống như ăn thịt, cá, con người dần dà bắt chước
ăn theo. Mới đầu ta cũng ăn sống, sau này cuộc sống văn minh hơn
nên biết nấu chín và chế biến theo nhiều hình thức khác nhau
để phục vụ sự khoái khẩu của bản thân.
Sự phát triển của loài người ngày càng đông nên
các thức ăn bằng thực vật ngày càng khan hiếm, không đủ
cho con người tiêu dùng, mặc khác ăn thịt sẽ no lâu và nhiều năng
lượng hơn, nên con người từ đó đã chuyển sang ăn các
loài động vật và tự gây giống chăn nuôi thêm. Họ đã nghĩ rằng ăn
thịt các loài động vật sẽ tăng sức khỏe đủ
sức làm các công việc nặng nhọc, hơn nữa lúc đó họ chưa ý
thức rõ sự tác hại trong vấn đề nhân quả nghiệp
báo. Đa số cho rằng: “Trời sinh ra vạn vật là để phục
vụ cho thần linh thượng đế và con người, con
người được toàn quyền hành hạ, giết hại các loài vật để sinh sống”.
Ai theo truyền thống này là tự mình đánh mất lòng từ
bi bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Quan niệm “vật
dưỡng nhân” làm cho con người trở nên thù ghét, giết hại lẫn nhau
để bảo vệ quyền lợi riêng tư của mình.
Chính vì vậy, với đà văn minh tiến
bộ của con người ngày nay, chúng ta đã thấu hiểu mọi
khía cạnh trong cuộc sống đều dựa trên nền tảng nhân quả. Giết
hại hay ăn các loài động vật sẽ thọ quả báo bị
giết hại trở lại hay bệnh tật nhiều và chết yểu.
Nếu người Phật tử không có lòng thương
xót trước cảnh giết chóc, ăn nuốt lẫn nhau thì hạt giống từ
bi của chúng ta bị sự tham lam, si mê lấn chiếm, từ đó trở
nên vô cảm và độc ác. Nếu chúng ta vì muốn ăn
ngon để thỏa mãn sự tham đắm của mình mà nhẫn tâm giết
hại các loài vật thì sao có thể là người Phật tử chân chính?
Ăn chay thể hiện lòng bình đẳng của tất cả
muôn loài, vì tất cả chúng hữu tình đều có tính Phật như nhau. Đó
là sự bình đẳng trên vấn đề nhân quả, làm lành được hưởng
phước, làm ác chịu khổ đau.
Chúng ta ăn chay để tránh nghiệp báo bệnh
tật và chết yểu, nhưng cũng có người cho rằng “cỏ cây cũng có sự sống”.
Đúng! Cây cỏ cũng có sự sống, nhưng cây cỏ không có cảm giác, không
có ý thức tham sống sợ chết, lo lắng sợ hãi, vui
buồn khổ đau như các loài động vật. Con người là một động vật
có hiểu biết cao nhờ biết suy nghĩ và nghiệm xét, con
người là vật tối linh trong các loài sinh vật.
Chính vì vậy, khi con người gây nghiệp sát
sinh thì nghiệp nặng hơn do cố ý, còn các loài súc vật giết
hại là do bản năng sinh tồn mà không có sự toan tính. Cỏ cây
không có cảm giác rõ ràng, do đó Phật nói ăn hoa lá, củ quả của cây
không gây nghiệp báo, nếu có cũng chỉ ảnh hưởng chút ít.
Trong trường hợp khi một người bệnh do vi
trùng gây ra, nếu dùng thuốc do bác sĩ cho toa để diệt vi
trùng thì người thầy thuốc có gây nghiệp sát sinh hại vật hay
không? Vấn đề này quyết định là có sát sinh đối
với vi trùng đó, nhưng vì loài sinh vật này không có cảm giác và đau
khổ, nên nghiệp sẽ nhẹ hơn, và cứu được người bệnh thì phước tạo được
của bác sĩ lớn hơn. Về mặt nhân quả đương nhiên phải
chịu quả báo đối với các loài vi trùng đó, nhưng chỉ nhẹ
thôi, không đáng kể.
Một bằng chứng cho thấy một số động vật chỉ ăn cỏ cây,
hoa lá có thân hình thật to lớn, lại khoẻ như voi, trâu, bò, ngựa,
dê,… Chúng chẳng bao giờ ăn thịt cá nhưng lại to lớn, khoẻ mạnh và có
thể giúp nhiều việc cho con người.
Tóm lại, Trong cuộc sống hằng ngày, nếu con
người không cần phải ăn uống mà vẫn sống bình
thường thì chắc là không một ai đấu tranh, giành giựt vì quyền
lợi riêng của mình và dân tộc mình, như thế mọi người sẽ sống an
vui và hạnh phúc. Đó là chúng ta nói về phạm vi chung
của nhân loại.
