Thích Nhất Hạnh
Nhà xuất bản Saigon Books - thuộc bản quyền Reverhead Books
Chân Huyền dịch Việt ngữ
Chương 9
SỐNG CẠNH NGƯỜI HẤP HỐI.
Ông Cấp Cô Độc là đệ tử rất thân cận với Bụt. Ông là người xứ Koshala, phía Bắc con sông Ganga, dưới chân rặng Hy Mã Lạp Sơn. Ông là một thương gia thành công và được kính trọng. Mọi người yêu quý ông vì ông có tấm lòng rất rộng mở. Tên thật của ông là Sudatta, nhưng ông được gọi là Cấp Cô Độc, có nghĩa là “người chu cấp, thương tưởng tới những kẻ nghèo đói”. Đây là một điều thể hiện sự kính trọng ông, vì ông luôn luôn giúp tất cả những người nghèo hay thất nghiệp và các trẻ mồ côi.
Khi ông mới ba mươi tuổi, một hôm ông đi tới vương quốc Magadha, nơi mà Bụt cũng mới tới. Ông đi thăm người em gái và em rể đang sinh sống tại xứ đó. Ông khá ngạc nhiên khi thấy các em mình không đón tiếp ông long trọng ân cần như mọi khi. Khi hỏi cô em vì sao cô không có thì giờ với ông thì cô cho biết cả nhà đang rất bận rộn để sửa soạn đón tiếp Bụt, một vị thầy tuyệt vời. Nghe tên Bụt, ông Cấp Cô Độc rất tò mò. Ông hỏi cô em: “Đó là ai vậy?”. Cô liền trả lời ông với giọng rất tôn kính Bụt, khiến cho ông nóng lòng muốn tới thăm Bụt ngay.
Sớm hôm sau, ông Cấp Cô Độc đi tới tu viện Trúc Lâm để nghe Bụt thuyết pháp. Bài giảng đã khiến ông rất xúc động. Ông đã lạy Bụt và thỉnh Ngài tới thuyết giảng tại quê ông để cho gia đình và bạn bè ông được nghe pháp.
Dù Bụt chỉ mới đi thuyết pháp ba năm, Ngài đã có một ngàn hai trăm đệ tử. Trong số các tăng sĩ cùng du hành với Bụt có Ngài Xái Lợi Phất. Ngài đã nổi tiếng là một vị đại sư trước khi trở thành đệ tử của Bụt, các sự đệ và môn sinh của Ngài cũng đi theo Ngài làm môn sinh của Bụt.
Bụt nhận lời ông Cấp Cô Độc để tới Shravasti. Thủ đô của vương quốc Koshala. Ông Cấp Cô Độc về đó trước để sửa soạn đón tiếp. Ông cần một tăng sĩ đi cùng. Bụt cử Xá Lợi Phất là người rất giỏi trong việc xây dựng tăng thân, đi cùng với ông Cấp Cô Độc. Hai vị, một tăng sĩ và một cư sĩ đó, chẳng bao lâu trở nên thân thiết nhau.
Có người nghĩ rằng tu sĩ chỉ kết thân được với tu sĩ và cư sĩ cũng chỉ gần được với cư sĩ thôi. Nhưng không phải vậy. Một khi cả hai cùng có ước vọng tu tập thỉ thức và nhìn sâu, họ có thể trở thành bạn thân, người cộng sự và bạn đồng tu được. Không có sự phân biệt. Người tu sĩ hay cư sĩ đều có thể là người tốt và là bạn thân thiết của nhau.
Ông Cấp Cô Độc muốn tặng cho Bụt một mảnh đất để xây tu viện tại Koshala. Sau khi tìm kiếm nhiều nơi, ông biết chỉ có một khu đất kia là khá đẹp. Đó là khu công viên xinh xắn của Thái tử Kỳ Đà (Jeta). Ông Cấp Cô Độc rất giàu có, nên tin rằng ông có thể thuyết phục Thái tử bán mảnh đất ấy cho ông. Ông hoàng đã trồng nhiều thứ cây đẹp đẽ trên mảnh đất nên nó đẹp như cõi thiên đàng. Khi ông Cấp Cô Độc tới hỏi mua thì Thái tử từ chối. Ông trả giá cao hơn nhưng vẫn bị từ chối. Cuối cùng ông Cấp Cô Độc hỏi: “Thái tử muốn bao nhiêu tiền, tôi cũng sẳn sàng trả”. Thái tử trả lời: “Nếu ông có thể phủ kín đất bằng cách trải lá vàng lên đó, thì tôi sẽ bán”. Thái tử nói đùa như thế, không ngờ rằng ông Cấp Cô Độc lại nhận lời.
Ông Cấp Cô Độc mang vàng tới trải khắp khu vườn. Thái tử vẫn không muốn bán, nhưng các cố vấn của Ngài nói rằng: “Ngài là hoàng thân quốc thích, thuộc gia đình hoàng tộc, Ngài không thể nuốt lời hứa”.
Thái tử Kỳ Đà tự hỏi không hiểu vị thầy tâm linh kia có gì xuất chúng tới độ ông Cấp Cô Độc chịu trả giá cáo như thế để mua miếng đất cúng dường. Mọi người liền nói với Thái tử Kỳ Đà về Bụt, một đạo sư trẻ tuổi nhưng hoàn toàn tỉnh thức, và các bài giảng cùng lòng từ bi của Ngài không người nào có thể so sánh được. Thấy được sự kính tin và ngưỡng mộ của ông Cấp Cô Độc, Thái tử bảo ông ngừng, không cần trải thêm vàng nữa: “Ông trả như vậy là quá đủ để mua miếng đất rồi. Tôi xin tặng Bụt tất cả các cây cối tôi đã trồng, coi như tôi cúng dường Ngài”. Vì thế nên người ta gọi đó là vườn Kỳ Đà - Cấp Cô Độc. Vườn do ông Cấp Cô Độc và cây do Thái tử Kỳ Đà hiến tặng cho Bụt. Bụt rất ưa khu vườn này và ngày nay vẫn còn thấy những dấu tích của các tu viện cổ tại đó.
Trong suốt các năm sau khi gặp Bụt, ông Cấp Cô Độc vẫn tiếp tục công việc giúp người nghèo và hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Cả gia đình ông hằng tuần tới vườn Kỳ Đà nghe thuyết pháp và thực tập tỉnh thức. Ông thường dẫn các bạn thương gia tới nghe Bụt giảng dạy. Một lần ông dẫn tới hơn năm trăm thương gia để nghe Bụt dạy các cư sĩ thực tập chánh niệm. Đa số các bạn ông thọ nhận ngũ giới. Suốt cuộc đời, ông Cấp Cô Độc rất an lạc và hạnh phúc trong việc hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Dù có nhiều thành công, ông Cấp Cô Độc cũng đã gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Có lần mất hết tài sản, sau nhờ các người cộng sự và bạn bè, ông lại trở nên giàu có.
Ba mươi lăm năm sau khi gặp Bụt lần đầu, ông Cấp Cô Độc bị đau nặng. Nghe tin ông bị ốm, Bụt tới thăm ông và nhắc ông thực tập hít thở khi nằm trên giường bệnh. Rồi Bụt cử thầy Xá Lợi Phất chăm sóc cho người bạn thân của Thầy. Bụt bảo thầy Xá Lợi Phất ở lại Koshala với ông Cấp Cô Độc để giúp ông chết một cách bình an.
Khi thầy Xá Lợi Phất biết tin ông Cấp Cô Độc đang tiến dần tới cái chết, Ngài mời sư đệ A Nan cùng đi thăm ông với Ngài. An Nan là anh em bà con của Bụt và là người có trí nhớ siêu việt, Ngài nhớ hết tất cả những bài giảng của Bụt. Ngài là cái nhân duyên chính khiến chúng ta được học giáo pháp của Bụt ngày nay.
Sau buổi khất thực, hai Ngài tới thăm ông Cấp Cô Độc tại nhà ông. Khi hai vị tăng tới nơi, ông Cấp Cô Độc rất vui sướng được gặp hai người, vì ông cảm thấy rất cần gặp quý vị đó. Ông cố hết sức để ngồi dậy đón tiếp hai thầy cho phải phép, nhưng ông quá yếu nên không thể ngồi lên được.
Thầy Xá Lợi Phất nói: “Ông bạn ơi, đừng cố ngồi dậy làm gì. Hãy cứ nằm yên, chúng tôi sẽ mang ghế tới ngồi cạnh ông đây”. Rồi thầy Xá Lời Phất hỏi: “Ông bạn cảm thấy thế nào? Có đau lắm không? Cái đau nó tăng hay giảm?”.
Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Thưa Thầy, hình như cái đau trong thân tôi không giảm mà càng lúc càng gia tăng”.
Thầy Xá Lợi Phất liền nói: “Như vậy, tôi đề nghị ông thực tập thiền quán về Tam Bảo”. Thầy giúp ông Cấp Cô Độc thiền quán về Bụt, Pháp và Tăng với sự trợ giúp của thầy A Nan ngồi kế bên. Thầy Xá Lợi Phất được coi là vị đệ tử xuất sắc nhất của Bụt, như cánh tay mặt của Bụt vậy. Ngài là huynh trưởng của hàng ngàn tăng ni. Ngài biết ông Cấp Cô Độc đã có nhiều năm hạnh phúc khi hỗ trợ Bụt, Pháp và Tăng. Ngài cũng biết rằng khi thiền quán về Tam Bảo, ông Cấp Cô Độc sẽ tưới tẩm được các hạt giống hạnh phúc trong ông, ngay lúc khó khăn này.
Ngài cùng ông Cấp Cô Độc thiền quán nhớ tưởng tới bản chất huyền diệu của Bụt, Pháp và Tăng. Chỉ sau sáu phút, cơn đau của ông Cấp Cô Độc đã đỡ nhiều vì hạt giống an lạc trong ông đã được tưới tẩm. Cơ thể ông được quân bình lại và ông Cấp Cô Độc mỉm cười.
Tưới tẩm những hạt giống của hạnh phúc là việc rất quan trọng cho người bệnh hay người sắp lìa đời. Tất cả chúng ta đều có những hạt giống hạnh phúc trong mình. Trong những lúc khó khăn như ốm đau hay sắp chết, cần có bạn bè ngồi với ta để giúp ta tiếp xúc với những hạt giống tốt đó. Nếu không các hạt giống sợ hãi, hối tiếc hay thất vọng sẽ xâm chiếm chúng ta dễ dàng.
Khi ông Cấp Cô Độc có thể mỉm cười, thầy Xá Lợi Phất biết đã có sự quân bình giữa cái đau và niềm vui. Ngài mời ông Cấp Cô Độc tiếp tục thiền quán theo Ngài hướng dẫn. “Bạn hãy thực tập theo tôi và A Nan như sau: Thở vào, tôi thấy thân này không phải là tôi. Thở ra, tôi không bị kẹt vào thân này. Thở vào, tôi là sự sống thênh thang. Thở ra, tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt”.
Khi bạn sắp chết, có lẽ bạn không có nhiều tỉnh thức về cái thân mình. Bạn có thể bị tê bại, và bạn bị kẹt vào ý niệm cái thân ấy là bạn. Bạn bị kẹt vào ý tưởng là khi thân này chết đi thì bạn cũng bị diệt. Vì vậy mà bạn sợ hãi. Bạn sợ trở thành hư vô. Sự hoại diệt của cái thân người không ảnh hưởng đến bản chất thật sự của người đó. Bạn cần giải thích cho người đó hiểu rằng anh ta có một đời sống không có giới hạn. Cái thân này chỉ là một biểu hiện tạm bợ, như đám mây. Khi mây không còn là mây nữa, nó cũng không mất đi đâu hết. Nó không thể trở thành hư vô mà chỉ hóa thành mưa mà thôi. Vậy thì ta không nên đồng hóa cái thân này với ta. “Thân này không phải là tôi. Tôi không bị kẹt vào nơi thân ấy. Tôi là sự sống thênh thang”.
Thật vậy, ta cần thực tập với mắt, rồi mũi, tai, lưỡi, thân và ý. “Mắt này không phải là tôi. Tôi không bị kẹt vào đôi mắt này. Tôi là sự sống thênh thang. Tai này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào đôi tai này. Tôi là sự sống thênh thang. Mũi này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào cái mũi này. Tôi là sự sống thênh thang…”.
Thực tập như vậy giúp ta không tự đồng hóa mình với cặp mắt, đôi tai, cái lưỡi, cái mũi hay cái thân mình. Ta khám phá ra các thức của ngũ quan đó và thấy ta không chỉ là các giác quan đó. Ta phong phú hơn sự biểu hiện của các giác quan đó nhiều. Sự ngừng bặt của các biểu hiện kia không ảnh hưởng tới ta.
Chúng ta nhìn lại coi cái gì là tự tánh của ta. Trên cơ thể và giác quan có ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nhìn sâu vào từng uẩn, ta nói: “Những thứ đó không phải là ta”. Nhận thức, cảm thọ, tư tưởng cứ tới rồi đi, đó không thể là ta được. Tâm thức cũng vậy, chỉ là những biểu hiện. Khi các nhân duyên đầy đủ thì chúng biểu hiện. Khi nhân duyên không còn đầy đủ nữa thì chúng không biểu hiện. Dù có biểu hiện hay không, những thứ đó không phải là ta.
Thầy Xá Lợi Phất hướng dẫn ông Cấp Cô Độc qua các thức của giác quan và qua năm uẩn, và ông Cấp Cô Độc thấy chúng không phải là mình. Sau đó thầy Xá Lợi Phất hướng dẫn ông thiền quán về tứ đại. Thầy nói với ông Cấp Cô Độc: “Bạn ơi, chúng ta hãy tiếp tục thiền quán. Đất không phải là tôi (đất ở đây có ý nghĩa là các chất rắn như thịt, xương, các cơ quan, bắp thịt). Lửa không phải là tôi (lửa là hơi ấm của thân nhiệt, và tiêu thụ thức ăn). Tôi không bị kẹt vào yếu tố cơ thể hay hơi nóng đó. Chất nước trong tôi không phải là tôi, tôi không bị ràng buộc vào nó. Gió hay không khí trong tôi cũng không phải là tôi, vì tôi không bị kiềm tỏa bởi biên giới nào hết”. Thầy Xá Lợi Phất tiếp tục như thế.
Cuối cùng ông Cấp Cô Độc được hướng dẫn thiền quán về sự duyên sinh: “Ông bạn thân, ta hãy nhìn sâu hơn nữa. Khi nhân duyên đầy đủ, cái thân ta tự có biểu hiện. Nó không từ đâu tới, và sau khi hoại diệt nó cũng không đi về đâu hết”. Khi một sự vật biểu hiện thật sự ta không thấy nó sinh ra. Khi nó ngừng biểu hiện ta cũng không thể gọi là nó chết đi. Chúng ta vượt thoát các ý niệm tới-đi, có-không, sinh-diệt, giống nhau-khác nhau. Nó cũng giống hệt như bài giảng mà ta đã học quán chiếu về đám mây, ngọn lửa hay hoa hướng dương.
Khi thực tập tới đó, ông Cấp Cô Độc bắt đầu khóc. Thầy A Nan lấy làm ngạc nhiên. Thầy A Nan trẻ hơn thầy Xá Lợi Phất nhiều nên thầy không thấy được sự chuyển hóa và giải thoát của ông Cấp Cô Độc vào lúc đó. Thầy nghĩ rằng ông Cấp Cô Độc khóc vì còn tiếc nuối chuyện gì đó hoặc ông đã thực tập không thành công.
Thầy A Nan hỏi: “Tại sao ông lại khóc? Ông có hối tiếc điều gì không?”.
Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Không, thầy A Nan, tôi không có điều gì hối tiếc cả”.
Thầy A NAn lại hỏi: “Hay là ông thực tập không thành công?”.
Ông Cấp Cô Độc trả lời: “Không, thưa thầy A Nan, tôi thực tập rất thành công”.
Thầy A Nan: “Vậy tại sao ông lại khóc?”.
Ông Cấp cô Độc ràn rụa nước mắt trả lời: “Thầy A Nan ơi, tôi khóc vì tôi sung sướng quá. Tôi đã phục vụ Bụt, Pháp và Tăng ba chục năm qua và tôi chưa bao giờ được giảng dạy và thực tập giáo pháp nhiệm mầu như bài thầy Xá Lợi Phất mới dạy tôi ngày hôm nay. Tôi sung sướng quá, tôi thảnh thơi quá!”.
Thầy A Nan liền nói với ông: “Ông không biết rằng các tu sĩ chúng tôi được học giáo pháp này hằng ngày sao?”.
Ông Cấp Cô Độc mỉm cười và nhỏ nhẹ nói với giọng yếu ớt: “Xin thầy A Nan hãy trở về thưa với Đức Thế Tôn là tôi hiểu bài giảng này. Có lẽ nhiều cư sĩ quá bận rộn nên không tiếp nhận và thực hành được giáo pháp này nhưng cũng có nhiều vị có đủ thảnh thơi và thì giờ để học hỏi và tu tập. Xin Đức Thế Tôn hãy dạy giáo pháp này cho các cư sĩ nữa”.
Biết đây là lời yêu cầu cuối cùng của ông Cấp Cô Độc, thầy A Nan nói: “Dĩ nhiên tôi sẽ làm như ông yêu cầu, sẽ trình lên Đức Thế Tôn ngay khi chúng tôi trở lại tu viện”. Sau khi hai thầy ra về ít lâu, ông Cấp Cô Độc đã chết một cách bình an và không đau đớn.
Câu chuyện này được ghi lại trong kinh Độ Người Hấp Hối. Tôi xin những ai có thể, đều nên học hỏi và hành trì kinh này. Xin đừng để tới lúc đụng chuyện sống chết mới họ và hành trì kinh đó. Xin hãy tập nhìn sâu ngay từ bây giờ đẻ có thể tiếp xúc được với bản chất không sinh-không diệt, không đến-không đi, không giống nhau cũng không khác nhau. Làm được như vậy bạn sẽ hết đau buồn, khổ não. Nếu bạn cố gắng thực tập cho chuyên cần, bạn sẽ nuôi dưỡng được sự vô úy trong bạn. Bạn sẽ có thể chết một cách bình an và hạnh phúc.
Sống hạnh phúc, chết bình an là chuyện có thể làm được. Ta sẽ được như thế khi ta nhìn thấy mình tiếp tục biểu hiện trong các hình thái khác. Ta cũng có thể giúp người khác chết bình an nếu ta có những yếu tố vững chãi và vô úy trong ta. Bao nhiêu người trong chúng ta có nỗi sợ mình biến thành hư vô. Vì sợ hãi mà ta đau khổ. Vì vậy mà ta cần giúp người đang hấp hối hiểu được cái chân lý: “Ta chỉ là sự nối tiếp trong nhiều biểu hiện”. Như vậy ta sẽ không bị chuyện sống chết làm cho ta hoảng sợ, vì ta hiểu đó chỉ là những khái niệm mà thôi. Đó là cái nhìn rất quan trọng giúp cho ta hết sợ hãi.
Tôi đã lấy những lời lẽ của Kinh Độ Người Hấp Hối (thuộc Kinh Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya) để làm thành một bài hát. Đó là điệu ru, có thể hát cho người sắp chết nghe, khi họ sắp thở hơi cuối cùng:
“Thân này không phải là tôi
Tôi không kẹt vào nơi thân này
Tôi là sự sống thênh thang
Tôi chưa bao giờ từng sinh
Và cũng chưa bao giờ từng diệt
Này kia biển rộng trời cao
Muôn ngàn tinh tú lao xao
Tất cả đều biểu hiện ra tôi
Từ nguồn linh tâm thức.
Tự muôn đời tôi vẫn tự do
Tử sinh là cửa ngõ ra vào
Tử sinh là trò chơi cút bắt
Hãy cười cùng tôi
Hãy nắm tay tôi
Hãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lại
Gặp lại hôm nay
Gặp lại ngày mai
Chúng ta sẽ gặp nhau nơi sối nguồn
Chúng ta sẽ gặp nhau trên muôn vàn nẻo sống.”
Khi hát hay đọc bài này cho người hấp hối nghe, ta sẽ giúp họ thoát được ý niệm họ có một tự tánh thường hằng dính liền với một phần nào đó trong thân thể của họ. Tất cả các hợp uẩn đều bị tan rã nhưng bản chất thực của ta không biến vào quên lãng. Việc hướng dẫn thiền quán này sẽ giúp ta không bị vướng vào ý niệm ta là cái thân này, ta là cảm xúc hoặc tư tưởng kia. Thật sự ta không phải là những thứ đó. Ta là sự sống thênh thang. Chúng ta không bị kẹt vào sinh, không bị kẹt vào tử, vào có hoặc vào không. Đó là chân lý của thực tại.
Vậy, xin đừng quá bận rộn trong đời sống hằng ngày. Xin dành thì giờ tập. Hãy học cách sống hạnh phúc, bình an và vui sướng ngay hôm nay. Hãy tập nhìn sâu để hiểu biết bản chất thật của sinh tử, như vậy bạn sẽ được chết bình an, không sợ hãi. Đây là diều ai cũng có thể làm được.
Nếu bạn thực tập như vậy, không còn sợ hãi, thì khi có người thân quen sắp chết, bạn có thể giúp họ được. Bạn phải biết thực sự bạn muốn làm gì và không muốn làm gì. Bạn là người thông minh nên sẽ biết cách dùng thì giờ một cách khéo léo. Bạn không cần mất thì giờ để làm chuyện vô ích và tầm thường. Bạn không cần giàu có, không cần có danh vọng hay quyền lực. Điều bạn cần là tự do, vững chãi, bình an và hạnh phúc. Bạn cần có thì giờ và năng lực để có thể chia sẻ những thứ đó với người khác.
Hạnh phúc của chúng ta không tùy thuộc vào chuyện chúng ta có nhiều tiền của hay danh vọng. Sự bình an của chúng ta là do ta có thực tập chánh niệm hay không. Một khi chúng ta thực tập tỉnh thức thì Bụt, Pháp và Tăng sẽ chăm sóc chúng ta và ta sẽ có hạnh phúc. Đôi mắt sáng, miệng cười tươi và bước chân vững chãi trên con đường thênh thang của cuộc sống tự do. Hạnh phúc của ta sẽ chảy tràn qua những người sống bên cạnh ta. Chúng ta sẽ không dùng thì giờ vào những chuyện hời hợt, vô bổ. Ta dùng thì giờ cho sự tu học để làm đời sống ta có phẩm chất hơn. Đó là món quà quý nhất ta có thể tặng cho người thân, con cháu ta sau này. Đó là những tinh túy ta có thể chia sẻ với bạn bè. Ta cần có thì giờ để tiếp nhận, học hỏi và thực hành những giáo pháp màu nhiệm của Bụt như những điều ông Cấp Cô Độc được học vào lúc ông hấp hối.
Nương vào gia đình, bạn bè và cộng đồng, tăng thân, ta thay đổi cuộc đời mình. Ta phải sống an vui ngay được chứ không đợi tới mai sau, ta phải bắt đầu ngay lúc này, tại đây, sống an lạc vui vẻ ngay phát giây hiện tại. Không có con đường dẫn toiwsw hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường mình đang đi.
Bài giảng của thầy Xá Lợi Phất có thể tạng cho bất cứ ai. Ông Cấp Cô Độc rất may mắn nhận được giáo pháp đó vào lúc cuối đời. Mọi chuyện đều vô thường. Ta có thể không may mắn như ông Cấp Cô Độc, có người bạn tâm linh bên cạnh để hướng dẫn khi ta sắp chết. Vì vậy ta không nên để quá trễ. Ta nên thực tập ngay để có thể tự hướng dẫn mình.
CÂU CHUYỆN VỀ CÁI CHẾT THỜI NAY
Vào đầu thập niên 1990, trên đường tới trung tâm Omega, thuộc tiểu bang New York để hướng dẫn một khóa tu, tôi nhận được tin một người bạn cũ đang nằm hấp hối trong bệnh viện ở ngay phía Bắc thành phố New York. Ông ta tên là Alfred Hassler. Ông đã từng là giám đốc Hội thân hữu Hòa giải (Fellowship of Reconcilliation). trong những năm 1966 - 1967, ông và tôi thường đông hành đến nhiều quốc gia để có gắn vận động chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Sau này, trong giai đoạn tôi không được phép trở về xứ nữa, tôi đã nới cho thế giới biết về các hành động vi phạm nhân quyền của cả hai miền Nam Bắc Việt. Hassler đã thay tôi qua Việt Nam để điều hợp các công việc tại đó. Ông giúp các bạn tôi dựng những khu trại giúp nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi cùng nhau nuôi khoảng 8 ngàn trẻ mồ côi. Khi tôi tới Mỹ vào năm 1966, hội Thân hữu Hòa giải đã tổ chức các buổi nói chuyện cho tôi.
Khi cô Chân Không và tôi tới bệnh viện, Alfred đã hôn mê. Vợ ông là Dorothy và con gái Laura của ông có mặt bên ông. Laura là người đã làm việc tình nguyện cho phái đoàn Phật giáo Hòa bình cùng với chúng tôi khi cô còn rất trẻ.
Khi Dorothy và Laura nhìn thấy chúng tôi, họ rất sung sướng. Laura ráng gọi để cha cô tỉnh lại: “Cha ơi, Thầy tới này - cô Chân Không có đây này!” Nhưng Alfred không tỉnh lại, ông vẫn chìm trong cơn mê. Tôi bảo cô Chân Không hát cho ông ta nghe. Người sắp chết vẫm có khả năng nghe, dù ta không thấy được điều đó. Cô Chân Không bắt đầu hát: “Thân này không phải là tôi. Tôi không mắc kẹt vào thân này. Tôi là sự sống thênh thang. Tôi chưa bao giờ từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt”. Cô hát lại lần thứ hai, lần thứ ba. Giữa hai lần sau này Alfred tỉnh lại, mở mắt ra.
Laura rất sung sướng, cô bé gọi: “Cha, cha biết là Thầy có ở đây không? Cha biết Sư cô Chân Không cũng có đây không?” Alfred không nói được tiếng nào. Nhìn vào mắt ông chúng tôi hiểu là ông biết chúng tôi đang có mặt. Cô Chân Không bắt đầu nói chuyện với ông về những kinh nghiệm hoạt động chung của chúng tôi cho hòa bình Việt Nam. “Alfred, ông nhớ thời gian ông ở Sài Gòn và ráng gặp thầy Trí Quang hay không? Hoa Kỳ đã quyết định thả bom Hà Nội ngay hôm trước và thầy Trí Quang giận quá nên nói là sẽ không gặp một người Tây phương nào nữa, dù họ là bồ câu hay diều hâu”.
“Khi ông tới, thầy không mở cửa. Alfred, ông có nhớ đã ngồi ngoài cửa viết một đoạn ngắn: “Tôi là bạn, không phải kẻ thù, tới để giúp cho cuộc chiến sớm kết thúc trên xứ Thầy. Tôi sẽ không ăn uống gì hết cho tới khi Thầy mở cửa cho tôi’. Ông đã đẩy thư qua khe cửa, Alfred, ông nhớ không? Ông đã ngồi đó cho tới khi cửa mở. Ông nhớ chứ? Chỉ mười lăm phút sau, Thầy Trí Quang mở cửa, miệng cười tươi để mời ông vô phòng… Alfred, ông cón nhớ không?…”
Sư cô Chân Không tiếp tục nói với Alfred về những niềm vui mà chúng tôi đã cùng trải qua khi vận động hòa bình cho Việt Nam. Chuyện này có hiệu quả thật mầu nhiệm. Cô đã làm như thầy Xá Lợi Phất đã làm cho ông Cấp Cô Độc. Cô cố gắng tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc cho Alfred. Niềm vui của ông là lý tưởng phụng sự hòa bình và chấm dứt đau khổ cho người khác. Khi hạt giống hạnh phúc được tưới tẩm, trong công có sự thăng bằng về khổ và vui, nên ông tỏ ra bớt đau đớn.
Trong khi đó tôi thoa bóp chân cho Alfred. Tôi nghĩ là một người hấp hối có thể không có ý thức gì mấy về cơ thể của họ vì nó đã bị tê. Laura hỏi: “Cha, cha có biết là Thầy đang thoa bóp chân cho cha không?”. Alfred không nói được nhưng nhìn vào mắt ông, chúng tôi biết ông có nhận ra là chúng tôi đang hiện diện. Bỗng nhiên ông mở miệng kêu lên: “Mầu nhiệm quá, mầu nhiệm quá!”. Sau đó ông hôn mê lại và không bao giờ tỉnh nữa.
Đêm đó tôi phải nói pháp thoại hướng dẫn cho các thiền sinh tại Omega. Chúng tôi từ biệt họ và bảo Dorothy cùng Laura hãy làm theo lời tôi và cô Chân Không, hãy nói chuyện và hát cho Alfred nghe. Sớm hôm sau tôi dduocj tin Alfred qua đời rất bình an vài giờ sau khi chúng tôi rời khỏi ông.
Những người bị hôn mê vẫn có thể nghe chúng ta nếu ta thật sự có mặt một cách bình an bên họ. Mười năm trước đây có một sinh viên sống tại Bordeaux, bên Pháp, nghe tin mẹ anh hấp hối tại California, anh khóc thật nhiều. Anh không biết khi bay về tới California thì mẹ anh còn sống hay không. Sư cô Chân Không bảo anh bay ngay về và nếu mẹ anh còn sống thì hãy làm giống như thầy Xá Lợi Phất đã làm với ông Cấp Cô Độc. Cô bảo anh hãy nói về những kỷ niệm đẹp đẽ giữa hai mẹ con. Anh cũng nên nhắc tới thời mẹ lấy bố và những năm mẹ còn trẻ. Nói với mẹ như thế, anh gợi lại cho mẹ những điều mẹ vui, dù mẹ không còn tỉnh.
Khi anh tới bệnh viện thì mẹ anh đã hôn mê. Dù không hoàn toàn tin rằng người mê man có thể nghe được nhưng anh đã làm những gì mà sư cô đã căn dặn. Bác sĩ cho anh biết bà mẹ đã mê cả tuần trước và không có hy vọng gì bà sẽ tỉnh lại trước khi chết. Nhưng sau khi nói chuyện với mẹ khoảng một giờ rưỡi đồng hồ, bà tỉnh lại. Khi ngồi bên giường người hấp hối, nếu bạn bình tĩnh và thân tâm bạn hoàn toàn hiện diện tại đó, bạn có thể giúp được người đó chết một cách an nhiên.
Tâm thức của chúng ta giống như một cái máy truyền hình có nhiều kênh. Khi ta bấm nút, kênh ta chọn sẽ hiện ra. Khi ta ngồi bên người hấp hối, ta phải biết nên chọn kênh nào. Người thân với bệnh nhân là người tốt nhất để làm việc này. Nếu bạn ở cạnh người hấp hối, bạn nên dùng hình ảnh và âm thanh có thể tưới tẩm những giờ phút hạnh phút nhất của người đó. Trong tâm thức của ai cũng có những hạt giống của Tịnh độ hay Niết bàn, của vương quốc Thượng đế hay Thiên đàng.
Nếu chúng ta biết thực tập và thấm nhuần thực tại vô sinh bất diệt, nếu chúng ta hiểu được rằng đến-đi, tới-lui chỉ là những ý niệm, và nếu ta hiện diện một cách vững chãi, bình an, thì ta có thể độ được người sắp chết. Ta có thể giúp họ chết một cách bình an. Ta có thể giúp chính ta hiều rằng không có sự chết, nghĩa là không có sợ hãi. Chỉ có sự tiếp tục mà thôi.
(.....Hết.....)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét