11 thg 9, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 7

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 7

TIẾP TỤC BIỂU HIỆN.

Bụt đã khuyên chúng ta không nên cho rằng giáo pháp là chân lý, chỉ vì lời giảng đó của các vị thầy danh tiếng hoặc chỉ vì nó được nghi chép trong các kinh điển thiêng liêng, kể cả các kinh điển Phật giáo. Chúng ta chỉ chấp nhận giáo pháp nào mà ta có thể đem ra thực tập ngay bây giờ, với sự tỉnh thức hiểu biết của chính ta, và thấy là mình thực chứng được những lời giảng dạy đó. Bụt dạy bản chất của ta là vô sinh - bất diệt. Ta hãy coi lại xem điều này có đúng không?

Nếu bạn thắp một ngọn nến và để cho nó cháy tới hết, thì khi đó cây nến còn hay không? Bụt dạy không có hư vô. Chúng ta đã thấy điều này là đúng thật. Và ta cũng biết quan niệm thường hằng (còn mãi) là không đúng với mọi sự vật. Vậy thì chân lý là điều nằm đâu đó, ở giữa hai nhận thức này. Chúng ta cần nhìn cho sâu với tất cả sự định tâm của mình.

Bạn có nghĩ rằng ngọn lửa của cây nến chỉ đi xuống theo chiều dọc của nó mà thôi? Nếu nghĩ như vậy thì bạn đã nhìn ngọn lửa theo thời gian, tựa như biểu đồ hiển thị theo phương dọc. Bạn cũng có thể nghĩ như thế về cuộc đời bạn: nó đi theo chiều dọc và một ngày nào đó nó sẽ chấm dứt. Bạn có thể nghĩ mình được sinh ra vào một thời điểm nào đó trên đường dọc, chẳng hạn ở điểm mà bạn gọi là năm 1960. Bạn có thể nghĩ mình sẽ chết tại một điểm nào đó ở phía dưới của đường dọc đó, chẳng hạn năm 2040. Bạn chỉ nhìn thấy bạn di chuyển theo biểu đồ thời gian giống như ngọn nến kia. Nhưng thực tế, bạn không chỉ đi theo một đường thẳng đâu.

Bạn có thể nghĩ là ngọn lửa của nến chỉ đi xuống. Bạn có thể nghĩ ngọn lửa ấy sẽ chết. Thực ra ngọn lửa đi theo nhiều hướng khác nhau. Nó tỏa ánh sáng ra khắp chung quanh: Đông, Tây, Nam, Bắc, đủ hướng hết. Nếu bạn có dụng cụ khoa học tinh vi, bạn có thể đo được sức nóng và ánh sáng mà ngọn nến đã gửi vào vũ trụ. Ngọn nến cũng đi vào trong bạn bằng hình ảnh, ánh sáng và hơi nóng.

Bạn cũng giống như ngọn nến. Bạn tưởng tượng mình cũng tỏa ánh sáng ra chung quanh. Tất cả lời nói, tư tưởng và hành động của bạn đi theo đủ mọi hướng. Nếu bạn nói câu nào tử tế, những lời đó cũng đi theo nhiều hướng, và bạn cũng đi cùng với chúng.

Chúng ta chuyển hóa và tiếp tục biểu hiện ở những hình thái khác vào mọi lúc. Sáng nay bạn nói điều gì không dễ thương với con bạn. Những lời lẽ khó nghe đó đã đi vào trong con. Nay bạn hối tiếc những lời đó. Vậy thì bạn vẫn có thể chuyển hóa những lời đó bằng cách nhận lỗi với con, và nói những lời từ ái. Còn nếu như bạn không làm vậy thì những lời khó nghe đó sẽ tồn lại với con bạn một thời gian dài.

BÀI 1

BA BÌNH DIỆN

Lúc này tôi đang viết một cuốn sách Phật pháp. Đó là sự hiểu biết của tôi và sự tu tập của tôi. Khi tôi viết một cuốn sách Phật pháp, tôi không đi theo chiều thẳng. Tôi đi vào trong bạn, và tôi được hóa thân dưới nhiều hình thức khác nhau trong bạn. Trong đạo Bụt, chúng ta nói tới ba bình diện: thân, khẩu và ý, trong bất cứ giây phút nào của đời sống. Xin ráng nhìn và hiểu điều này. Bạn không cần phải đợi tới lúc thân thể tan rã mới bắt đầu cuộc tái sinh.

Mỗi giây phút chúng ta đều được sinh ra và chết đi. Chúng ta tái sinh ra không chỉ trong một hình tướng mà trong nhiều hình tướng khác. Tôi tưởng tượng tới một cái pháo. Khi bạn đốt pháo, nó không đi theo chiều dọc mà đi theo nhiều hướng, ánh sáng tóe lên theo đủ các phương. Vậy, không nên nghĩ rằng bạn chỉ đi theo một hướng thôi. Bạn cũng giống như cái pháo. Bạn đi vào trong con cái, bạn bè và tất cả thế giới.

Buổi sáng khi ngồi thiền, hai bên tôi đều là các vị tăng sĩ. Tôi đã tái sinh trong họ khi ngồi thiền chung với họ. Nếu bạn nhìn kỹ bạn sẽ thấy tôi trong họ. Tôi không đợi tới lúc chết mới tái sinh. Tôi đang tái sinh ngay lúc này, và tôi mong được tái sinh theo hướng tốt đẹp. Tôi muốn truyền cho các đệ tử tại gia và xuất gia của tôi những gì tốt đẹp, hạnh phúc nhất của đời tôi, để họ có đời tái sinh tốt đẹp cho tôi và cho họ.

Si mê, hờn giận và tuyệt vọng không nên trao truyền, kế thừa và tái sinh. Khi chúng được tái sinh, chúng chỉ mang tới cho bạn và thế giới thêm khổ đau và đen tối hơn mà thôi. Càng nhiều từ bi và hạnh phúc tái sinh càng tốt, vì nó sẽ làm cho thế giới hạnh phúc hơn, dễ thương hơn.

Một ngày kia khi thức giấc, tôi nhớ tới một câu hát dân ca: “Cha mẹ tôi đã để cho tôi bao phước đức”. Đó là tính rộng rãi bao dung, tình thương, hạnh hỷ xả và khả năng đem niềm vui tới cho mọi người. Cha mẹ tôi đã để lại gia tài quý báu cho tôi. Con cái là sự nghiệp tiếp nối của chúng ta. Nếu bạn có con, một hay nhiều đứa, là bạn đã tái sinh trong chúng rồi. Bạn có thể nhìn thấy sự tiếp nối của nơi con cháu, nhưng bạn cũng nhìn thấy nhiều thân tiếp nối khác nữa. Sự tiếp nối xảy ra trong những người mà bạn tiếp cận. Và bạn không thể biết thân, khẩu và ý của bạn tiếp xúc được bao nhiêu người.

BÀI 2

TẶNG HƠI ẤM VÀ ÁNH SÁNG

Khi ngọn nến tỏa ánh sáng và hơi nóng ra chung quanh, thì ánh sáng và hơi nóng đó là tiếp nối của ngọn nến. Hai thứ đó đi ra ngoài ngọn nến theo nhiều hướng. Có chiều ngang, cũng có chiều dọc. Và nếu đã có chiều ngang thì cũng sẽ có chiều dọc.

Hãy tự hỏi: “Sau đây tôi sẽ đi tới đâu?”. Hành động và lời nói mà chúng ta đang chế tác ra lúc này đưa chúng ta đi trên một hướng thẳng. Nhưng chúng cũng đưa ta đi theo mọi hướng khi chúng tuôn chảy và có ảnh hưởng lên thế giới chung quanh ta. Chúng có thể làm cho thế giới tốt đẹp sáng sủa hơn. Sự tốt lành đó có thể đi vào tương lai. Chúng ta không nên chỉ nhìn con người chân thật của chúng ta theo chiều dọc mà thôi.

Khi tôi pha một bình trà ô-long, tôi bỏ lá trà vào ấm nước rồi đổ nước sôi lên. Năm phút sau là có trà để uống. Khi tôi uống, trà ô-long đi vào tôi. Tôi chế thêm nước sôi, làm ấm trà thứ hai và trà pha từ lá trà kia tiếp tục đi vào trong tôi. Sau khi tôi lấy hết trà ra, còn lại trong ấm chỉ là bã trà. Những lá trà còn lại đó chỉ là một phần rất nhỏ của trà. Phần trà đi vào trong tôi lớn hơn nhiều, đó là phần tốt đẹp phong phú của trà.

Chúng ta cũng vậy. Tinh túy của chúng ta chính là những điều tốt đẹp đã đi vào con cháu, bạn bè và tất cả vũ trụ. Chúng ta nên tìm mình trong những bình diện đó, đừng tìm trong bã trà. Tôi mời bạn nhìn vào những hóa sinh của bạn trong các hình tướng mà bạn nói không phải là bạn. Bạn phải nhìn thấy bạn trong những thân khác với thân bạn, gọi là ngoại thân.

Bạn không cần phải đợi tới lúc chết, tới khi lửa tắt mới tái sinh. Tôi được tái sinh nhiều lần trong ngày. Mỗi giây phút đều tái sinh. Sự tu tập của tôi là làm sao để được tái sinh trong các biểu hiện mới tốt đẹp hơn, có thể mang tới ánh sáng, tự do và hạnh phúc cho tôi và cho cả thế giới. Trong phép tu tập, tôi không cho phép các hành động sai lầm được tái sinh. Nếu tôi có những ý nghĩ xấu hay nếu ngôn từ của tôi có sân hận trong đó, thì chúng sẽ tái sinh. Rất khó mà đuổi bắt chúng và cất chúng đi được. Chúng giống như ngựa phi. Chúng ta cần ngăn chặn không để cho thân, khẩu và ý hướng ta tới những hành động, nói năng, và suy nghĩ bất thiện.

BÀI 3

VƯỢT QUA SINH TỬ

Nếu không có sự sinh diệt trong từng giây phút thì chúng ta không thể tiếp tục sống. Trong mọi lúc, nhiều tế bào trong cơ thể bạn phải chết đi và có nhiều tế bào mới sinh ra để bạn tiếp tục sống. Không chỉ các tế bào mà tất cả các cảm xúc, tri giác, tâm hành trong dòng sông tâm thức đều sống chết mỗi phút giây.

Tôi nhớ có ngày một thân hữu đã mang tro cốt của cha tới xóm thượng Làng Mai. Anh xin được rải tro trên đường thiền hành và tôi đồng ý. Anh có thể nghĩ rằng cha của anh chỉ để lại tro trên đường đó. Nhưng thực ra, khi còn sống, ông đã đi thiền hành trên con đường này. Chúng tôi làm lễ rải tro. Sau đó tôi nói với cả nhóm: “Mỗi chúng ta đều đã để lại thân thể của mình trên đường thiền hành, không chỉ có người mới chết đây đã để lại tro. Mỗi khi thực tập thiền hành trên con đường này, chúng ta đều để lại nhiều tế bào”.

Khi nào bạn bị xước da cũng đều có hàng vạn tế bào đã chết rơi xuống đất. Khi bạn đi thiền hành, không những bạn để lại tế bào da mà còn để lại trên đường những cảm thọ, nhận thức và các tâm hành nữa. Dù bạn tới Làng Mai một giờ hay một tuần, sau khi bạn rời làng, bạn cũng đã để lại nhiều dấu vết. Những tế bào trên đường thiền hành trở thành cỏ và hoa dại. Các tiếp nối của thân bạn vẫn có mặt tại Làng Mai. Nó cũng có trong con cháu bạn, trong mỗi phần của Trái đất. Khi ngọn lửa cây nến đi tới phần chót của tim nến và tắt đi, nó vẫn có ở đó. Bạn không thể tìm được nó nếu chỉ nhìn theo bề dọc. Bạn phải tìm nó theo bề rộng.

Trong truyền thống Tây Tạng, khi một vị đại sư chết, các tăng sĩ đợi khoảng hai năm rồi đi tìm hóa thân mới của vị Thầy mình. Hóa thân được gọi là Tulku, theo tiếng Tây Tạng. Vị đại sư có thể để lại một bài thơ lúc sắp mất, trong đó người ta cho rằng có những ẩn dụ để họ tìm được hóa thân của Ngài. Dùng bài thơ đó, các môn sinh của ông đi tìm một em bé có thể là đời sau của Thầy. Họ đi tới căn nhà đứa bé đang sống, mang theo nhiều vật dụng của Thầy họ vẫn thường dùng như chuông, tràng hạt, tách trà. Họ trộn lẫn các thứ đó với những đồ tương tự. Em bé phải lấy ra được những món đồ của vị Lạc Ma trước kia. Như vậy, em qua được thử thách và được coi như hóa thân của người chết. Các vị thầy tăng đồ đệ của Lạc Ma xưa sẽ xin phép cha mẹ để mang đứa bé về tu viện để em trở thành Thầy của các thế hệ sau.

Truyền thống đó rất dễ thương. Các môn sinh yêu quý ông thầy tới độ họ muốn giữ thầy lại với họ dù ông đã qua đời. Tôi thường nói với các bạn tôi tại Làng Mai rằng, họ đừng chờ tới khi tôi chết mới đi tìm thân tiếp nối của tôi. Họ cần tìm tôi ngay lúc này vì tôi đã hóa thân ra thành nhiều thiếu nhi rồi. Nếu bạn đứng cạnh tôi bây giờ, bạn có nhìn thấy các em bé - những người con tinh thần của tôi bên cạnh đây không? Đó là tiếp nối của tôi. Tôi có hàng trăm thân tiếp nối trong những người trẻ đang tiếp tục thực tập tỉnh thức. Nếu bạn nhìn bằng pháp nhãn, bạn sẽ thấy tôi đã tái sinh ra trong nhiều hình tướng. Cái thân xác tôi mà bạn nhìn thấy đây chỉ là một biểu hiện của tôi mà thôi. Sự có mặt của tôi bên Việt Nam ảnh hưởng vào đời sống tinh thần, văn hóa và người trẻ bên đó. Ai nói rằng tôi không ở Việt Nam là người không có pháp nhãn.

Tôi đã giảng dạy trong tù, và các cuốn sách của tôi được phát hành trong trung tâm cải huấn Hoa Kỳ. Nhiều tù nhân đọc và thích thú. Một hôm tôi viếng thăm một nhà tù có mức độ canh chừng cao nhất nước Mỹ, ở Maryland. Họ canh phòng nghiêm ngặc tới độ con kiến cũng khó lọt vô đó mà không bị phát hiện. Tôi dạy cho tù nhân cách sống tự do tại bất cứ nơi nào. Bài này đã được in thành tập sách mỏng. Nhiều bản in được phát cho tù nhân để họ có thể thực tập, mỉm cười và bớt đau khổ. Họ cố tìm niềm vui ngay trong đời sống tù tội. Và tôi cũng đang có mặt với họ. Tất cả những tù nhân tiếp xúc được giáo pháp của tôi đều là tiếp nối của thân tôi. Khi bạn nhìn tôi, xin đừng nhìn cái thân xác này mà nên nhìn ra ngoài.

BÀI 4

PHÁO BÔNG

Nếu mỗi ngày bạn tập đi ra ngoài theo chiều rộng và tái sinh trong mỗi giây phút, thì bạn có thể tìm được chính mình của tương lai trong bình diện rộng đó. Bạn giống như một cái pháo bông có thể tắt bất cứ lúc nào. Pháo bông tỏa vẻ đẹp của nó ra chung quanh. Với tư tưởng, lời nói và hành động, bạn có thể tỏa rạng vẻ đẹp ra ngoài. Vẻ đẹp và tính thiện đó sẽ đi vào bạn bè, con cháu và đi vào thế giới. Nó không thể mất được, và bạn đi vào tương lai theo cách đó.

Nếu bạn nhìn vào mình theo phương đó, bạn có thể thấy được tiếp nối của bạn trong tương lai. Bạn sẽ không bị vướng vào ý niệm bạn trở thành hư vô. Bạn sẽ không còn nghĩ rằng bạn không còn hiện hữu sau khi chết. Sự thật là bạn không còn hoài, nhưng bạn cũng không bị mất đi, hay trở thành hư vô, bạn chuyển hóa và tiếp nối.

Bạn có thể nhìn thấy bạn đã tái sinh trong từng giây phút thời quá khứ chăng? Tất cả tổ tiên đang tiếp tục sống trong bạn, và khi bạn tiếp nối tập khí mà họ đã truyền cho bạn tức là họ đã được tái sinh từ trong quá khứ rồi. Ví dụ như, vì nhu cầu luôn phải làm việc để sống còn, có thể tổ tiên của bạn đã có tập khí luôn phải chạy. Họ không có thời giờ để ngừng lại, thở và tiếp xúc với sự nhiệm màu mà cuộc sống dâng tặng. Bạn cũng thế, thường xuyên chạy như vậy. Tập khí luôn luôn chạy là tiếp nối của tổ tiên truyền cho bạn. Nhưng nay bạn đã biết thực tập tỉnh thức. Nay bạn có thể dừng lại, thở và tiếp xúc với sự màu nhiệm của đời sống thay cho tổ tiên, bạn đã chuyển hóa. Có lẽ tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh của bạn có những nét đẹp thánh thiện mà cha mẹ hay vị thầy tâm linh của bạn ở đời này đã không biểu hiện ra được. Nay bạn có thể khám phá lại được những nét đẹp đó trong mình, và bạn làm sống lại những gì tưởng như đã mất. Đó cũng là tái sinh trong quá khứ.

Tôi biết một anh cựu chiến binh Mỹ đã qua Việt Nam. Các du kích quân đã giết đồng đội của anh và anh quyết định trả thù những người dân trong làng đó. Anh ta làm bánh mì kẹp nhân có nhét thuốc nổ trong đó và để bánh ở đầu làng. Mấy đứa trẻ tới đó, nhìn thấy bánh kẹp liền lấy ăn. Mấy phút sau, chúng quằn quại rên la vì đau đớn. Cha mẹ chúng chạy tới nhưng đã quá trễ. Đó là một làng hẻo lánh không có xe cứu thương và phương tiện y tế, những đứa bé không được chở tới bệnh viện kịp thời. Cả năm đứa đều chết.

Sau khi trở về Mỹ, người lính kia không thể nào quên được tội lỗi của mình. Mẹ anh an ủi: “Con ơi, đó là những chuyện xảy ra khi có chiến tranh. Con không nên khổ tâm vì chuyện ấy”. Nhưng anh vẫn đau khổ. Khi nào gặp trẻ em trong một căn phòng là anh chịu hết nổi, anh phải chạy ra ngoài.

Trong một chuyến tôi đến Hoa Kỳ, các cựu chiến binh Mỹ tổ chức một khóa tu dành riêng cho họ. Tôi dạy họ cách cách đi, cách thở để chuyển hóa nỗi sợ hãi, mặc cảm tội lỗi và đau khổ. Tôi nói với anh cựu chiến binh trên: “Anh đã giết năm đứa trẻ, đó là chuyện thật, nhưng anh đã cứu mạng hàng trăm đứa trẻ khác. Anh có biết rằng hằng ngày có tới mười ngàn trẻ em bị chết vì thiếu thuốc men và thực phẩm hay không? Anh có thể đem thức ăn và thuốc tới cho số trẻ đó”. Anh ta thực tập như tôi hướng dẫn, và con người đó - hai mươi năm trước đã giết năm em nhỏ - anh được tái sinh ngay lập tức, chuyển hóa thành con người cứu được hàng chục trẻ em.

Tập nhìn sâu như thế, những tiếc nuối, tự ti nơi bạn sẽ được chuyển hóa. Bạn sẽ có nguồn năng lượng mới, không chỉ tỏa sáng trong quá khứ mà còn tỏa sáng trong thời hiện tại và tương lai nữa.


(Hết chương 7)


18 thg 8, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 6

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 6

ĐỊA CHỈ CỦA HẠNH PHÚC.

Nếu bạn muốn biết Thượng đế, chư Bụt và tất cả vĩ nhân sống ở đâu thì tôi có thể chỉ cho bạn. Đây là địa chỉ: “Bây giờ và ở đây”. Có đủ thứ bạn muốn biết, kể cả mã bưu điện (zip code).

Nếu bạn có thể thở vào thở ra và bước đi với tinh thần “đã về - đã tới - bây giờ - ở đây” thì bạn sẽ thấy mình vững chãi và tự do ngay lập tức. Bạn đã đứng vững được trong hiện tại, ngay tại địa chỉ này của bạn. Không có gì thúc đẩy khiến bạn phải chạy hoặc sợ hãi. Bạn được giải phóng khỏi những lo âu quá khứ. Bạn cũng sẽ không còn bế tắt, nghĩ tới những gì chưa xảy ra ở tương lai, cùng với những thứ bạn không thể kiểm soát được. Bạn được tự do, không còn mặc cảm quá khứ và cũng không lo lắng về tương lai nữa.

Chỉ khi có tự do người ta mới có hạnh phúc. Số lượng hạnh phúc bạn có tùy thuộc vào số lượng tự do mà bạn có trong tâm. Đây không phải là tự do chính trị. Tự do là sự vượt thoát khỏi những ràng buộc, tiếc nuối, sợ hãi, lo âu và phiền muộn. “Đã về, đã tới, bây giờ, ở đây”.

“Vững chãi, thảnh thơi” là những gì bạn cảm thấy, khi bạn tới được chỗ “bây giờ và ở đây”. Bạn không chỉ nói với mình như thế mà bạn sẽ thấy, sẽ cảm nhận được như thế. Làm vậy, bạn được bình an. Bạn sẽ chứng ngộ được Niết bàn, miền Tịnh độ, nước Chúa hoặc bất kỳ từ ngữ nào bạn muốn gọi nó. Ngay cả khi không âu lo, bạn cũng không thể có hạnh phúc nếu bạn không vững chãi, thảnh thơi. Nuôi dưỡng sự vững chãi và thảnh thơi là món quà quý giá nhất chúng ta có thể tự ban tặng cho mình.

BÀI 1

AN TRÚ TRONG BẢN MÔN

“Tôi về an trú trong bản môn”. Bản môn (bình diện tuyệt đối hay phút giây hiện tại) là nền tảng của con người, là căn nguyên của chúng sinh. Bản môn hay chân như không chia cách gì chúng ta. Chúng ta luôn luôn ở đó. Bản môn không phải là một nơi nào cao tít mù khơi. Nhưng chúng ta phải về được căn nhà của mình thì mới có thể an trú trong bản môn, mới sống được trong đó.

Giống như sóng và nước. Nếu nhìn một ngọn sóng ta sẽ thấy nó có khởi đầu và chấm dứt. Ngọn sóng  có thể cao hay thấp, nó có thể giống hay khác ngọn sóng kia. Nhưng sóng luôn luôn được làm bằng nước. Nước là nền tảng của sóng. Sóng là sóng nhưng cũng là nước. Sóng có thể có bắt đầu, có kết thúc, có lớn, có nhỏ. Nhưng nước thì không có bắt đầu hay chấm dứt, không lên không xuống, không này không kia. Khi sóng nhận ra được chuyện này thì nó hết sợ hãi về chuyện khởi đầu và kết thúc, lên xuống, này kia.

Trong thế giới hiện tượng, chúng ta có thời gian và không gian, và cặp đối đãi: đúng-sai, già-trẻ, nghèo-giàu, nhơ-sạch, sinh-diệt… Chúng ta mong sự khởi đầu và sợ sự chấm dứt. Nhưng trong bình diện tuyệt đối không có những thứ đó, không có sự khởi đầu hay chấm dứt, không trước không sau. Bình diện tuyệt đói là nền tảng của thế giới hiện tượng. Đó là nguồn gốc, là cội rễ liên tục của chúng sinh.

Nền tảng bản môn là Niết bàn, là bản thể chân như tuyệt đối. Đó là nước. Bạn là sóng đồng thời cũng là nước. Bạn có bình diện tương đối (tích môn) và bạn cũng có bản thể tuyệt đối. Nếu chúng ta hiểu rằng bản chất thực sự của ta là vô sinh bất diệt, không đến không đi, thì sự sợ hãi trong ta sẽ không còn và những đau khổ sẽ tan biến.

Một con sóng không cần chết mới trở thành nước được. Nó chính là nước, ngay bây giờ và ở đây. Chúng ta cũng không cần chết mới giải thoát khỏi khổ, mới đạt được Niết bàn, hay đến được nước Chúa, hoặc Tịnh độ. Điều ấy là nền tảng bây giờ và ở đây của chúng ta. Sự thực tập sâu sắc nhất của chúng ta là làm sao nhìn thấy và tiếp xúc được với ngay chính hiện tại này (bình diện tuyệt đối) trong ta mỗi ngày. Chỉ có thực tập chánh niệm đó mới giúp được cho ta hết hẳn lo âu và đau khổ. Thay vì nói: “An trú trong bản môn” (hoặc trong phút giây hiện tại), bạn có lẽ sẽ thích hơn câu: “An trú trong nước Chúa” hay “An trú trong Tịnh Độ”.

BÀI 2

BUÔNG BỎ BUỒN PHIỀN

Giả sử có người chở bạn bằng máy bay phản lực tới nước Chúa hay đất Tịnh độ của Phật. Khi tới đó, bạn sẽ ra sao? Tới một nơi đẹp đẽ như thế, bạn sẽ đi đứng với những áp lực, căng thẳng, vội vàng và lo lắng bằng cái thân tâm bất tịnh thường ngày của bạn chăng? Hay bạn sẽ thưởng thức từng giây phút hiện tại khi được ở Thiên đàng? Tại nước Chúa hay Tịnh độ, người ta được tự do và biết hưởng cuộc sống yên bình trong từng giây phút. Vậy nên họ không đi đứng hay hành động như chúng ta.

Tịnh Độ không phải là nơi nào khác. Nó ngay tại đây, trong lúc này. Nó ở trong từng tế bào của ta. Khi chúng ta trốn chạy hiện tại, thì ta đã phá hủy vương quốc tốt đẹp ấy. Nhưng nếu ta biết cách buông xả được những năng lượng tiêu cực của tập khí trốn chạy, thì ta sẽ có hòa bình và tự do, và ta có thể bước đi như Bụt ở cõi Tịnh Độ vậy.

Hành lý ta mang theo sẽ quyết định cho ta sống ở bình diện nào. Nếu bạn mang theo nhiều buồn phiền, lo lắng, sợ hãi và tham đắm, thì bạn đi tới đâu cũng chỉ gặp thế giới đau khổ như địa ngục mà thôi. Nhưng nếu bạn mang theo lòng từ bi, hiểu biết và thanh thản, thì đi tới đâu bạn cũng sẽ gặp thế giới của Chân như, vương quốc Thượng đế.

Người biết tu tập đi tới đâu, họ cũng biết bước chân họ được tiếp xúc với miền an lạc. Không có ngày nào tôi không bước trên vương quốc của Thượng đế. Vì tôi thực tập từ bi và buông xả, chân tôi đi tới đâu cũng tiếp xúc được với cõi Tịnh Độ, vương quốc Thượng đế hay nước Chúa. Và với bình diện tuyệt đối của mọi sự vật.

“Đã về, đã tới”. Nhà của sóng là nước. Nó ngay đó. Sóng không cần đi hàng ngàn hải lý để trở về nhà. Bài kệ rất giản dị, bạn nên thực tập nó mỗi ngày. Như thế bạn sẽ tiếp xúc được với bản thể chân như và luôn luôn nhớ tới căn nhà thực sự của bạn.

BÀI 3

TẬP KHÍ CHẠY ĐUỔI

Chúng ta chạy đuổi ban ngày và chạy cả trong giấc ngủ. Chúng ta không biết cách dừng lại. Chúng ta trước tiên thực tập để biết dừng, sau đó là buông xả thư thái, bình tâm và định tâm lại. Khi ta có thể làm như vậy là ta trở về được với hiện tại, bây giờ và ở đây. Và chúng ta sẽ vững chãi. Khi đã vững chãi, chúng ta có thể nhìn ra chung quanh. Ta có thể nhìn sâu vào lúc này, nhìn sâu vào bản chất của mình và khám phá ra bản chất chân như. Nhìn sâu ta sẽ thấy dù ta là sóng nhưng ta cũng là nước. Nhưng nếu ta không học để dừng lại được thì ta sẽ không thể định tâm và nhìn sâu. Chúng ta sẽ không buông bỏ được lo lắng, sợ hãi vì định lực ta không đủ mạnh, không đủ vững chãi để nhìn ra chân lý cuộc sống.

Muốn thắng các tập khí của mình là chuyện rất khó khăn. Tiến sĩ Ambedkar, nguyên là nghị sĩ quốc hội Ấn Độ, xưa thuộc hàng bần cùng (Untouchable). Ông tranh đấu cho quyền lợi của giới này. Ông cảm thấy rõ ràng Phật giáo là niềm hy vọng để giúp cho giới bần cùng được an toàn và giữ được phẩm giá. Đạo Bụt không tin vào sự phân chia giai cấp. Vậy nên một hôm tại Bombay, có năm trăm ngàn người cùng khổ tới để thọ Tam quy Ngũ giới với tiến sĩ Ambedkar. Tôi đã tới Ấn Độ để ủng hộ và giúp đỡ cộng đồng này. Chúng tôi nói pháp thoại và hướng dẫn những ngày thực tập chánh niệm.

Hãy tưởng tượng bạn lớn lên trong giai cấp bần cùng đó. Tưởng tượng mọi người chung quanh ai cũng bạc đãi bạn và bạn luôn lo sợ cho tính mạng của mình. Tưởng tượng bạn luôn luôn phải chiều lòng những người giai cấp cao hơn để được sống bình an. Bạn sẽ sống ra sao? Bạn có thảnh thơi và sống trong phút giây hiện tại được chăng? Hay bạn phải lo lắng thường trực về tương lai. Tập khí lo lắng là thứ rất mạnh.

Người tổ chức chuyến đi Ấn Độ cho tôi cũng xuất thân từ giai cấp cùng khổ. Anh sống ở New Delhi với vợ và ba con. Anh rất muốn làm cho chuyến đi của tôi thoải mái và thành công. Một buổi sáng chúng tôi ngồi trên xe buýt để đi tới một cộng đồng địa phương khác. Tôi thích thú ngắm quan cảnh qua khung cửa chỗ tôi ngồi. Khi quay lại nhìn anh bạn kia, tôi thấy anh rất căng thẳng. Tôi nói: “Anh bạn, tôi biết anh rất muốn làm cho chuyến đi của tôi thoải mái và vui vẻ. Nhưng bạn biết không? Tôi đang hài lòng lắm ngay lúc này. Xin đừng lo âu, hãy ngồi tựa lưng vô cho thoải mái”. Anh ta trả lời “dạ!” và có vẻ thoải mái hơn một chút. Rồi tôi lại quay ra cửa sổ, thực tập hít thở và thưởng thức những hàng cây cọ trong nắng sớm.

Tôi nghĩ tới chiếc là bối (lá cọ) ghi lại kinh điển của Bụt từ thời xa xưa. Lá bối dài và hẹp. Người ta dùng một mũi nhọn để ghi lên lá những lời dạy của Bụt. Họ giữ được hơn ngàn năm những bản kinh bằng lá đó. Tôi nhớ ở xứ Nepal người ta tìm ra được những bản kinh trên lá bối đã viết từ một ngàn năm trăm năm trước. Rồi tâm tôi hướng về anh bạn trẻ. Có lẽ chỉ hai phút sau, tôi quay lại và thấy anh trở nên cứng ngắc và căng thẳng nữa rồi. Anh khó mà thảnh thơi được dù chỉ trong ít phút.

Là một người thuộc giai cấp cùng khổ, cả đời anh phải tranh đấu để sống. Bây giờ dù anh có một căn hộ nhỏ xinh xắn tại ngay New Delhi và có việc làm tốt. Tập khí luôn luôn tranh đấu của anh vẫn còn rất mạnh. Qua nhiều thế hệ, những người thuộc giai cấp bần cùng đó đã phải phấn đấu ngày đêm để sống còn. Tập khí từ bao đời đó đã được truyền tới anh. Muốn chuyển hóa nó không phải là chuyện dễ. Anh cần thời gian và cần được huấn luyện. Với sự hỗ trợ của bạn đồng tu, trong vài tháng hay vài năm có thể anh sẽ chuyển hóa được tập khí lo lắng và căng thẳng đó. Ai cũng có thể làm như vậy. Bạn có thể làm cho bạn thoái mái và thảnh thơi.

Nếu bạn muốn chuyển hóa tập khí chạy đuổi và căng thẳng, bạn cần nhận diện chúng ngay mỗi khi chúng ló đầu ra. Thở và mỉm cười, bạn nói: “Tập khí thân mến của ta ơi, ta biết ngươi ở đó rồi!”. Khi đó bạn sẽ được tự do. Bạn có thể tự nhắc nhở, tự huấn luyện mình như thế. Bạn không thể có người bạn nào suốt hai mươi bốn giờ mỗi ngày để nhắc nhở bạn. Tôi đã nhắc anh bạn kia và chỉ hiệu quả được hai phút thôi. Anh ta phải tự làm. Ai cũng phải tự làm lấy. Bạn phải là người bạn của chính mình và chọn sống trong môi trường nào mà có thể giúp được bạn.

Tập khí cuộn chảy rất mạnh trong chúng ta. Nó có thể đã được truyền qua nhiều thế hệ mới tới chúng ta. Nhưng bạn không cần trao truyền lại sau này. Điều đó giúp con cháu bạn không tiếp tục khổ sở vì tập khí của bạn. Bạn cần nói con cháu rằng bạn đã bước đi trong vương quốc của Thượng đế. Bạn sẽ muốn nói với chúng như vậy, như tôi đã nói với bạn, rằng không ngày nào tôi không đi trên đó. Nếu bạn có thể làm như vậy, cuộc đời bạn sẽ là niềm hứng khởi cho nhiều người. Có lẽ bạn và con bạn sẽ luôn luôn cùng bước đi trong Tịnh độ.

BÀI 4

BUÔNG BỎ HÀNH LÝ

Ý muốn luôn luôn được đi trên miền đất Tịnh độ sẽ giúp chúng ta buông bỏ những thứ ngăn cản không cho chúng ta sống với hiện tại. Nó cũng giúp chúng ta học được tánh xả bỏ những gì làm chúng ta lo âu, để trở thành con số không. Khi nghĩ tới con số không, ta thường nghĩ tới hư vô, không có gì cả. Ta nhìn thấy tiêu cực ở đó. Nhưng số không cũng có thể rất tích cực. Nếu bạn mang một món nợ phải trả, đó là số âm. Khi trả hết rồi thì tổng kết lại là zero. Thật kỳ diệu vì nay bạn được tự do rồi.

Trong thời Bụt còn tại thế, có một vị tăng sĩ tên là Baddhiya. Trước khi ông đi tu, ông đã là một vị đứng đầu một tỉnh lỵ trong vương quốc Sakka, nơi Bụt ra đời. Sau khi giác ngộ, Bụt trở về quê hương để thăm gia đình. Nhiều người trẻ tuổi nhìn thấy sự thảnh thơi và hạnh phúc của Bụt, nên xin đi theo Ngài. Họ muốn được tự do.

Trong nhóm người đó có Baddhiya. Ba tháng đầu tại tu viện, ông tu tập rất tiến bộ, nên nhìn sâu được nhiều điều. Một đêm khi thực tập trong rừng, ông đột nhiên la lên: “Ôi hạnh phúc! Hạnh phúc của tôi”.

Khi làm tỉnh trưởng, Baddhiya đã từng ngủ trong những căn phòng đẹp đẽ sang trọng, có nhiều lính canh gác. Ông ăn nhiều thứ đắt tiền và có nhiều người hầu hạ. Nhưng nay ông ngồi dưới gốc cây, muỗi mòng cắn đốt, tài sản không có gì ngoài cái bát để khất thực và bộ áo nhà sư.

Một tăng sĩ khác ngồi gần Baddhiya nghe tiếng ông, lại tưởng ông này đang tiếc nuối địa vị quyền thế và cuộc sống xa hoa ngày trước. Sớm hôm sau, vị tăng sĩ đó tới nói với Bụt những gì đã nghe. Bụt cho mời Baddhiya tới và trước tất cả tăng đoàn Bụt nói: “Này Baddhiya, có phải đêm qua khi ngồi thiền, Thầy đã nói câu ‘Ôi hạnh phúc! Hạnh phúc của tôi!’ phải thế không? Vì sao vậy? Thầy tiếc nuối điều gì chăng?”. Baddhiya trả lời: “Bạch Thế Tôn, trong khi ngồi thiền, con nhớ lại thời còn làm tỉnh trưởng. Có bao nhiêu người hầu hạ và bảo vệ. Nhưng con vẫn luôn luôn thao thức vì sợ hãi. Con sợ người ta lấy cắp của cải, con sợ bị ám sát. Ngày nay, khi ngồi thiền dưới gốc cây, con cảm thấy tự do quá. Bây giờ con không có gì để mất nữa, con còn hưởng được an lạc từng phút từng giây và cảm thấy chưa bao giờ sung sướng như bây giờ. Vì vậy mà con mới thốt lên: ‘Ôi hạnh phúc! Hạnh phúc của tôi!’. Thưa Thế Tôn, nếu chuyện đó làm phiền tăng thân thì con xin sám hối”. Bấy giờ, mọi người trong tăng đoàn đã hiểu vì sao Baddhiya kêu lên như thế, đó là diễn tả niềm hạnh phúc thật sự của ông.

Xin hãy lấy tờ giấy và cây bút. Tới một gốc cây ngồi xuống, hay ngồi ở bàn giấy của bạn, viết danh sách tất cả những thứ làm cho bạn hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Nhưng hãy nhớ, hạnh phúc thật sự mà bạn có được ngay hiện tại: đám mây trên trời, hoa trong vườn, con trẻ đang chơi đùa, bạn được học pháp môn tỉnh thức, người thương của bạn vẫn ngồi đó, bạn vẫn còn khỏe mạnh và được hít thở bình thường, những điều kiện sống hiện giờ của bạn không quá khổ sở, có những nụ cười hiền hòa từ ái bên bạn… Danh sách dài vô tận. Bạn có đủ mọi thứ để hạnh phúc ngay bây giờ. Bạn có đủ để buông xả các ý niệm giàu-nghèo, được-mất, tới-lui, trên-dưới, sống-chết. Hãy nuôi dưỡng bạn bằng những điều mầu nhiệm mà cuộc sống hiến dâng cho bạn. Hãy nuôi dưỡng bạn ngay lúc này. Hãy đi vào xứ sở Tịnh độ.

BÀI 5

CHÚNG TA CHẠY THEO CÁI GÌ?

Nếu chúng ta không có mặt thật sự ngay lúc này và không sống cho chính mình hay cho mọi người thì chúng ta đang ở đâu? Chúng ta chạy, chạy đuổi theo, chạy mãi ngay cả khi ta ngủ nghỉ. Chúng ta chạy chỉ vì sợ mất những gì mà chúng ta đuổi theo kia. Thực tập trở về có thể giúp chúng ta dừng lại.

Khi ta trở về với chánh niệm hay tỉnh thức, khi năng lượng chánh niệm có mặt trong bạn, thì năng lượng Thánh linh có mặt. Thánh linh làm nên đời sống. Chúng ta thực tập để có mặt Thánh linh. Sống từng giây từng phút hiện tại với Thánh linh không phải là điều trừu tượng. Khi ăn cơm, ăn loại ngũ cốc trộn trái cây và hạt dẻ hay ăn đậu hũ, hãy ăn sao cho Thánh linh có mặt trong bạn. Khi đi, hãy làm sao cho Thánh linh đi với bạn.

Xin đừng chỉ thực tập theo hình thức. Mỗi lần đi thiền hành là một lần mới mẻ. Đi làm sao để bạn được mỗi bước chân nuôi dưỡng bạn. Mỗi bữa ăn là một bữa ăn mới, để bạn được nuôi dưỡng bằng năng lượng của Thánh linh hay năng lượng chánh niệm. Mỗi buổi thiền tọa cũng là một thời ngồi thiền mới mẻ.

Hãy ngồi cách nào để con người mới trong bạn biểu hiện ra được. Hãy thực tập với đồng đạo. Tăng thân đủ thông minh và bén nhạy để không bị vướng mắc vào thói quen thụ động. Nhiều người trong chúng ta rất thông minh và có óc sáng tạo. Chúng ta nên dùng các khả năng đó để giữ cho sự thực tập sống động và đổi mới thường xuyên. Chúng ta có thể thực tập phép thiền quán này của đạo Bụt dù bạn là người Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo hay Do Thái giáo… Theo tôn giáo nào hay không tôn giáo đều không phải là vấn đề.

Tu tập không chỉ là bắt chước về hình thức. Thực tập là phải dùng trí thông minh và tài khéo léo để nuôi dưỡng và chuyển hóa những con người chung quanh ta.

BÀI 6

BẮT ĐẦU LẠI

Khi bạn ăn bánh mì hay bánh bơ nướng vào buổi sáng, hãy ăn cách nào để cái bánh bơ trở thành đời sống. Hãy ăn như ăn bánh Thánh. Cảm thấy mình đang sống và đang tiếp tục với tất cả vũ trụ. Ta có thể nói: “Chiếc bánh này gồm tất cả vũ trụ”. Ăn với chánh niệm cho phép ta nhận diện được chiếc bánh như một phần của vũ trụ. Ăn như thế, bạn trở thành một con người mới. Hãy cho phép con người mới đó của bạn biểu hiện ra. Bạn có thể thực tập một mình hay với bạn bè, anh chị em để giúp họ làm mới con người họ trong mỗi phút giây thực tập.

Khi chúng ta mới bắt đầu thực tập, ta có cái sơ tâm. Sơ tâm là một cái tâm rất đẹp. Bạn có hứng khởi muốn tập, muốn chuyển hóa tự thân, muốn có bình an và phúc lạc. Niềm an vui đó sẽ lây sang người khác. Hãy làm bó đuốc và đem ngọn lửa của bạn châm cho các bó đuốc khác. Thực tập như thế, bạn đã mang lại hòa bình trên khắp thế giới, giúp cho niềm an lạc trên thế giới lớn lên.

Mỗi người chúng ta nên thực tập trở về (quay về với hiện tại). Khi thành công ta sẽ giúp được người chung quanh. Đây là sự tu tập thực sự của một con người sinh động. Những gì chúng ta làm hằng ngày như đi, đứng, nằm, ngồi, quét nhà, ăn uống…, đều có mục tiêu làm cho chúng ta thực sự sống lại. Sống thực sự từng phút từng giây, bạn tự đánh thức mình và đánh thức cả thế giới.

Tỉnh thức là bản chất của giáo pháp và thực tập. Bụt (Budh) có nghĩa là tỉnh thức. Người tỉnh thức là Buddha. Buddha (Bụt/Phật) là bất kỳ ai giảng dạy cho chúng ta giáo pháp về phép thực tập tỉnh thức. Mỗi chúng ta có thể là Bụt, có thể chuyển hóa, biến mình thành ngọn đèn, để giúp cho toàn nhân loại thức tỉnh.


(Hết chương 6)


7 thg 7, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 5

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 5

BẮT ĐẦU LẠI.

Trước khi chúa Jesus sinh ra thì Ngài ở đâu? Tôi đã hỏi nhiều người bạn Thiên Chúa giáo câu hỏi này từ nhiều năm. Nếu chúng ta muốn nhìn sâu vào câu hỏi đó, ta phải hiểu về cuộc đời và cái bản chất của Jesus như là những biểu hiện. Chúa không sinh ra từ hư vô được. Không phải từ hang đá Bethlehem mà Jesus trở thành một con người. Ngày Chúa ra đời chỉ là một sự biểu hiện: Jesus đã hiện hữu trước giây phút mà ta gọi là Giáng Sinh đó. Vậy thì ta cũng không nên gọi đó là đản sinh. Thật sự, đó không phải là sự ra đời mà đó chỉ là một sự biểu hiện. Nhìn sự biểu hiện đó với con mắt trí tuệ, ta có cơ hội nhìn sâu vào con người của Chúa Jesus. Ta có thể khám phá được sự thật về tính cách bất tử của Chúa. Ta có thể khám phá được tính cách vô sinh bất tử về bản chất chân thực của chính mình.

Người Thiên Chúa giáo nói rằng Thượng đế đã gửi người con duy nhất của Ngài là Jesus xuống thế gian. Vì có thượng đế, vì Jesus là một phần của Thượng đế và là con của Ngài, Jesus đã hiện hữu sẵn rồi. Ngày Chúa ra đời, dịp Giáng Sinh, chỉ là ngày Ngài biểu hiện ra chứ không phải mới sinh ra. Đó chỉ là ngày có sự biểu hiện.

Jesus vẫn còn biểu hiện ra trong trăm ngàn phương cách. Ngài có mặt chung quanh bạn. Chúng ta cần tỉnh thức để nhận diện ra các biểu hiện của Ngài. Nếu bạn không có chú tâm và tỉnh thức thì bạn sẽ không thấy được các biểu hiện của Ngài. Buổi sáng khi đi thiền hành bạn có thể thấy Ngài biểu hiện trong một bông hoa, một giọt sương, trong tiếng hót của một con chim hay tiếng trẻ con nô đùa trên sân cỏ. Chúng ta phải rất cẩn thận để nhận biết được tất cả mọi thứ và trân trọng.

Theo giáo pháp và trong các lý giải Phật giáo, chúng ta đều có chung nhau bản chất vô sinh bất diệt. Không chỉ loài người mà các loài vật, cây cỏ, đất đá cũng có cùng bản chất như thế. Cái lá và bông hoa có chung bản chất không sinh không diệt. Trong mùa Đông chúng ta không thấy hoa hướng dương hay con chuồn chuồn nào xuất hiện, ta không nghe chim cúc cu hót. Hầu như chúng không hiện hữu trong mùa Đông. Nhưng ta biết quan niệm này sai. Vào đầu mùa Xuân, tất cả sinh vật đó lại biểu hiện ra. Mùa Đông chúng đã ở chỗ nào đó, dưới một hình thức khác, đợi các điều kiện thuận lợi mới lại xuất hiện. Cho rằng chúng không hiện hữu vào mùa Đông là một quan niệm sai lầm.

BÀI 1

QUA ĐỜI KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MẤT ĐI

Ta cũng cần hỏi: “Nếu Jesus không sinh ra thì làm sao Ngài chết đi được? Dù cho bị đóng đinh, nhưng Ngài có ngừng hiện hữu không? Và Jesus có cần phục sinh không?

Có thể nào việc đóng đinh Chúa không phải là cái chết của Ngài? Có thể đó là điều kiện cho một sự ẩn tàng thôi? Bản chất thật của Ngài là vô sinh bất diệt. Đó là sự thật không chỉ dành cho Jesus mà cho tất cả chúng ta. Trong ý nghĩa đó, đám mây cũng vậy, hoa hướng dương và tôi hay bạn cũng có cùng bản chất đó. Chúng ta cũng là những vật chất ở thế gian này, không được sinh ra mà cũng không chết đi. Vì Jesus không bị chuyện sinh diệt ảnh hưởng nên chúng ta gọi Ngài là Chúa ngàn đời. Nhưng thật tuyệt vì chúng ta cũng như vậy.

Nhìn vào sự vật bằng quan niệm biểu hiện là một sự hiểu biết sâu xa và có thực. Nếu người thân của bạn đã qua đời mà bạn nghĩ họ không còn hiện hữu, là một lầm lỗi. Hư vô không thể trở thành một thứ gì. Hư vô chẳng thể sinh ra một người nào đó được. Đang từ  bạn không thể trở thành không và từ không chẳng thể trở thành . Đó là chân lý. Nếu người yêu không còn biểu hiện ở hình tướng bạn thường thấy nữa, đó không phải vì người kia trở thành hư không. Nhìn cho kỹ, bạn có thể tiếp xúc được với người đó ở các biểu hiện khác như đất, mưa, trong gió, và hơi ấm mặt trời.

Một ngày, tôi cầm tay người cha vừa mới chôn cất đứa con trai nhỏ của ông. Tôi mời ông đi với tôi để tìm con trai ông trong các hình tướng mới. Cậu bé đã tới Làng Mai khi còn rất nhỏ, cậu được tu học và rất ưa ăn chay. Cậu bé đã lấy tiền để dành ra để nhờ tôi mua mận trồng trong Làng. Cậu muốn tham dự vào việc giúp các trẻ em đói bằng cách trồng mận. Biết rằng mỗi cây mận sẽ ra nhiều trái, cậu cũng biết rằng chúng tôi có thể bán mận và gửi tiền cho trẻ em đói ở thế giới thứ ba. Cậu bé cũng học thiền hành, thiền tọa và nghe giảng pháp rất giỏi. Khi cậu bé bị ốm, tôi tới bệnh viện ở Bordeaux thăm cậu. Bé nói: “Sư Ông, con sẽ đi thiền hành vì Sư Ông”. Cậu rất yếu nhưng ráng bước xuống giường và đi mấy bước rất đẹp. Và đó là lần sau cùng tôi nhìn thấy cậu bé ở hình tướng ấy. Trong ngày hỏa táng, tôi rẩy nước thiêng và tụng Tâm kinh cho cậu ta. Một tuần sau, tôi cầm tay cha cậu, đi hành thiền và chỉ cho ông những hình tướng mới của cậu bé. Chúng tôi cùng nhau đi thăm cây mận tôi đã trồng cho bé, và ngồi ở đó trong ánh chiều tà, chúng tôi nhìn thấy cậu vẫy chào chúng tôi từ các chồi nụ trên cây.

Nhìn sâu vào thực tại, bạn có thể thấy được nhiều điều. Bạn có thể vượt thoát được nhiều khổ đau và đối diện được với nhiều nhận thức sai lầm trước đó. Nếu chúng ta bước một cách êm ả vào bản môn, chúng ta sẽ không còn bị chìm đắm vào biển trầm luân của đau buồn, sợ hãi và tuyệt vọng nữa.

BÀI 2

TÁI BIỂU HIỆN

Trong bản môn (bình diện tuyệt đối), chúng ta chưa bao giờ sinh ra và cũng chưa từng bị diệt đi. Trong tích môn (bình diện tương đối), chúng ta sống trong thất niệm và hiếm khi chúng ta biết sống thực sự. Chúng ta sống như người chết.

Trong cuốn tiểu thuyết Kẻ xa lạ (Stranger) của Albert Camus. Nhân vật chính trong cơn tuyệt vọng và giận dữ đã bắn chết một người. Anh ta bị kết án tử hình vì tội đó. Một ngày nằm trên giường trong phòng giam, anh ta nhìn lên ô vuông có lắp kính trên trần. Bỗng nhiên anh ta thức tỉnh và tiếp xúc được một cách sâu xa với bầu trời xanh phía trên. Anh chưa bao giờ nhìn trời như thế cả. Albert Camus gọi đó là giây phút lương tri, tức là giây phút thức tỉnh, có chánh niệm. Đối với người tử tù, đó là lần đầu tiên anh tiếp xúc được với bầu trời và thấy rõ sự mầu nhiệm.

Từ lúc đó, anh muốn duy trì tình trạng tỉnh thức ấy. Anh tin rằng đó là loại năng lượng duy nhất có thể giúp anh sống còn. Anh chỉ còn ba ngày trước khi bị hành hình. Anh ta thực tập một mình trong tù để duy trì sự tỉnh thức, giữ cho chánh niệm sinh động. Anh mong ước sẽ sống từng giây từng phút còn lại một cách trọn vẹn và thức tỉnh. Ngày cuối cùng, một linh mục tới thăm anh để làm nghi lễ lần cuối cho anh. Người tù không muốn mất thì giờ về buổi lễ. Anh từ chối, nhưng sau đó lại mời linh mục vào. Khi làm lễ xong, ông Cha đi khỏi, người tù nhận ra là ông ta đã sống như người chết. Ông không có phẩm chất chánh niệm, tỉnh thức nào cả.

Nếu bạn sống mà không tỉnh thức, không nhận biết mình đang làm gì ở hiện tại, hay bạn chỉ hành động theo thói quen như một cỗ máy thì cũng như bạn đã chết rồi vậy. Bạn không thể gọi đó là một cuộc sống. Nhiều người trong chúng ta sống như người chết vì thiếu tỉnh thức. Chúng ta mang cái thây chết của mình đi tới đi lui khắp nơi, cười cười, nói nói. Chúng ta bị lôi về quá khứ hay khéo tới tương lai, và chúng ta bị kẹt trong mớ hỗn độn đó hay các sân hận, tuyệt vọng. Chúng ta không thực sự sống, chúng ta không quý trọng sự sống, chúng ta không tỉnh thức để được hưởng sự nhiệm mầu của sự sống này. Albert Comus chưa từng học Phật pháp, nhưng trong tiểu thuyết đó, ông đã nói về trái tim của sự thực tập trong đạo Bụt, giây phút có lương tri, có thức tỉnh sâu xa, nghĩa là có chánh niệm.

Sự thực tập phục sinh hay tái biểu hiện là chuyện khả dĩ có thể xảy ra cho tất cả chúng ta. Chúng ta thực tập thì có thể được phục sinh, trở về được với thân tâm nhờ có những hơi thở và bước chân chánh niệm. Nó sẽ tạo ra sự hiện diện thực sự của chúng ta ngay giờ phút này và ở đây. Và như vậy chúng ta được sống lại với chính mình. Giống như người chết được tái sinh. Chúng ta không còn bị quá khứ và tương lai ràng buộc, chúng ta tự do thiết lập liên hệ với hiện tại và ngay ở đây. Chúng ta hiện diện toàn phần lúc này và tại nơi này, và chúng ta sống thật sự. Đó là phép thực tập căn bản của đạo Bụt. Khi bạn ăn, uống, thở, đi hay ngồi bạn đều có thể thực tập sự phục sinh. Luôn luôn làm cho bạn được ở trong hiện tại và ngay tại đây, thiết lập sự có mặt hoàn toàn và nhận biết sự sống động đó. Đây là phép thực tập phục sinh đích thực.

BÀI 3

THỜI KHẮC DUY NHẤT ĐỂ SỐNG

Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về nương tựa.

Tôi không thể thưởng thức được đời sống nếu tôi dùng nhiều thì giờ để lo âu về những gì xảy ra hôm qua hoặc sẽ xảy ra ngày mai. Chúng ta lo lắng về tương lai vì chúng ta sợ hãi. Nếu chúng ta cứ mãi sợ hãi thì chúng ta không biết giá trị của sự sống và hạnh phúc đích thực ngay hiện tại.

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta có khuynh hướng cho rằng hạnh phúc chỉ có mặt trong tương lai hay ở quá khứ. Chúng ta luôn mong đợi hoặc tiếc nuối những điều tốt đẹp ấy, và chúng ta cứ đi tìm những điều kiện tốt để làm cho ta hạnh phúc hơn. Chúng ta bỏ qua những gì đang xảy ra trước mắt. Chúng ta cố gắng làm mọi thứ khiến ta cảm thấy vững vàng, an toàn hơn. Nhưng chúng ta vẫn thường xuyên lo sợ về những gì tương lai sẽ đem tới. Chúng ta lo mất việc làm, mất của cải, mất những người yêu thương. Vậy nên chúng ta cứ đợi chờ cái giây phút huyền diệu kia, vào một thời điểm nào đó sau này, khi mà mọi chuyện xảy ra đúng như ý ta mong muốn. Nhưng đời sống chỉ có trong phút giây hiện tại. Bụt dạy: “Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy nhất mà ta có được”.

Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt đầy đủ. Thực tập chánh niệm là thực tập trở về với hiện tại, lúc này và ở đây, để có thể tiếp xúc sâu sắc với ta, với đời sống. Chúng ta phải tập để có thể làm được điều này. Dù cho ta thông minh và hiểu biết ngay, chúng ta cũng cần phải huấn luyện mới sống được như thế. Chúng ta phải luyện tập để thấy được rằng các điều kiện của hạnh phúc đã có mặt tại đây rồi.

BÀI 4

NHÀ CỦA TA

Căn nhà thật sự của ta là bây giờ và ở đây. Quá khứ đã không còn và tương lai thì chưa tới. “Đã về nhà, đã tới nhà, bây giờ và ở đây”. Chúng ta thực tập như thế.

Bạn có thể đọc bài kệ đó trong khi thiền hành hay thiền tọa. Bạn có thể thực tập bài kệ khi lái xe tới chỗ làm. Bạn chưa tới đó, nhưng trên đường đi, bạn đã tới căn nhà của bạn, chính là giờ phút hiện tại. Và khi tới công ty, đó cũng là nhà, vì khi vô đó, bạn cũng đang sống với bây giờ và ở đây.

Hãy cứ thực tập câu đầu tiên: “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” là bạn có thể rất hạnh phúc rồi. Khi ngồi, khi đi hay khi tưới rau, hay cho con ăn, lúc nào bạn cũng thực tập được “đã về, đã tới”. Tôi không còn chạy nữa. Tôi đã chạy vào quá khứ và tương lai, đã chạy suốt đời rồi, và nay tôi quyết định dừng lại để thực sự sống với đời sống của mình.

BÀI 5

BẠN CHỜ ĐỢI GÌ NỮA?

Người Pháp có bài hát “Người chờ điều gì để có hạnh phúc?”. Khi tôi thực tập thở vào tôi đọc “đã về”, đó là sự thành công. Bây giờ tôi hoàn toàn có mặt, tôi sống 100%. Giờ phút hiện tại trở thành ngôi nhà thực sự.

Khi thở ra tôi nói “đã tới nhà”. Nếu bạn không cảm thấy về tới, tức bạn vẫn còn tiếp tục chạy. Và bạn tiếp tục sợ hãi. Nhưng nếu bạn cảm thấy đã tới nhà, thì bạn sẽ cảm thấy an toàn và không cần phải chạy nữa. Đó là chìa khóa bí mật của sự thực tập chánh niệm. Khi sống với hiện tại, ta có thể sống với hạnh phúc thực sự.

BÀI 6

THƯỞNG THỨC MẶT ĐẤT

Tôi kể chuyện này đã nhiều năm. Giả sử có hai phi hành gia lên mặt trăng. Khi tới nơi, họ gặp trục trặc và họ biết chỉ còn đủ dưỡng khí cho hai ngày. Không hy vọng gì việc có người từ trái đất tới tiếp cứu. Họ chỉ còn hai ngày để sống. Nếu bạn hỏi họ lúc đó: “Anh mong ước điều gì nhất?”, họ có thể trả lời: “Trở về nhà và được đi trên trái đất”. Thế là đủ, họ sẽ không cần gì khác. Họ không cần là chủ nhân của một công ty lớn, một tỷ phú giàu có, một người có tiếng tăm hoặc làm tổng thống Hoa Kỳ. Họ sẽ không muốn gì khác hơn là được trở về nhà, bước trên con đường và thưởng thức từng bước chân, nghe âm thanh thiên nhiên và cầm tay người thân của mình nhìn ngắm ánh trăng.

Chúng ta nên sống mỗi ngày như những người được cứu thoát từ mặt trăng về. Chúng ta hiện đang sống trên trái đất, nên chúng ta cần biết thưởng thức từng bước chân trên mặt địa cầu quý giá, đẹp đẽ này. Thiền sư Lâm Tế đã dạy: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất”. Tôi rất quý lời dạy đó. Bước đi hạnh phúc của tôi, dù đi tại những nơi đông người như nhà ga, trên đường chật kín xe cộ hoặc đi trong khu rừng vắng vẻ. Đi như thế, mỗi bước chân hôn lên đất mẹ, chúng ta có thể gây hứng khởi cho người khác làm theo. Chúng ta vui sống từng giây phút của cuộc đời.


(Hết chương 5)


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***