5 thg 6, 2025

HIỂU VỀ TRÁI TIM (Giới thiệu)

Minh Niệm - First New

Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Nghệ Thuật Sống Hạnh Phúc


Cách đây mười tám năm, tôi đã quyết lòng ra đi tìm hạnh phúc chân thật. Dù thời điểm ấy, ý niệm về hạnh phúc chân thật trong tôi còn rất mơ hồ, nhưng tôi vẫn tin rằng nó có thật và luôn hiện hữu trong thực tại. Đến mười năm sau tôi mới tìm thấy được con đường. Rồi mãi đến bây giờ tôi mới tự tin đặt bút xuống ghi lại những gì mình đã khám phá và trải nghiệm để chia sẻ với mọi người.

 

- Minh Niệm –

 

LỜI NÓI ĐẦU

ĐỂ SỐNG TRONG HẠNH PHÚC VÀ YÊU THƯƠNG

 Mỗi lần đọc, chắc chắn sẽ có một nhận thức mới” – tác giả của Hiểu Về Trái Tim đã từng nói như thế. Và thật sự đúng là như vậy.

Nhận thức mới này một phần do chúng ta đã mở lòng ra và tạm buông những nhận thức cũ mà chúng ta từng bám chặt để xây dựng nên hiểu biết của mình. Một phần do mỗi lần đọc chúng ta mang một tâm trạng khác nhau, tâm càng bình yên thì sự thấu hiểu và độ thấm càng sâu. Một phần do tác phẩm có những từ ngữ hay ý tưởng buộc chúng ta phải suy ngẫm rất nhiều mới lãnh hội hết được. Và một điều quan trọng nữa là có nhiều vấn đề chúng ta nghĩ mình đã hiểu rồi nhưng khi đọc lại vẫn thấy nó mới mẻ, hồ như chưa từng biết nó bao giờ. Đó là vì chúng ta chỉ mới biết qua mà chưa ứng dụng để biến nó thành kinh nghiệm thân quen của mình, hoặc chí ít là chúng ta vẫn chưa khắc sâu những điều tâm đắc ấy trong lòng. Vì vậy, đọc nhiều lần một tác phẩm, nhất là những tác phẩm tâm lý sâu sắc như Hiểu Về Trái Tim, là một điều hết sức cần thiết.

Trong đợt tái bản này, chúng ta sẽ đón nhận Hiểu Về Trái Tim với những cảm nhận mới mẻ hơn nữa. Vẫn là tác phẩm được đông đảo bạn đọc yêu thích và “gối đầu giường”, nhưng nó lại được chính tác giả làm mới lại bằng sự chăm chút tỉ mỉ từng câu từng ý, khiến cho tác phẩm vốn đã dễ đi vào lòng người lại càng dễ đi vào lòng người hơn. Tác giả đã kiên nhẫn viết lại khá nhiều đoạn văn, thậm chí nhiều bài để đơn giản hóa ý tưởng và để chia sẻ thêm những kinh nghiệm tiếp cận và chuyển hóa phiền não. So với bản in đầu tiên, riêng tôi thích bản hiệu đính súc tích này hơn. Và so bản in đầu tiên với bản nguyên thủy được lưu truyền nhiều năm trước thì bản in đầu tiên lại đầy đủ và hay hơn. Điều đó cho chúng ta thấy sự tận tâm của tác giả, luôn muốn cống hiến những điều tốt đẹp và hoàn hảo nhất đến mọi người. Vì như chúng ta đã biết, diễn đạt những cung bậc cảm xúc là một việc không đơn giản chút nào.

Tác phẩm Hiểu Về Trái Tim ngày càng hay hơn. Tinh thần của quyển sách đã thực sự đi vào tâm hồn và có khả năng chuyển hóa đời sống của những ai đã từng tiếp xúc với nó, đúng như câu phụ đề trong bản hiệu đính lần này: “Hiểu Về Trái tim – Nghệ thuật sống hạnh phúc”. Ước mong tinh thần này sẽ tiếp tục soi sáng và nâng đỡ những tâm hồn còn khổ đau hay lạc hướng vì chưa tìm thấy con đường đi đúng đắn trong cuộc đời. Điều này còn tùy thuộc vào cách chúng ta cảm nhận, ứng dụng và chia sẻ “cuốn cẩm nang sống” này.

Chúc các bạn hiểu về trái tim để thực sự sống trong hạnh phúc và thương yêu.

 

Giám đốc First New – Trí Việt

Nguyễn Văn Phước

 

 LỜI GIỚI THIỆU

Cố Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê

Trong cả cuộc đời nghiên cứu của tôi, động cơ thúc đẩy công việc làm không phải là danh lợi, mà là tình người, tình thương dân tộc và đất nước. Khi đánh giá một người nghệ sĩ, tôi không đặt trọng tâm vào tài sắc vẹn toàn, mà vào tài đức vẹn toàn, tôi luôn luôn chú trọng vào cái tâm của người nghệ sĩ hơn cái tài của họ, vì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Nguyễn Du). Có trái tim để yêu thương, nhưng lắm lúc cũng vì trái tim mà đau khổ, và đau khổ vì nội tâm thì không thể dùng những phương thuốc theo Y học.

Đối với tôi chữ tâm quan trọng nhứt trong cuộc đời. Yêu thương là cho đi trọn vẹn chứ không nhận lãnh về mình. Khi yêu thương thì tận hưởng tình thương, nhưng không để mình mê đắmkhổ lụy về tình thương đó. Trong đời tôi chưa biết ghen, vì khi ghen tức là mình không tin cậy lòng chung thủy của người mình thương và không tự tin rằng mình có đủ khả năng để giữ được tình thương của người bạn đường. Nên khi nhận được quyển sách này, tôi say mê, đọc kỹ, nhận thấy có những điểm tương đồng trong quan điểm sống. Và tâm đắc với những trải nghiệm, những khám phá thấu đáo qua từng vấn đề, khía cạnh phong phú của nội tâm, tâm hồn con người.

Có thể nói đây là một cuốn sách đầu tiên thuộc chủ đề Hạt giống tâm hồn do một tác giả Việt Nam viết. Tôi thấy đây là cuốn sách có giá trị, nội dung và ý tưởng phù hợp với người Việt Nam, rất hữu ích, dễ hiểu và dễ ứng dụng. Cuốn sách sẽ giúp người đọc hiểu được cảm xúc của tâm hồn, trái tim của mình và của người khác – và tận cùng – là để loại bỏ bớt nỗi buồn, tổn thương, và tìm được hạnh phúc trong cuộc sống.

Để chữa lành những tổn thương và nổi đau đó, từ trước đến giờ, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới đã có rất nhiều nhà tâm lý và khoa học đã nghiên cứu những phương cách khác nhau để chữa lành một trái tim đang tan vỡ, một tâm hồn bị tổn thương. Và cách tốt nhứt, hữu hiệu nhứt là cần hiểu rõ được trái tim, tâm hồn của mình và của người khác, cuốn sách Hiểu Về Trái Tim chính là cuốn sách giúp bạn đọc làm được những điều đó: Hiểu rõ và chữa lành trái tim, tâm hồn của mình và của những người xung quanh, để họ cùng được sống trong hạnh phúc và yêu thương.

Với cuốn sách này, chúc bạn đọc sẽ luôn hạnh phúc và không bao giờ phải sống với một trái tim tan vỡ hay một tâm hồn bị tổn thương.

 

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 2/6/2010

Trần Văn Khê


4 thg 6, 2025

NÚI SÔNG CHỈ LÀ NÚI SÔNG

Có một thiền ngữ nổi tiếng, thường được nhắc tới trong nhà thiền. Thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín đời Tống nói:

Hồi 30 năm trước, khi lão tăng còn chưa tham thiền, thấy núi là núi, thấy sông là sông. Về sau, gặp được thiện tri thức, có chỗ hội nhập, thấy núi không là núi, thấy sông không là sông. Bây giờ được chỗ dứt sạch, thấy núi chỉ là núi, thấy sông chỉ là sông.” 

Thực ra, ba giai đoạn này không riêng gì của Thiền TôngChúng ta sẽ gặp trong tất cả các lời dạy của Đức Phật.

*** Giai đoạn đầu: Khi chúng ta thấy núi là núi, thấy sông là sông, lúc đó chúng ta thu thập những kiến thức học từ xã hộigia đình. Những quy ước thế gian rằng ngọn núi trước mắt ta gọi là núi, con sông nơi bến đò thì gọi là con sông. Chúng ta học từ quy ước, từ kiến thức quá khứ của tập thể cộng đồng, và chúng ta đặt tên cho tất cả mọi thứ theo cách như thế.

*** Giai đoạn hai: Tới khi ta tiếp xúc với Phật Pháp một thời gianchúng ta được học Bát Nhã Tâm Kinh, nhìn thấy rằng “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”. Nghĩa là, Sắc (những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường) chính là Không. Những cái được thấy cũng như ảnh trong gương, chúng chuyển biến liên tục, không có thực thể, không thể trường tồn, tức là không có tự ngã, nên gọi là Vô Ngã.

Đức Phật từng lấy thí dụ rằng, những âm thanh của đàn tỳ bà nghe rất tuyệt vời, nhưng là do rất nhiều nhân duyên mới hình thành được. Thân đàn là gỗ chặt từ cây rừng về rồi cưa, bào, chuốt, đóng thành cây đàn. Cây rừng phải được trồng nhiều năm để có sớ gỗ phù hợp, phải có mưa, gió, nắng cho cây lớn. Người nhạc sĩ phải học nhiều năm để sáng tác ca khúc, và để sử dụng cây đàn. Khi chúng ta ưa thích tiếng đàn, muốn lấy ra âm thanh đó, dù chúng ta chặt cây đàn làm trăm mảnh cũng không tìm ra tiếng đàn.

Đức Phật khi dạy pháp Tứ Niệm Xứ, nơi phần quán thân, đã nói trong Kinh DN 22 rằng, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

"...một Tỷ kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: “Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu.”

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. “Có thân đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy vọng hướng đến chánh tríchánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân." (ngưng trích)

Nghĩa là, người tu nhìn thấy thân chỉ như một bọc da chứa đủ thứ bất tịnh, nhìn thấy tánh sanh khởi nơi thân, nhìn thấy tánh diệt tận nơi thân, liên tục thấy tánh sanh diệt trên thân, không thấy có gì là tự ngã và do vậy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Đó là thấy thân không phải là thân, mà chỉ là một bọc da, và thấy chỉ là những chuyển động sanh diệt nơi thân. Kinh Kim Cang viết rằng, những gì có sanh diệt thì không thể gọi là có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Đó chính là thấy núi không phải là núi, thấy sông không phải là sông.

*** Giai đoạn ba: Thế rồi chúng ta sẽ tới lúc nhận ra rằng, cái thấy tối hậu sẽ là cái thấy Như ThịHòa thượng Thích Phước Hậu (1866 - 1953) để lại lời dạy cho tăng chúng Việt Nam bài thơ:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Đến nay tính lại đà quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.

Đức Phật có một số bài kinh dạy về pháp chữ Như này. Trong Kinh AN 4.24, Đức Phật dạy rằng cái nhìn của bậc Như Lai là, khi thấy, nghe, cảm thọnhận biết thì đừng tưởng tượng (ngài Bodhi dịch là "do not misconceive" đừng nghĩ sai về; trong khi ngài Sujato dịch là "do not conceive" là đừng nghĩ thêm ra) hay đừng hình dung gì thêm, dù là tưởng tượng hay hình dung về cái được thấy, cái không được thấy, cái sẽ được thấy, và cái người thấy. Cái tuyệt vời của Kinh này là, Bodhi và Sujato dịch bằng 2 chữ trái nghịch nhau nhưng đều diễn tả được ý của Như Lai. Bản dịch của Thầy Minh Châu như sau, trích:

Như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Đã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe...” (ngưng trích)

Rồi tới bài Kinh Bahiya Sutta, Đức Phật nói rất đơn giản về pháp Như, rằng: “Thế này, Bahiya, ông nên tu tập thế này: Trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy; trong cái được nghe sẽ chỉ là cái được nghe; trong cái được thọ tưởng sẽ chỉ là cái được thọ tưởng; trong cái được thức tri sẽ chỉ là cái được thức tri.’ Cứ thế mà tu tập đi, Bahiya.

“Khi với ông, này Bahiya, trong cái được thấy chỉ là cái được thấy… [nhẫn tới]… trong cái được thức tri chỉ là cái được thức tri, thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘với đó.’ Này Bahiya, khi ông không là ‘với đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không là ‘trong đó.’ Này Bahiya, khi ông không ‘trong đó,’ thì rồi Bahiya, ông sẽ không ở nơi này, cũng không ở nơi kia, cũng không ở chặng giữa. Thế này, chỉ thế này, là đoạn tận khổ đau.”

Nghe xong, ngài Bahiya chứng quả A la hán. Xin chú ý rằng, trong cái được thấy sẽ chỉ là cái được thấy. Có nghĩa là, thấy, nghe, trực tiếp, không phải thấy và nghe qua lý luận, không qua kiến thức thế gian, không qua thói quen đặt tên của xã hội, của quá khứ, của quy ước. Đó là cái thấy trực tiếp, cái thấy mà không gọi tên. Chỉ tạm gọi là, thấy núi là núi, thấy sông là sông, nhưng không phải là thấy núi và sông qua những hình ảnh và lý luận của quá khứ mà chúng ta mang nặng.

Cái thấy, cái nghe lúc này sẽ là cái thấy và nghe của tĩnh lặng, của tức khắc sinh và tức khắc diệt, như chim bay trên bầu trời, không chút dấu vết nào còn trong tâm. Và tạm gọi rằng thấy núi là núi, thấy sông là sông.


1 thg 6, 2025

LÀM CHỦ CẢM XÚC

Phải làm gì khi bạn xuất hiện những cảm giác, cảm xúc, những suy nghĩ tiêu cực...?

Cách của mình thường làm là khi quan sát những cảm xúc này, mình sẽ tự hỏi bản thân (áp dụng bộ câu hỏi What? When? Why? How? Who?)

📌Tại sao vậy?

📌Sao mình lại có phản ứng như này?

📌Ai làm cho mình có cảm giác này?

📌Hoàn cảnh / tình huống nào làm cho mình có cảm giác đó?

📌Nỗi sợ, niềm tin nào khiến cho mình có cảm giác đó? 

Chung quy lại con người thường có hai nỗi sợ lớn nhất là sợ chết và sợ giá trị của mình không được thừa nhận, hai nỗi sợ này cũng đều là hư ảo mà thôi...

Và cứ thế mình "truy vết" tới tận cùng của vấn đề để tìm ra câu trả lời:

Tất cả các tình huống khó chịu, sự xung đột trong các mối quan hệ, những điều bất như ý... mà bạn đang "chịu đựng", chính là một bài kiểm tra để xem trong mối quan hệ đó, trong bối cảnh đó bạn đã thực sự ứng xử bằng tình yêu chưa.

Dù ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả tình huống bạn đúng (tạm cho là như thế) thì khi bạn phát ra những suy nghĩ, năng lượng tiêu cực hướng tới người khác là bạn đã không hoàn thành tốt bài tập trong tình huống đó.

Và nếu bạn không nhận ra bài học thì tình huống đó sẽ lặp lại với mức độ, cường độ ngày một nhiều hơn, mạnh mẽ hơn.

♻️Một ngày nọ, khi "mình" đang nói chuyện với cô em, một "mình" khác đang quan sát và nhận diện ra sự run rẩy, khó thở, tức ngực... đó chính xác là dấu hiệu mà cơ thể thông báo cho biết sự tức tối đang xuất hiện.

Việc bạn tích tụ quá nhiều năng lượng tắc nghẽn, cảm xúc tiêu cực, cũng là một trong những nguyên nhân gây ra một số bệnh trên cơ thể vật lí (giờ mình đã được hiểu khái niệm tức nghẹn cổ, giận tím ruột, gan hihi).

Vì vậy, khi bạn khởi lên những năng lượng tiêu cực hướng tới người khác như: đố kị, ghen ghét, bôi nhọ, phê phán, giận dỗi... thì "nạn nhân" đầu tiên là chính bạn, người chịu hậu quả nặng nề nhất là chính bạn. Việc này ngu ngốc y hệt như mình uống thuốc độc rồi mong người khác sẽ chết.

🌿Chúng ta thường dễ dàng thấy lỗi của người khác mà quên đi đống rác trong đầu mình.

Những gì chúng ta nhìn thấy ở người khác nó tồn tại trong chính bạn; bên trong bạn có hạt giống gì thì sẽ nở ra hoa trái đó

Nếu trong bạn có hạt giống của sự ngã mạn, đố kị, hờn ghen, cao ngạo, sân hận... thì quả bạn thu đc là sự khổ đau, bất như ý.

Nếu trong bạn là hạt giống khiêm nhường, yêu thương, sẻ chia, thấu hiểu, cảm thông... thì quả sẽ là hạnh phúc, an lạc

Hãy ngưng lại tâm lý nạn nhân, tâm lý đổ lỗi, chăm chỉ dọn đống rác xuất hiện trước mặt bạn và cả đống rác bạn tích trữ bấy lâu nay bạn nhé!

" Hôi thối, dơ dáy bạn là người đầu tiên hưởng,

Thơm tho sạch sẽ cũng là bạn hưởng mà thôi! "

(Nguồn FB Giác Hoa)

30 thg 4, 2025

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 9

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 9

SỐNG CẠNH NGƯỜI HẤP HỐI.

Ông Cấp Cô Độc là đệ tử rất thân cận với Bụt. Ông là người xứ Koshala, phía Bắc con sông Ganga, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Ông là một thương gia thành công và được kính trọng. Mọi người yêu quý ông vì ông có tấm lòng rất rộng mở. Tên thật của ông là Sudatta, nhưng ông được gọi là Cấp Cô Độc, có nghĩa là “người chu cấp, thương tưởng tới những kẻ nghèo đói”. Đây là một điều thể hiện sự kính trọng ông, vì ông luôn luôn giúp tất cả những người nghèo hay thất nghiệp và các trẻ mồ côi.

Khi ông mới ba mươi tuổi, một hôm ông đi tới vương quốc Magadha, nơi mà Bụt cũng mới tới. Ông đi thăm người em gái và em rể đang sinh sống tại xứ đó. Ông khá ngạc nhiên khi thấy các em mình không đón tiếp ông long trọng ân cần như mọi khi. Khi hỏi cô em vì sao cô không có thì giờ với ông thì cô cho biết cả nhà đang rất bận rộn để sửa soạn đón tiếp Bụt, một vị thầy tuyệt vời. Nghe tên Bụt, ông Cấp Cô Độc rất tò mò. Ông hỏi cô em: “Đó là ai vậy?”. Cô liền trả lời ông với giọng rất tôn kính Bụt, khiến cho ông nóng lòng muốn tới thăm Bụt ngay.

Sớm hôm sau, ông Cấp Cô Độc đi tới tu viện Trúc Lâm để nghe Bụt thuyết pháp. Bài giảng đã khiến ông rất xúc động. Ông đã lạy Bụt và thỉnh Ngài tới thuyết giảng tại quê ông để cho gia đình và bạn bè ông được nghe pháp.

Dù Bụt chỉ mới đi thuyết pháp ba năm, Ngài đã có một ngàn hai trăm đệ tử. Trong số các tăng sĩ cùng du hành với Bụt có Ngài Xái Lợi Phất. Ngài đã nổi tiếng là một vị đại sư trước khi trở thành đệ tử của Bụt, các sự đệ và môn sinh của Ngài cũng đi theo Ngài làm môn sinh của Bụt.

Bụt nhận lời ông Cấp Cô Độc để tới Shravasti. Thủ đô của vương quốc Koshala. Ông Cấp Cô Độc về đó trước để sửa soạn đón tiếp. Ông cần một tăng sĩ đi cùng. Bụt cử Xá Lợi Phất là người rất giỏi trong việc xây dựng tăng thân, đi cùng với ông Cấp Cô Độc. Hai vị, một tăng sĩ và một cư sĩ đó, chẳng bao lâu trở nên thân thiết nhau.

Có người nghĩ rằng tu sĩ chỉ kết thân được với tu sĩ và cư sĩ cũng chỉ gần được với cư sĩ thôi. Nhưng không phải vậy. Một khi cả hai cùng có ước vọng tu tập thỉ thức và nhìn sâu, họ có thể trở thành bạn thân, người cộng sự và bạn đồng tu được. Không có sự phân biệt. Người tu sĩ hay cư sĩ đều có thể là người tốt và là bạn thân thiết của nhau.

Ông Cấp Cô Độc muốn tặng cho Bụt một mảnh đất để xây tu viện tại Koshala. Sau khi tìm kiếm nhiều nơi, ông biết chỉ có một khu đất kia là khá đẹp. Đó là khu công viên xinh xắn của Thái tử Kỳ Đà (Jeta). Ông Cấp Cô Độc rất giàu có, nên tin rằng ông có thể thuyết phục Thái tử bán mảnh đất ấy cho ông. Ông hoàng đã trồng nhiều thứ cây đẹp đẽ trên mảnh đất nên nó đẹp như cõi thiên đàng. Khi ông Cấp Cô Độc tới hỏi mua thì Thái tử từ chối. Ông trả giá cao hơn nhưng vẫn bị từ chối. Cuối cùng ông Cấp Cô Độc hỏi: “Thái tử muốn bao nhiêu tiền, tôi cũng sẳn sàng trả”. Thái tử trả lời: “Nếu ông có thể phủ kín đất bằng cách trải lá vàng lên đó, thì tôi sẽ bán”. Thái tử nói đùa như thế, không ngờ rằng ông Cấp Cô Độc lại nhận lời.

Ông Cấp Cô Độc mang vàng tới trải khắp khu vườn. Thái tử vẫn không muốn bán, nhưng các cố vấn của Ngài nói rằng: “Ngài là hoàng thân quốc thích, thuộc gia đình hoàng tộc, Ngài không thể nuốt lời hứa”.

Thái tử Kỳ Đà tự hỏi không hiểu vị thầy tâm linh kia có gì xuất chúng tới độ ông Cấp Cô Độc chịu trả giá cáo như thế để mua miếng đất cúng dường. Mọi người liền nói với Thái tử Kỳ Đà về Bụt, một đạo sư trẻ tuổi nhưng hoàn toàn tỉnh thức, và các bài giảng cùng lòng từ bi của Ngài không người nào có thể so sánh được. Thấy được sự kính tin và ngưỡng mộ của ông Cấp Cô Độc, Thái tử bảo ông ngừng, không cần trải thêm vàng nữa: “Ông trả như vậy là quá đủ để mua miếng đất rồi. Tôi xin tặng Bụt tất cả các cây cối tôi đã trồng, coi như tôi cúng dường Ngài”. Vì thế nên người ta gọi đó là vườn Kỳ Đà - Cấp Cô Độc. Vườn do ông Cấp Cô Độc và cây do Thái tử Kỳ Đà hiến tặng cho Bụt. Bụt rất ưa khu vườn này và ngày nay vẫn còn thấy những dấu tích của các tu viện cổ tại đó.

Trong suốt các năm sau khi gặp Bụt, ông Cấp Cô Độc vẫn tiếp tục công việc giúp người nghèo và hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Cả gia đình ông hằng tuần tới vườn Kỳ Đà nghe thuyết pháp và thực tập tỉnh thức. Ông thường dẫn các bạn thương gia tới nghe Bụt giảng dạy. Một lần ông dẫn tới hơn năm trăm thương gia để nghe Bụt dạy các cư sĩ  thực tập chánh niệm. Đa số các bạn ông thọ nhận ngũ giới. Suốt cuộc đời, ông Cấp Cô Độc rất an lạc và hạnh phúc trong việc hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Dù có nhiều thành công, ông Cấp Cô Độc cũng đã gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Có lần mất hết tài sản, sau nhờ các người cộng sự và bạn bè, ông lại trở nên giàu có.

Ba mươi lăm năm sau khi gặp Bụt lần đầu, ông Cấp Cô Độc bị đau nặng. Nghe tin ông bị ốm, Bụt tới thăm ông và nhắc ông thực tập hít thở khi nằm trên giường bệnh. Rồi Bụt cử thầy Xá Lợi Phất chăm sóc cho người bạn thân của Thầy. Bụt bảo thầy Xá Lợi Phất ở lại Koshala với ông Cấp Cô Độc để giúp ông chết một cách bình an.

Khi thầy Xá Lợi Phất biết tin ông Cấp Cô Độc đang tiến dần tới cái chết, Ngài mời sư đệ A Nan cùng đi thăm ông với Ngài. An Nan là anh em bà con của Bụt và là người có trí nhớ siêu việt, Ngài nhớ hết tất cả những bài giảng của Bụt. Ngài là cái nhân duyên chính khiến chúng ta được học giáo pháp của Bụt ngày nay.

Sau buổi khất thực, hai Ngài tới thăm ông Cấp Cô Độc tại nhà ông. Khi hai vị tăng tới nơi, ông Cấp Cô Độc rất vui sướng được gặp hai người, vì ông cảm thấy rất cần gặp quý vị đó. Ông cố hết sức để ngồi dậy đón tiếp hai thầy cho phải phép, nhưng ông quá yếu nên không thể ngồi lên được.

Thầy Xá Lợi Phất nói: “Ông bạn ơi, đừng cố ngồi dậy làm gì. Hãy cứ nằm yên, chúng tôi sẽ mang ghế tới ngồi cạnh ông đây”. Rồi thầy Xá Lời Phất hỏi: “Ông bạn cảm thấy thế nào? Có đau lắm không? Cái đau nó tăng hay giảm?”.

Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Thưa Thầy, hình như cái đau trong thân tôi không giảm mà càng lúc càng gia tăng”.

Thầy Xá Lợi Phất liền nói: “Như vậy, tôi đề nghị ông thực tập thiền quán về Tam Bảo”. Thầy giúp ông Cấp Cô Độc thiền quán về Bụt, Pháp và Tăng với sự trợ giúp của thầy A Nan ngồi kế bên. Thầy Xá Lợi Phất được coi là vị đệ tử xuất sắc nhất của Bụt, như cánh tay mặt của Bụt vậy. Ngài là huynh trưởng của hàng ngàn tăng ni. Ngài biết ông Cấp Cô Độc đã có nhiều năm hạnh phúc khi hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Ngài cũng biết rằng khi thiền quán về Tam Bảo, ông Cấp Cô Độc sẽ tưới tẩm được các hạt giống hạnh phúc trong ông, ngay lúc khó khăn này.

Ngài cùng ông Cấp Cô Độc thiền quán nhớ tưởng tới bản chất huyền diệu của Bụt, Pháp và Tăng. Chỉ sau sáu phút, cơn đau của ông Cấp Cô Độc đã đỡ nhiều vì hạt giống an lạc trong ông đã được tưới tẩm. Cơ thể ông được quân bình lại và ông Cấp Cô Độc mỉm cười.

Tưới tẩm những hạt giống của hạnh phúc là việc rất quan trọng cho người bệnh hay người sắp lìa đời. Tất cả chúng ta đều có những hạt giống hạnh phúc trong mình. Trong những lúc khó khăn như ốm đau hay sắp chết, cần có bạn bè ngồi với ta để giúp ta tiếp xúc với những hạt giống tốt đó. Nếu không các hạt giống sợ hãi, hối tiếc hay thất vọng sẽ xâm chiếm chúng ta dễ dàng.

Khi ông Cấp Cô Độc có thể mỉm cười, thầy Xá Lợi Phất biết đã có sự quân bình giữa cái đau và niềm vui. Ngài mời ông Cấp Cô Độc tiếp tục thiền quán theo Ngài hướng dẫn. “Bạn hãy thực tập theo tôi và A Nan như sau: Thở vào, tôi thấy thân này không phải là tôi. Thở ra, tôi không bị kẹt vào thân này. Thở vào, tôi là sự sống thênh thang. Thở ra, tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt”.

Khi bạn sắp chết, có lẽ bạn không có nhiều tỉnh thức về cái thân mình. Bạn có thể bị tê bại, và bạn bị kẹt vào ý niệm cái thân ấy là bạn. Bạn bị kẹt vào ý tưởng là khi thân này chết đi thì bạn cũng bị diệt. Vì vậy mà bạn sợ hãi. Bạn sợ trở thành hư vô. Sự hoại diệt của cái thân người không ảnh hưởng đến bản chất thật sự của người đó. Bạn cần giải thích cho người đó hiểu rằng anh ta có một đời sống không có giới hạn. Cái thân này chỉ là một biểu hiện tạm bợ, như đám mây. Khi mây không còn là mây nữa, nó cũng không mất đi đâu hết. Nó không thể trở thành hư vô mà chỉ hóa thành mưa mà thôi. Vậy thì ta không nên đồng hóa cái thân này với ta. “Thân này không phải là tôi. Tôi không bị kẹt vào nơi thân ấy. Tôi là sự sống thênh thang”.

Thật vậy, ta cần thực tập với mắt, rồi mũi, tai, lưỡi, thân và ý. “Mắt này không phải là tôi. Tôi không bị kẹt vào đôi mắt này. Tôi là sự sống thênh thang. Tai này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào đôi tai này. Tôi là sự sống thênh thang. Mũi này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào cái mũi này. Tôi là sự sống thênh thang…”.

Thực tập như vậy giúp ta không tự đồng hóa mình với cặp mắt, đôi tai, cái lưỡi, cái mũi hay cái thân mình. Ta khám phá ra các thức của ngũ quan đó và thấy ta không chỉ là các giác quan đó. Ta phong phú hơn sự biểu hiện của các giác quan đó nhiều. Sự ngừng bặt của các biểu hiện kia không ảnh hưởng tới ta.

Chúng ta nhìn lại coi cái gì là tự tánh của ta. Trên cơ thể và giác quan có ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nhìn sâu vào từng uẩn, ta nói: “Những thứ đó không phải là ta”. Nhận thức, cảm thọ, tư tưởng cứ tới rồi đi, đó không thể là ta được. Tâm thức cũng vậy, chỉ là những biểu hiện. Khi các nhân duyên đầy đủ thì chúng biểu hiện. Khi nhân duyên không còn đầy đủ nữa thì chúng không biểu hiện. Dù có biểu hiện hay không, những thứ đó không phải là ta.

Thầy Xá Lợi Phất hướng dẫn ông Cấp Cô Độc qua các thức của giác quan và qua năm uẩn, và ông Cấp Cô Độc thấy chúng không phải là mình. Sau đó thầy Xá Lợi Phất  hướng dẫn ông thiền quán về tứ đại. Thầy nói với ông Cấp Cô Độc: “Bạn ơi, chúng ta hãy tiếp tục thiền quán. Đất không phải là tôi (đất ở đây có ý nghĩa là các chất rắn như thịt, xương, các cơ quan, bắp thịt). Lửa không phải là tôi (lửa là hơi ấm của thân nhiệt, và tiêu thụ thức ăn). Tôi không bị kẹt vào yếu tố cơ thể hay hơi nóng đó. Chất nước trong tôi không phải là tôi, tôi không bị ràng buộc vào nó. Gió hay không khí trong tôi cũng không phải là tôi, vì tôi không bị kiềm tỏa bởi biên giới nào hết”. Thầy Xá Lợi Phất tiếp tục như thế.

Cuối cùng ông Cấp Cô Độc được hướng dẫn thiền quán về sự duyên sinh: “Ông bạn thân, ta hãy nhìn sâu hơn nữa. Khi nhân duyên đầy đủ, cái thân ta tự có biểu hiện. Nó không từ đâu tới, và sau khi hoại diệt nó cũng không đi về đâu hết”. Khi một sự vật biểu hiện thật sự ta không thấy nó sinh ra. Khi nó ngừng biểu hiện ta cũng không thể gọi là nó chết đi. Chúng ta vượt thoát các ý niệm tới-đi, có-không, sinh-diệt, giống nhau-khác nhau. Nó cũng giống hệt như bài giảng mà ta đã học quán chiếu về đám mây, ngọn lửa hay hoa hướng dương.

Khi thực tập tới đó, ông Cấp Cô Độc bắt đầu khóc. Thầy A Nan lấy làm ngạc nhiên. Thầy A Nan trẻ hơn thầy Xá Lợi Phất nhiều nên thầy không thấy được sự chuyển hóa và giải thoát của ông Cấp Cô Độc vào lúc đó. Thầy nghĩ rằng ông Cấp Cô Độc khóc vì còn tiếc nuối chuyện gì đó hoặc ông đã thực tập không thành công.

Thầy A Nan hỏi: “Tại sao ông lại khóc? Ông có hối tiếc điều gì không?”.

Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Không, thầy A Nan, tôi không có điều gì hối tiếc cả”.

Thầy A NAn lại hỏi: “Hay là ông thực tập không thành công?”.

Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Không, thưa thầy A Nan, tôi thực tập rất thành công”.

Thầy A Nan: “Vậy tại sao ông lại khóc?”.

Ông Cấp cô Độc ràn rụa nước mắt trả lời: “Thầy A Nan ơi, tôi khóc vì tôi sung sướng quá. Tôi đã phục vụ Bụt, Pháp và Tăng ba chục năm qua và tôi chưa bao giờ được giảng dạy và thực tập giáo pháp nhiệm mầu như bài thầy Xá Lợi Phất mới dạy tôi ngày hôm nay. Tôi sung sướng quá, tôi thảnh thơi quá!”.

Thầy A Nan liền nói với ông: “Ông không biết rằng các tu sĩ chúng tôi được học giáo pháp này hằng ngày sao?”.

Ông Cấp Cô Độc mỉm cười và nhỏ nhẹ nói với giọng yếu ớt: “Xin thầy A Nan hãy trở về thưa với Đức Thế Tôn là tôi hiểu bài giảng này. Có lẽ nhiều cư sĩ quá bận rộn nên không tiếp nhận và thực hành được giáo pháp này nhưng cũng có nhiều vị có đủ thảnh thơi và thì giờ để học hỏi và tu tập. Xin Đức Thế Tôn hãy dạy giáo pháp này cho các cư sĩ nữa”.

Biết đây là lời yêu cầu cuối cùng của ông Cấp Cô Độc, thầy A Nan nói: “Dĩ nhiên tôi sẽ làm như ông yêu cầu, sẽ trình lên Đức Thế Tôn ngay khi chúng tôi trở lại tu viện”. Sau khi hai thầy ra về ít lâu, ông Cấp Cô Độc  đã chết một cách bình an và không đau đớn.

Câu chuyện này được ghi lại trong kinh Độ Người Hấp Hối. Tôi xin những ai có thể, đều nên học hỏi và hành trì kinh này. Xin đừng để tới lúc đụng chuyện sống chết mới họ và hành trì kinh đó. Xin hãy tập nhìn sâu ngay từ bây giờ đẻ có thể tiếp xúc được với bản chất không sinh-không diệt, không đến-không đi, không giống nhau cũng không khác nhau. Làm được như vậy bạn sẽ hết đau buồn, khổ não. Nếu bạn cố gắng thực tập cho chuyên cần, bạn sẽ nuôi dưỡng được sự vô úy trong bạn. Bạn sẽ có thể chết một cách bình an và hạnh phúc.

Sống hạnh phúc, chết bình an là chuyện có thể làm được. Ta sẽ được như thế khi ta nhìn thấy mình tiếp tục biểu hiện trong các hình thái khác. Ta cũng có thể giúp người khác chết bình an nếu ta có những yếu tố vững chãi và vô úy trong ta. Bao nhiêu người trong chúng ta có nỗi sợ mình biến thành hư vô. Vì sợ hãi mà ta đau khổ. Vì vậy mà ta cần giúp người đang hấp hối hiểu được cái chân lý: “Ta chỉ là sự nối tiếp trong nhiều biểu hiện”. Như vậy ta sẽ không bị chuyện sống chết làm cho ta hoảng sợ, vì ta hiểu đó chỉ là những khái niệm mà thôi. Đó là cái nhìn rất quan trọng giúp cho ta hết sợ hãi.

Tôi đã lấy những lời lẽ của Kinh Độ Người Hấp Hối (thuộc Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya) để làm thành một bài hát. Đó là điệu ru, có thể hát cho người sắp chết nghe, khi họ sắp thở hơi cuối cùng:

“Thân này không phải là tôi

Tôi không kẹt vào nơi thân này

Tôi là sự sống thênh thang

Tôi chưa bao giờ từng sinh

Và cũng chưa bao giờ từng diệt

Này kia biển rộng trời cao

Muôn ngàn tinh tú lao xao

Tất cả đều biểu hiện ra tôi

Từ nguồn linh tâm thức.

Tự muôn đời tôi vẫn tự do

Tử sinh là cửa ngõ ra vào

Tử sinh là trò chơi cút bắt

Hãy cười cùng tôi

Hãy nắm tay tôi

Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại

Gặp lại hôm nay

Gặp lại ngày mai

Chúng ta sẽ gặp nhau nơi sối nguồn

Chúng ta sẽ gặp nhau trên muôn vàn nẻo sống.”

Khi hát hay đọc bài này cho người hấp hối nghe, ta sẽ giúp họ thoát được ý niệm họ có một tự tánh thường hằng dính liền với một phần nào đó trong thân thể của họ. Tất cả các hợp uẩn đều bị tan rã nhưng bản chất thực của ta không biến vào quên lãng. Việc hướng dẫn thiền quán này sẽ giúp ta không bị vướng vào ý niệm ta là cái thân này, ta là cảm xúc hoặc tư tưởng kia. Thật sự ta không phải là những thứ đó. Ta là sự sống thênh thang. Chúng ta không bị kẹt vào sinh, không bị kẹt vào tử, vào có hoặc vào không. Đó là chân lý của thực tại.

Vậy, xin đừng quá bận rộn trong đời sống hằng ngày. Xin dành thì giờ tập. Hãy học cách sống hạnh phúc, bình an và vui sướng ngay hôm nay. Hãy tập nhìn sâu để hiểu biết bản chất thật của sinh tử, như vậy bạn sẽ được chết bình an, không sợ hãi. Đây là diều ai cũng có thể làm được.

Nếu bạn thực tập như vậy, không còn sợ hãi, thì khi có người thân quen sắp chết, bạn có thể giúp họ được. Bạn phải biết thực sự bạn muốn làm gì và không muốn làm gì. Bạn là người thông minh nên sẽ biết cách dùng thì giờ một cách khéo léo. Bạn không cần mất thì giờ để làm chuyện vô ích và tầm thường. Bạn không cần giàu có, không cần có danh vọng hay quyền lực. Điều bạn cần là tự do, vững chãi, bình an và hạnh phúc. Bạn cần có thì giờ và năng lực để có thể chia sẻ những thứ đó với người khác.

Hạnh phúc của chúng ta không tùy thuộc vào chuyện chúng ta có nhiều tiền của hay danh vọng. Sự bình an của chúng ta là do ta có thực tập chánh niệm hay không. Một khi chúng ta thực tập tỉnh thức thì Bụt, Pháp và Tăng sẽ chăm sóc chúng ta và ta sẽ có hạnh phúc. Đôi mắt sáng, miệng cười tươi và bước chân vững chãi trên con đường thênh thang của cuộc sống tự do. Hạnh phúc của ta sẽ chảy tràn qua những người sống bên cạnh ta. Chúng ta  sẽ không dùng thì giờ vào những chuyện hời hợt, vô bổ. Ta dùng thì giờ cho sự tu học để làm đời sống ta có phẩm chất hơn. Đó là món quà quý nhất ta có thể tặng cho người thân, con cháu ta sau này. Đó là những tinh túy ta có thể chia sẻ với bạn bè. Ta cần có thì giờ để tiếp nhận, học hỏi và thực hành những giáo pháp màu nhiệm của Bụt như những điều ông Cấp Cô Độc được học vào lúc ông hấp hối.

Nương vào gia đình, bạn bè và cộng đồng, tăng thân, ta thay đổi cuộc đời mình. Ta phải sống an vui ngay được chứ không đợi tới mai sau, ta phải bắt đầu ngay lúc này, tại đây, sống an lạc  vui vẻ ngay phát giây hiện tại. Không có con đường dẫn toiwsw hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường mình đang đi.

Bài giảng của thầy Xá Lợi Phất có thể tạng cho bất cứ ai. Ông Cấp Cô Độc rất may mắn nhận được giáo pháp đó vào lúc cuối đời. Mọi chuyện đều vô thường. Ta có thể không may mắn như ông Cấp Cô Độc, có người bạn tâm linh bên cạnh để hướng dẫn khi ta sắp chết. Vì vậy ta không nên để quá trễ. Ta nên thực tập ngay để có thể tự hướng dẫn mình.

CÂU CHUYỆN VỀ CÁI CHẾT THỜI NAY

Vào đầu thập niên 1990, trên đường tới trung tâm Omega, thuộc tiểu bang New York để hướng dẫn một khóa tu, tôi nhận được tin một người bạn cũ đang nằm hấp hối trong bệnh viện  ở ngay phía Bắc thành phố New York. Ông ta tên là Alfred Hassler. Ông đã từng là giám đốc Hội thân hữu Hòa giải (Fellowship of Reconcilliation). trong những năm 1966 - 1967, ông và tôi thường đông hành đến nhiều quốc gia để có gắn vận động chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Sau này, trong giai đoạn tôi không được phép trở về xứ nữa, tôi đã nới cho thế giới biết về các hành động vi phạm nhân quyền của cả hai miền Nam Bắc Việt. Hassler đã thay tôi qua Việt Nam để điều hợp các công việc tại đó. Ông giúp các bạn tôi dựng những khu trại giúp nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi cùng nhau nuôi khoảng 8 ngàn trẻ mồ côi. Khi tôi tới Mỹ vào năm 1966, hội Thân hữu Hòa giải đã tổ chức các buổi nói chuyện cho tôi.

Khi cô Chân Không và tôi tới bệnh viện, Alfred đã hôn mê. Vợ ông là Dorothy và con gái Laura của ông có mặt bên ông. Laura là người đã làm việc tình nguyện cho phái đoàn Phật giáo Hòa bình cùng với chúng tôi khi cô còn rất trẻ.

Khi Dorothy và Laura nhìn thấy chúng tôi, họ rất sung sướng. Laura ráng gọi để cha cô tỉnh lại: “Cha ơi, Thầy tới này - cô Chân Không có đây này!” Nhưng Alfred không tỉnh lại, ông vẫn chìm trong cơn mê. Tôi bảo cô Chân Không hát cho ông ta nghe. Người sắp chết vẫm có khả năng nghe, dù ta không thấy được điều đó. Cô Chân Không bắt đầu hát: “Thân này không phải là tôi. Tôi không mắc kẹt vào thân này. Tôi là sự sống thênh thang. Tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt”. Cô hát lại lần thứ hai, lần thứ ba. Giữa hai lần sau này Alfred tỉnh lại, mở mắt ra.

Laura rất sung sướng, cô bé gọi: “Cha, cha biết là Thầy có ở đây không? Cha biết Sư cô Chân Không cũng có đây không?” Alfred không nói được tiếng nào. Nhìn vào mắt ông chúng tôi hiểu là ông biết chúng tôi đang có mặt. Cô Chân Không bắt đầu nói chuyện với ông về những kinh nghiệm hoạt động chung của chúng tôi cho hòa bình Việt Nam. “Alfred, ông nhớ thời gian ông ở Sài Gòn và ráng gặp thầy Trí Quang hay không? Hoa Kỳ đã quyết định thả bom Hà Nội ngay hôm trước và thầy Trí Quang giận quá nên nói là sẽ không gặp một người Tây phương nào nữa, dù họ là bồ câu hay diều hâu”.

“Khi ông tới, thầy không mở cửa. Alfred, ông có nhớ đã ngồi ngoài cửa viết một đoạn ngắn: “Tôi là bạn, không phải kẻ thù, tới để giúp cho cuộc chiến sớm kết thúc trên xứ Thầy. Tôi sẽ không ăn uống gì hết cho tới khi Thầy mở cửa cho tôi’. Ông đã đẩy thư qua khe cửa, Alfred, ông nhớ không? Ông đã ngồi đó cho tới khi cửa mở. Ông nhớ chứ? Chỉ mười lăm phút sau, Thầy Trí Quang mở cửa, miệng cười tươi để mời ông vô phòng… Alfred, ông cón nhớ không?…”

Sư cô Chân Không tiếp tục nói với Alfred về những niềm vui mà chúng tôi đã cùng trải qua khi vận động hòa bình cho Việt Nam. Chuyện này có hiệu quả thật mầu nhiệm. Cô đã làm như thầy Xá Lợi Phất đã làm cho ông Cấp Cô Độc. Cô cố gắng tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc cho Alfred. Niềm vui của ông là lý tưởng phụng sự hòa bình và chấm dứt đau khổ cho người khác. Khi hạt giống hạnh phúc được tưới tẩm, trong công có sự thăng bằng về khổ và vui, nên ông tỏ ra bớt đau đớn.

Trong khi đó tôi thoa bóp chân cho Alfred. Tôi nghĩ là một người hấp hối có thể không có ý thức gì mấy về cơ thể của họ vì nó đã bị tê. Laura hỏi: “Cha, cha có biết là Thầy đang thoa bóp chân cho cha không?”. Alfred không nói được nhưng nhìn vào mắt ông, chúng tôi biết ông có nhận ra là chúng tôi đang hiện diện. Bỗng nhiên ông mở miệng kêu lên: “Mầu nhiệm quá, mầu nhiệm quá!”. Sau đó ông hôn mê lại và không bao giờ tỉnh nữa.

Đêm đó tôi phải nói pháp thoại hướng dẫn cho các thiền sinh tại Omega. Chúng tôi từ biệt họ và bảo Dorothy cùng Laura hãy làm theo lời tôi và cô Chân Không, hãy nói chuyện và hát cho Alfred nghe. Sớm hôm sau tôi dduocj tin Alfred qua đời rất bình an vài giờ sau khi chúng tôi rời khỏi ông.

Những người bị hôn mê vẫn có thể nghe chúng ta nếu ta thật sự có mặt một cách bình an bên họ. Mười năm trước đây có một sinh viên sống tại Bordeaux, bên Pháp, nghe tin mẹ anh hấp hối tại California, anh khóc thật nhiều. Anh không biết khi bay  về tới California thì mẹ anh còn sống hay không. Sư cô Chân Không bảo anh bay ngay về và nếu mẹ anh còn sống thì hãy làm giống như thầy Xá Lợi Phất đã làm với ông Cấp Cô Độc. Cô bảo anh hãy nói về những kỷ niệm đẹp đẽ giữa hai mẹ con. Anh cũng nên nhắc tới thời mẹ lấy bố và những năm mẹ còn trẻ. Nói với mẹ như thế, anh gợi lại cho mẹ những điều mẹ vui, dù mẹ không còn tỉnh.

Khi anh tới bệnh viện thì mẹ anh đã hôn mê. Dù không hoàn toàn tin rằng người mê man có thể nghe được nhưng anh đã làm những gì mà sư cô đã căn dặn. Bác sĩ cho anh biết bà mẹ đã mê cả tuần trước và không có hy vọng gì bà sẽ tỉnh lại trước khi chết. Nhưng sau khi nói chuyện với mẹ khoảng một giờ rưỡi đồng hồ, bà tỉnh lại. Khi ngồi bên giường người hấp hối, nếu bạn bình tĩnh và thân tâm bạn hoàn toàn hiện diện tại đó, bạn có thể giúp được người đó chết một cách an nhiên.

Tâm thức của chúng ta giống như một cái máy truyền hình có nhiều kênh. Khi ta bấm nút, kênh ta chọn sẽ hiện ra. Khi ta ngồi bên người hấp hối, ta phải biết nên chọn kênh nào. Người thân với bệnh nhân là người tốt nhất để làm việc này. Nếu bạn ở cạnh người hấp hối, bạn nên dùng hình ảnh và âm thanh có thể tưới tẩm những giờ phút hạnh phút nhất của người đó. Trong tâm thức của ai cũng có những hạt giống của Tịnh độ hay Niết bàn, của vương quốc Thượng đế hay Thiên đàng.

Nếu chúng ta biết thực tập và thấm nhuần thực tại vô sinh bất diệt, nếu chúng ta hiểu được rằng đến-đi, tới-lui chỉ là những ý niệm, và nếu ta hiện diện một cách vững chãi, bình an, thì ta có thể độ được người sắp chết. Ta có thể giúp họ chết một cách bình an. Ta có thể giúp chính ta hiều rằng không có sự chết, nghĩa là không có sợ hãi. Chỉ có sự tiếp tục mà thôi.


(.....Hết.....)


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***