Riêng trong đạo Phật quan niệm về việc ăn
uống có một vấn đề thường gây thắc mắc, tranh
luận đúng sai từ xưa đến nay là ăn chay và ăn
mặn. Theo lời Phật dạy, muốn có một cuộc sống đầy đủ sức
khỏe và đủ năng lực để làm việc thì chúng
ta cần ăn uống điều độ, vừa đủ để nuôi
thân. Chúng ta nên theo một chế độ ăn uống thích
hợp với bao nhiêu phân lượng chất đạm, chất xơ, chất bột, chất
béo, chất ngọt, chất khoáng, chất vôi, chất sắt, chất nước và các loại
sinh tố trong một ngày để cơ thể có đủ năng lượng hoạt
động và làm việc. Quá dư chất cũng sinh bệnh và thiếu chất cũng
sinh bệnh.
Đối với đạo Phật, vấn đề ăn uống không phải
là chuyện quan trọng hàng đầu. Dù ăn mặn hay ăn chay chúng
ta cũng nên ăn uống đơn giản, đạm bạc để
dành nhiều thời gian cho những việc làm lợi ích.
Chuyện ăn uống thuộc về phạm vi thể chất, bồi
bổ cho tấm thân tứ đại giả tạm này để làm phương
tiện tu tâm dưỡng tánh cho đến ngày giác
ngộ và giải thoát hoàn toàn. Con người muốn sống
một cuộc đời an nhàn, tự tại không nên lệ
thuộc quá nhiều vào việc ăn uống.
Phật giáo có hai truyền thống. Phật giáo Nam
tông, tức là Phật giáo nguyên thủy, họ ăn mặn theo quan
niệm Tam Tịnh Nhục như Phật giáo Ấn Độ hiện
tại vẫn ăn mặn. Thứ nhất là không trực tiếp giết hại con vật để ăn,
thứ hai là không xúi bảo người khác giết, thứ ba là không thấy không nghe con
vật bị giết. Ngược lại, Bà La Môn giáo ngày xưa, nay là Ấn
Độ giáo, họ nghe lời Phật dạy nên biết được nghiệp sát
sinh để bồi bổ thân này là tội lỗi, sẽ bị trả
quả báo giết hại trở lại nên họ đã ăn chay.
Phật giáo thế giới chiếm số đông đa số ăn
mặn vì họ theo quan niệm Phật giáo lịch sử ở Ấn
độ, khất thực ai cho gì ăn đó.
Quan niệm của Phật giáo Bắc tông hiện nay
cho ăn chay tu theo hạnh Bồ tát để thành Phật vì
cho rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính bình
đẳng như nhau và thể hiện lòng từ bi không muốn
làm tổn hại muôn loài vật. Chính vì vậy, Phật giáo Bắc
tông bắt buộc mỗi tu sĩ khi thọ giới Tỳ kheo phải
thọ Bồ tát giới, cư sĩ tại gia nếu phát tâm cũng
được thọ Bồ tát giới.
Riêng Phật giáo Nam tông không có thọ Bồ tát
giới và ăn mặn theo Tam Tịnh Nhục. Vậy việc ăn
chay, ăn mặn trong Phật giáo có làm ảnh hưởng đến
sự tu tập hay không?
Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ.
Khi đức Phật ra đời vì phải đi khất thực, không ở một chỗ quá ba
ngày nên ai cho gì ăn đó mà không phải nấu nướng. Ngày nay, Phật
giáo phát triển bắt buộc tu học tại chùa, không được
đi khất thực và phải nấu ăn tại chỗ, nên phải ăn chay giữ giới sát
sinh.
Thật ra, ăn chay hay ăn mặn cũng đều tu
hành được cả, ai đủ duyên thì ăn chay hoàn toàn, ai chưa đủ
duyên thì ăn mặn và tập sự ăn chay mỗi tháng từ 1
ngày cho đến 10 ngày và cuối cùng là ăn chay trọn
vẹn.
Tóm lại, vấn đề ăn mặn và ăn chay còn
khá nhiều khía cạnh tế nhị khác, trong phạm vi hạn hẹp và
có giới hạn chúng tôi không dám luận bàn nhiều, chỉ
nhắc lại lời cổ nhân dạy: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để
mà ăn". Nghĩa là, con người sanh ra trên trái đất này ngoài
chuyện ăn uống để bảo tồn mạng sống thì chúng
ta còn phải làm tròn trách nhiệm đối với gia đình, người
thân và đóng góp lợi ích thiết thực cho xã hội. Cho nên,
người tu theo đạo Phật dù tại gia hay xuất
gia cũng phải ý thức chỗ này mỗi khi thọ thực. Chúng
ta cần phát tâm từ bi rộng lớn thương xót những
người chưa thể ăn chay vì một lý do gì đó bằng cách tự đọc
lời cầu nguyện trước khi ăn để hồi hướng phước báu ăn
chay đến với tất cả mọi người. Hoặc chúng ta chắp
tay cầu nguyện cho tất cả chúng sinh ít ra cũng đều có
những bữa cơm đạm bạc như mình vậy, vì sự ăn uống của mình không
làm tổn hại đến các loài sinh vật.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét