3 thg 5, 2020

LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI

 Theo Biên Niên Sử


1. Con người xuất hiện từ bao giờ? Những bằng chứng khoa học về nguồn gốc loài người.

Con người xuất hiện từ bao giờ? Câu hỏi đó không phải đến nay mới được đặt ra. Sự quan tâm của con người tới nguồn gốc “xuất thân” của mình được thể hiện qua rất nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích về sự sáng tạo thế giới mà ở bất cứ dân tộc nào cũng có. Thời cổ đại, một số học giả lại cho rằng thoạt đầu con người có hình dáng nửa người nửa động vật. Thời trung đại, giáo lí của các tôn giáo, dưới nhiều hình thức khác nhau, đều giải thích rằng con người do Thượng đế sinh ra. Đến giữa thế kỉ XVIII, vấn đề về vị trí của con người trong thế giới tự nhiên mới được đặt ra trên nền tảng khoa học thực sự khi Cac Linnây xếp con người vào cùng hệ thống với thế giới động vật. Từ đó, qua nghiên cứu, các nhà khoa học ngày càng nhận thấy cơ thể của người và lớp động vật có vú, đặc biệt là giống vượn hình người hiện đại như Jipbông (Gibbon), Ôrăng Utăng (Orang-Outang), Gôril (Gorille), Sanhpăngdê (Chimpanzé) có rất nhiều nét gần gũi nhau. Những kết quả nghiên cứu của ngành động vật học cao cấp cũng cho thấy, một số động vật có vú cũng mắc một số căn bệnh mà trước kia người ta thường cho rằng chỉ có loài người mới có; những động vật này cũng chịu thuốc kháng sinh và các loại vắcxin phòng dịch. Khi nghiên cứu quá trình phát triển của bào thai người, ngành phôi thai học đã đi đến kết luận: quá trình hình thành bào thai người là sự “rút ngắn” của hàng triệu năm tiến hóa từ động vật trở thành người.

Sau khi công trình của Đacuyn được công bố năm 1871, nguồn gốc động vật của loài người đã được nhiều ngành, nhiều nhà khoa học tìm kiếm, chứng minh bằng những bằng chứng khoa học, trong đó nổi bật nhất là việc phát hiện những di cốt hóa thạch của loài vượn cổ và người vượn trung gian, cho phép khôi phục lại các mắt xích của quá trình chuyển biến từ vượn thành người. Ở chặng đầu của quá trình có một loài vượn cổ hay còn gọi là vượn nhân hình – Hominid, sống ở cuối thế kỉ thứ ba của thời đại Tân sinh, cách ngày nay khoảng hơn 6 triệu năm. Loài vượn nhân hình này đã có thể đứng và đi bằng hai chân, dùng hai chi trước để cầm nắm, ăn hoa quả, lá cây, củ và cả động vật nhỏ. Trong quá trình phát triển, loài vượn nhân hình này cũng tiến hóa dần dần, ngày càng gần với người hơn: từ loài vượn Đriôpithécus đến Ramapithécus và bước tiến hóa rõ rệt hơn cả là vượn phương Nam – Australopithecus. Di cốt hóa thạch của những loài vượn này đã được tìm thấy ở Đông Phi, Tây Á, Ấn Độ, Trung Quốc và cả ở Lạng Sơn (Việt Nam).

Loài vượn nhân hình Hominid là tổ tiên chung của loài người và cả các giống vượn hiện đại. Từ Hominid, một nhánh nào đó đã phát triển lên thành người Homo Habilis (người khéo léo). Đó là giai đoạn thứ hai và là bước ngoặt quan trọng trong quá trình tiến hóa. Di cốt của một trong những Homo Habilis đã được hai vợ chồng L.Leakey phát hiện năm 1960 ở thung lũng Ônđuvai (Tanzania). Thể tích hộp sọ là 650cm3 và có niên đại khoảng 1 triệu 850 ngàn năm. Năm 1976, Clark Howall công bố những phát hiện mới trong những năm 1967 – 1976 ở thung long Ômô (Etiôpia). Tại đây đã phát hiện những hóa thạch động vật có vú và người Homo Habilis có niên đại khoảng 2.500.000 năm. Đặc biệt, năm 1974, D.Johansơn đã tìm thấy ở thung lũng Afar (Etiôpia) một di cốt hóa thạch khá đầy đủ. Đó là một cô gái khoảng 25 – 30 tuổi, được đặt lên là Lucy và “tuổi” của cô được xác định bằng phương pháp Kali Acgông là 3,5 triệu năm. Lucy đã thường xuyên ở tư thế đứng thẳng. Cũng trong năm 1974, Mary Leakey đã phát hiện ở Lactôli (Tanzania) 42 răng người và một hàm hóa thạch với 9 chiếc răng nguyên vẹn. Niên đại của chúng được xác nhận là khoảng 3,7 triệu năm.

Điều đặc biệt quan trọng là ở một số nơi như ở Ômô và Rudolf (Bắc Kênia), người ta cũng đã tìm thấy những công cụ đá chôn cùng với hóa thạch Homo Habilis. Những phát hiện mới này không những đã đẩy niên đại của sự xuất hiện loài người lên khoảng 3.5 triệu đến 4 triệu năm cách ngày nay, mà còn làm nảy sinh nhiều giả thuyết mới về cái “nôi” của loài người và về động lực của quá trình tiến hóa từ vượn thành người. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn của những người Homo Érectus (người đứng thẳng). Địa điểm đầu tiên phát hiện ra loại người vượn này là Trinil ở miền Trung Java (Inđônôxia). Trong những năm 1891 – 1892, bác sĩ Dubois người Hà Lan đã khai quật được ở đây một răng hàm trên, nấp sọ và một xương đùi. Tới năm 1894, ông công bố chi tiết phát hiện của mình và đặt tên cho nó là Pithécanthropus Èrectus. Dựa vào các tài liệu đã công bố, tính đến năm 1986 ở đảo Java đã phát hiện được khoảng 21 mảnh sọ, 5 hàm dưới và 3 hàm trên hóa thạch của Homo Érectus. Dung tích sọ não của người Pithécanthropus đã vào khoảng từ 750 đến 975 cm3. Họ đã biết phát ra tiếng nói và biết chế tạo công cụ lao động. Một đại diện khác rất nổi tiếng của Homo Érectus là Sinanthropus (người vượn Bắc Kinh) mà hóa thạch răng của nó đã được phát hiện trong những năm 1921 – 1923, ở Chu Khẩu Điếm gần Bắc Kinh. Đến năm 1937, ở khu vực này, người ta đã phát hiện được khoảng 40 cá thể của loài người vượn này và cho tới gân đây vẫn có những phát hiện lẻ tẻ khác nữa. Người Sinanthropus có sọ dẹt, trán dốc thoải, u trán nổi rõ, dung tích sọ khá lớn (từ 850 đến 1220 cm3). Họ đã biết chế tạo công cụ bằng đá rất thô sơ, biết duy trì và sử dụng lửa tự nhiên. Di cốt và mảnh di cốt của người Homo Érectus được tìm thấy ở nhiều nơi khác như Ấn Độ, Kênia v.v… Vào những năm 1964 – 1965, các cán bộ khoa học Việt Nam đã phát hiện được một chiếc răng ở hang Thẩm Hai và 9 chiếc khác ở hang Thẩm Khuyên (Bình Gia, Lạng Sơn). Những chiếc răng này đều có niên đại trung kì Pléistocène và đều là răng của Homo Érectus.

Đến thời hậu kì Pléistocène đã xuất hiện một dạng người mới, gần với người hiện đại hơn. Di cốt hóa thạch tiêu biểu của dạng người này đã được tìm thấy lần đầu tiên vào năm 1956 ở một thung lũng nước Đức mà giới khoa học gọi là người Nêanđectan. Thân thể người Nêanđectan đã rất giống với người hiện đại, thể tích hộp sọ khá lớn – từ 1200 đến 1600cm3. Vì thế, khả năng lao động và ngôn ngữ của họ cũng phát triển hơn; Di cốt của dạng người Nêanđectan – cả của người lớn và trẻ con, còn được tìm thấy ở nhiều nơi khác như Anh, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, vùng Trung Á, Trung Quốc v.v… Đến khoảng 4 vạn năm trước đây, Người hiện đại hay Người tinh khôn (Homo Sapiens) đã ra đời. Homo Sapiens có cấu tạo cơ thể phát triển như người ngày nay. Các bộ phận cơ thể đã trở  nên hoàn thiện, hai bàn tay nhỏ, khéo léo, các ngón tay, nhất là ngón cái linh hoạt hơn, trán cao, xương hàm nhỏ và không còn nhô ra phía trước, não đặc biệt phát triển. Sự xuất hiện Homo Sapiens là bước nhảy vọt thứ hai sau bước nhảy vọt từ vượn thành người Homo Habilis. Di cốt của họ đã được tìm thấy ở hầu khắp các lục địa. Sự phát hiện các di cốt hóa thạch cùng với công cụ lao động của các dạng người nói trên không những đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng khoa học không thể chối cãi được về nguồn gốc động vật của loài người, mà còn giúp ta thấy rõ cả quá trình hình thành loài người với những niên đại ngày càng được xác định chính xác hơn.


 2. Thời kỳ tiền sử – cộng sản nguyên thủy

Lịch sử thời kỳ tiền sử hay còn gọi là thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thủy, kéo dài hàng triệu năm, là thời kỳ dài nhất trong lịch sử xã hội loài người. Đây là thời kỳ mà tất cả các dân tộc đều phải trải qua, đặt nền tảng cho tính cách và truyền thống của từng dân tộc, là thời “thơ ấu” của từng tộc người, từng dân tộc.

Cách ngày nay khoảng ba đến bốn triệu năm, một loài vượn đặc biệt đã chuyển biến thành người. Đây là một quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn: Đầu tiên từ loài Vượn đặc biệt chuyển biến thành Vượn – Người, yếu tố vượn còn nhiều hơn. Từ Vượn – Người tiến hóa thành Người – Vượn, yếu tố người đã nhiều hơn. Từ Người vượn tiến lên thành Người tinh khôn Và cuối cùng từ Người tinh khôn tiến lên thành Người hiện đại Homo sapiens. Với người Homo sapiens, quá trình vượn chuyển biến thành người đã hoàn thành. Người Homo sapiens trở thành ông tổ của bốn chủng tộc lớn trên thế giới ngày nay đó là: chủng tộc Môngôlôit (ở châu Á, da vàng, tóc đen, mắt đen), chủng tộc Ơrôpôít (ở châu Âu, da trắng, mắt, xanh tóc vàng hoặc bạch kim), chủng tộc Nêgrôít ở châu Phi (da đen, tóc đen xoăn) và chủng tộc Ôxtralôít ở châu Đại Dương (da hơi xám, tóc đen, mắt đen). Từ đại chủng người ta lại chia loài người thành tiểu chủng và loại hình nhân chủng là những cộng đồng người có đặc điểm bên ngoài giống nhau hơn nữa.

Bầy người nguyên thủy

Cộng đồng đầu tiên của xã hội loài người là các bầy người nguyên thủy, một bầy người khoảng từ 10 đến vài chục người. Giữa các bầy người không có mối quan hệ với nhau, đời sống hết sức thấp kém. Bầy chưa phải là xã hội loài người theo đúng nghĩa của nó, mới chỉ là giai đoạn manh nha những nhân tố của xã hội loài người, ở bầy người chưa có văn hóa, phong tục tập quán và tôn giáo. Hôn nhân được tiến hành trong bầy với nhau (tạp hôn). Công cụ chủ yếu thời kỳ này là đồ đá nhưng chưa được chế tác (đồ đá cũ).

Cộng đồng thị tộc

Trải qua hàng triệu năm phát triển, người nguyên thủy tiến lên một cộng đồng mới cao hơn là cộng đồng thị tộc. Cộng đồng là thị tộc người cố kết với nhau trên cơ sở cùng chung huyết thống, máu mủ ruột rà, là hạt nhân để sau này hình thành họ tộc. Với thị tộc, xã hội loài người thực sự bắt đầu.

a/ Thị tộc mẫu quyền: Thị tộc đầu tiên là thị tộc mẫu quyền, còn gọi là thị tộc mẫu hệ. Trong thị tộc mẫu quyền người phụ nữ nắm vai trò điều hành thị tộc. Hôn nhân thời kỳ này bắt buộc phải ngoại tộc hôn, nên con chỉ biết có mẹ và theo dòng họ mẹ. Thời kỳ này người nguyên thủy vẫn sử dụng công cụ đá đã được chế tác nhưng chưa tinh xảo lắm nên gọi là thời đại đồ đá giữa. Trong giai đoạn thị tộc mẫu quyền đã xuất hiện văn hóa, tôn giáo, phong tục tập quán, có một nền dân chủ công bằng mang tính chất nguyên thủy. Giữa các thị tộc đã mở rộng liên kết địa bàn kiếm ăn, hôn nhân với nhau, giúp đỡ nhau, do đó hình thành cộng đồng bộ lạc. Bộ lạc là sự liên kết hai hay nhiều thị tộc với nhau. Đứng đầu bộ lạc là tù trưởng do các thành viên bộ lạc bầu lên một cách dân chủ, công khai.

Thị tộc mẫu quyền là đỉnh cao nhất của xã hội nguyên thủy, trong đó không có tư hữu về tư liệu sản xuất, không có giai cấp nhà nước, pháp luật, không có chiến tranh. Các cuộc xung đột bộ lạc không phải là chiến tranh vì không nhằm mục đích chính trị mà chỉ vì lý do trả thù cho thành viên của mình bị hại mà thôi.

b/ Thị tộc phụ quyền: Kết thúc thời kỳ thị tộc mẫu quyền, xã hội nguyên thủy bước sang thời kỳ thị tộc phụ quyền. Nguyên nhân sự thay đổi này là do sự phát triển của công cụ sản xuất. Người nguyên thủy trong khi lao động sản xuất không ngừng có tham vọng nâng cao năng suất lao động. Để đạt được mục đích này họ đã luôn luôn tìm cách cải tiến, đổi mới công cụ sản xuất. Họ đã phát minh ra cung tên. Sự kiện này được Ph.Ăngghen đánh giá có tầm quan trọng như phát minh ra súng thời kỳ cận đại. Người nguyên thủy đã sử dụng công cụ đồ đá mới, đồ đá được chế tác đẹp đẽ đúng với hình dáng, chức năng của công cụ, sử dụng có hiệu quả hơn. Kim loại đồng, sắt được người nguyên thủy tìm thấy khoảng 400 năm trước công nguyên. Công cụ sản xuất thay đổi làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới như săn bắn. chăn nuôi, trồng trọt, đánh cá. Thủ công nghiệp ra đời sản xuất vải vóc, đồ gốm, công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức, V.V.. Tất cả những ngành nghề mới đó đòi hỏi người đàn ông phải đóng vai trò chính trong sản xuất, phân công lao động.

Trong xã hội phụ quyền xuất hiện những gia đình lớn nhiều vợ, nhiều chồng chung sống với nhau, con sinh ra phải mang dòng họ cha. Trong thị tộc phụ hệ, quyền uy gia trưởng của người đàn ông được xác lập.

c/ Liên minh bộ lạc Ngoài cộng đồng thị tộc và bộ lạc, xã hội bấy giờ có thêm cộng đồng Liên minh bộ lạc, kết quả hợp nhất giữa hai hay nhiều bộ lạc với nhau. Đứng đầu Liên minh bộ lạc là Hội đồng Liên minh bộ lạc mà thành viên là các tù trưởng bộ lạc. Tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán phát triển cao hơn một bước so với thời kỳ mẫu quyền. Song, xã hội vẫn chưa có chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước và pháp luật.

Xuất hiện tư hữu

Tuy nhiên, thời kỳ thị tộc phụ quyền xã hội nguyên thủy bước sang giai đoạn tan rã. Với công cụ đá mới tinh xảo và công cụ kim loại đã nâng cao năng suất lao động làm ra sản phẩm dư thừa, điều này dẫn đến sự phá vỡ tính cố kết của cộng đồng thị tộc vốn dĩ dựa trên cơ sở nâng suất lao động thấp. Ngày xưa, khi đời sống thấp kém người ta phải cố kết với nhau để tồn tại, đến khi năng suất lao động cao thì chỉ cần gia đình một vợ một chồng cũng có được của cải dư thừa. Vậy là xã hội xuất hiện gia đình một vợ một chồng và kết quả của sự chuyển biến này đã ra đời chế độ tư hữu vì các gia đình một vợ một chồng chiếm đoạt ruộng đất, của cải của công xã làm của riêng đã đưa xã hội đến sự phân hóa giàu nghèo và xuất hiện giai cấp. Đại đa số nông dân công xã chiếm được ít ruộng đất trở thành dân nghèo. Các “quan chức” nguyên thủy như tộc trưởng, tù trưởng, thủ lĩnh liên minh bộ lạc, thủ lĩnh quân sự do có quyền thế nên chiếm đoạt được nhiều ruộng đất trở nên giàu có. Sự giàu có càng được tăng cường khi họ tiến hành chiến tranh với các bộ lạc khác cướp bóc của cải đất đai của các bộ lạc bại trận, biến cư dân của bộ lạc bại trận thành giai cấp nô lệ.

Công xã nguyên thủy tan rã và loài người bước vào xã hội có chế độ tư hữu, có giai cấp và nhà nước. Loài người chấm dứt xã hội dã man theo cách nói của Ph.Ăngghen để bước sang xã hội văn minh. Trong xã hội có giai cấp, xuất hiện mâu thuẫn giai cấp, dẫn tới xung đột giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đấu tranh của giai cấp nghèo chống lại giai cấp giàu có, điều này đã đe dọa đến quyền lợi của giai cấp chủ nô. Để đổ phó lại, chủ nô đã phát minh ra một công cụ “huyền diệu” giúp chúng dù là thiểu số trong xã hội vẫn có thể thống trị, đàn áp, bóc lột được đại đa số dân cư. Công cụ đó chính là bộ máy nhà nước. Vậy nhà nước là công cụ của giai cấp này để thống trị, áp bức giai cấp khác, cho nên nhà nước mang bản chất giai cấp, phục vụ cho một giai cấp nhất định. Trong xã hội có áp bức, bóc lột không thể có nhà nước toàn dân. Nhưng trong khi phục vụ cho giai cấp mình, nhà nước buộc phải phục vụ toàn xã hội như tổ chức phát triển kinh tế, văn hóa. Xây dựng các công trình công cộng, ban hành pháp luật để bảo đảm an ninh cho toàn xã hội, do đó nhà nước còn mang tính chất xã hội. Nhà nước bao giờ cũng có hai đặc trưng cơ bản, thứ nhất là hình thành những cơ quan quyền lực công cộng bao gồm bộ máy quan liêu hành chính, trí thức tăng lữ và cơ quan sức mạnh. Đặc trưng thứ hai là nhà nước cai trị lãnh thổ theo khu vực hành chính. Trong thời kỳ cận hiện đại, ngoài cấu trúc lãnh thể đơn nhất còn có thêm cấu trúc lãnh thổ liên bang. Nhà nước bao giờ cũng có hai chức năng đối nội và đối ngoại. Khi mà xã hội cộng sản nguyên thủy kết thúc thì xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người là xã hội chiếm hữu nô lệ.


3. Xã hội chiếm hữu nô lệ

Xã hội chiếm hữu nô lệ xuất hiện ở phương Đông sớm nhất, khoảng 3000 năm trước công nguyên ở các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, ở châu Âu xã hội này xuất hiện muộn hơn. Xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, ở La Mã vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên và kết thúc vào thế kỷ thứ V sau công nguyên khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ.

Các giai cấp chính của xã hội chiếm hữu nô lệ

Xã hội chiếm hữu nô lệ chia thành ba giai cấp chính:

- Thứ nhất, giai cấp chủ nô, quý tộc là giai cấp thống trị áp bức bóc lột vì chúng chiếm giữ được tư liệu sản xuất.

- Thứ hai, giai cấp nông dân công xã nông thôn và tầng lớp thị dân thành thị, ở Hy Lạp, La Mã tầng lớp này được gọi là bình dân. Nông dân và, thị dân có tài sản, có gia đình riêng nhưng bị nhà nước chủ nô bóc lột, khi phá sản có thể rơi xuống địa vị nô lệ.

- Thứ ba, giai cấp nô lệ, nguồn chủ yếu từ các bộ lạc bại trận trong chiến tranh, không cùng huyết thống với giai cấp chủ nô, bị kẻ chiến thắng tước đoạt tài sản, ruộng đất, còn bản thân bị biến thành nô lệ. Theo pháp luật của nhà nước chủ nô, nô lệ không phải là con người, chỉ là tài sản đặc biệt của chủ nô, tài sản biết nói. Chủ nô có thể giết, đánh đập đến tàn phế hoặc đem nô lệ ra chợ mua bán, đổi chác. Một cuốn sách cổ của Trung Quốc có ghi rằng, một nô lệ khỏe mạnh đổi được hai con ngựa tốt. Nô lệ bị cưỡng bức lao động khổ sai nặng nhọc không kể giờ giấc, họ không được hưởng phần nào kết quả lao động của mình.

Phân chia đẳng cấp

Ngoài phân chia xã hội thành giai cấp, kẻ thống trị còn phân chia xã hội thành các đẳng cấp. Giai cấp chủ nô thuộc đẳng cấp quý tộc cao quý, nông dân thị dân thuộc đẳng cấp dưới, nô lệ chỉ là tài sản của chủ nô nên không không được xếp vào đẳng cấp nào. Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, khái niệm nhân dân không có nô lệ. Sự phân chia xã hội thành đẳng cấp nặng nề nhất là Ấn Độ (chế độ chủng tính Varna). Sự phân chia xã hội thành đẳng cấp theo giải thích của giai cấp thống trị thì đó là theo ý muốn của thần thánh vĩnh viễn không thay đổi được. Thực ra đẳng cấp được phân chia để nhằm củng cố hơn nữa địa vị của giai cấp thống trị, nó cũng bắt nguồn như nguồn gốc giai cấp.

Các mô hình nhà nước thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Trong xã hội nô lệ, khi cộng đồng thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống tan rã thì ở Hy Lạp, La Mã hình thành cộng đồng bộ tộc, vì nhà nước cai trị dân cư theo khu vực hành chính và thêm nhiều yếu tố khác làm xáo trộn dân cư. Bộ tộc là cộng đồng người có sự thống nhất ban đầu về kinh tế, văn hóa và lãnh thổ, một cộng đồng cao hơn cộng đồng thị tộc. 

Nhưng ở châu Á, khi công xã nguyên thủy tan rã, hình thành nhà nước đầu tiên thì dân tộc quốc gia cũng ra đời. Trong nhiều tác phẩm kinh điển của mình, chính C.Mác và Ph.Ăngghen ngoài luận chứng về một dân tộc quốc gia tư sản ở châu Âu thì các ông cũng cho rằng, có một dân tộc tiền tư bản và thời điểm ra đời dân tộc này khi mà nhà nước đầu tiên ra đời, khi mà công xã nguyên thủy tan rã.

Đặc trưng chung của nhà nước là cai trị dân cư theo khu vực hành chính và hình thành nên bộ máy quyền lực công cộng, có hai chức năng chính là đối nội và đối ngoại. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử ra đời khác nhau mà hình thức nhà nước châu Á và Hy Lạp – La Mã khác nhau. Ở các nước phương Đông, thiết chế chính trị của nhà nước chiếm hữu nô lệ là quân chủ chuyên chế tập quyền, trong khi đó Hy Lạp lại thiết lập nhà nước Cộng hòa dân chủ chủ nô, ở La Mã là nhà nước Cộng hòa quý tộc chủ nô. Trong thiết chế quân chủ chuyên chế tập quyền chỉ có nhà vua nắm quyền lực, ngai vàng là do kế vị và nắm quyền lực suốt đời. Trong thiết chế cộng hòa, quyền lực trong tay một tập thể, do một tập thể rộng lớn hơn bầu ra và nắm quyền có nhiệm kỳ. Đó là sự khác nhau căn bản giữa thiết chế cộng hòa và quân chủ. Dù thiết chế chính trị có khác nhau nhưng nhà nước nào cũng phải đầy đủ ba bộ phận cơ bản: bộ máy hành chính quan liêu đông đúc; đội ngũ trí thức, tăng lữ; những cơ quan sức mạnh gồm quân đội cảnh sát… 

Nhà nước chủ nô đã đóng vai trò đắc lực phục vụ giai cấp và phục vụ xã hội. Vì thế, trong xã hội chiếm hữu nô lệ lực lượng sản xuất phát triển, văn hóa vật chất và phi vật chất đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Các quốc gia cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã trở thành những trung tâm của nền văn minh thế giới cổ đại, những nền văn minh này đã đặt nền tảng cho nền văn hóa về sau của các dân tộc này và ảnh hưởng lớn đến các dân tộc khác.

Chiến tranh thuộc địa

Khi xã hội có giai cấp và nhà nước thì chiến tranh bây giờ mới đúng nghĩa là biện pháp vũ lực phục vụ cho công cuộc bành trướng quyền lực, mở rộng lãnh thổ, tức là chiến tranh đã phục vụ cho mục đích chính trị. Giai cấp thống trị chủ nô tham lam không chỉ bóc lột cư dân trong lãnh thổ của mình mà còn tiến hành các cuộc chiến tranh cướp đoạt đất đai xây dựng nên những đế quốc rộng lớn, thống trị, bóc lột các dân tộc khác. Đó là những cuộc chiến tranh của các Pharaông Ai Cập xâm chiếm Cận Đông, Bắc Phi; chiến tranh của vương quốc Babylon chinh phục Lưỡng Hà; chiến tranh của đế quốc Ba Tư chinh phục Tiểu Á, Cận Đông; của đế quốc Maxêđônia xâm lược khu vực Địa Trung Hải và phương Đông; của Nhà nước La Mã để xây dựng nên một đế quốc rộng lớn từ Tây Âu đến Bắc Phi.

Xu hướng phân liệt và thống nhất trong một quốc gia cũng dẫn tới những cuộc chiến tranh tương tàn trong nội bộ. Nội chiến trong quốc gia cổ Ấn Độ giữa các tiểu vương quốc trong nhiều giai đoạn lịch sử. Cục diện Xuân thu Chiến quốc ở Trung Quốc suốt gần 500 năm trời để tranh giành quyền bá chủ gây nên núi xương sông máu. Nội chiến ở Hy Lạp cổ đại giữa các thành bang do Aten đứng đầụ với các thành bang do Xpác đứng đầu để tranh giành quyền lợi chính trị và kinh tế ở bán đảo. Các cuộc nội chiến đó có thể đưa đất nước tới thống nhất nhưng cũng có thể làm cho quốc gia suy yếu tạo điều kiện cho các thế lực bên ngoài nhòm ngó xâm lược.

Đấu tranh giai cấp

Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô lệ là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô là dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, nô lệ khởi nghĩa chống lại nhà nựớc và giai cấp chủ nô. Khởi nghĩa của Xpactacuxơ lãnh đạo vào thế kỷ thứ I trước công nguyên đã làm rung chuyển đế quốc La Mã, đẩy chế độ đó tới không thể cai trị như cũ được nữa. Đấu tranh của nô lệ chống chủ nô là một trong những động lực góp phần giải thể chế độ đó để bước sang một hình thái kinh tế xã hội cao hơn – hình thái kinh tế xã hội phong kiến. Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ không phải bắt buộc đối với tất cả các dân tộc, nhiều dân tộc đã bỏ qua chế độ này, từ công xã nguyên thủy thẳng tiến lên chế độ phong kiến. Vì khi công xã nguyên thủy của quốc gia đó tan rã thì các quốc gia chung quanh đã hình thành và phát triển chế độ phong kiến như lịch sử của Mông Cổ, Nhật Bản, Nga, của các tộc người Giécmanh, …


4. Thời kỳ xã hội phong kiến (476-1640)

Chế độ phong kiến có nghĩa là một chế độ được hình thành nên bởi sự phân phong ruộng đất. Quá trình phong kiến hóa diễn ra và được xác lập sớm nhất ở Trung Quốc. Ngay từ thời Chiến quốc khi sáu nước Hàn, Sở, Ngụy, Yên, Tề vẫn duy trì xã hội nô lệ thì nước Tần vì muốn hùng mạnh đã đi theo luận thuyết cải cách của Thương Ưởng giải thể chế độ nô lệ, thực hiện chế độ phong kiến tiến bộ hơn. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm nên sức mạnh của nước Tần đánh bại sáu nước, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước công nguyên. Kết thúc cục diện chiến quốc, lập ra nhà Tần thống trị trên toàn cõi Trung Quốc. Với nhà Tần, chế độ phong kiến Trung Quốc bắt đầu.

Trước và sau đầu công nguyên các nước châu Á đều lần lượt bước sang xã hội phong kiến. Ở Tây Âu, xã hội phong kiến được xác lập sau khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476.

Kinh tế xã hội phong kiến

Xã hội phong kiến có một nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc do kết hợp với thủ công nghiệp đóng kín trong các điền trang thái ấp. Trong các lãnh địa, trong các làng xã công xã nông thôn. Quý tộc phong kiến khi được phân phong ruộng đất đã thành lập nên những điền trang thái ấp (ở châu Á) hoặc lãnh địa (ở Tây Âu), phát canh ruộng đất cho nông dân cư cày cấy và thu tô. Ngoài tô cày cấy ruộng đất, người nông dân còn phải đi làm lao dịch (tô lao dịch) và nộp nhiều khoản sưu thuế khác cho quý tộc phong kiến và cho nhà nước phong kiến. Bóc lột địa tô là đặc trưng của chế độ phong kiến, Các Mác gọi kiểu bóc lột này là “cưỡng bức siêu kinh tế”. Nông dân là đối tượng bóc lột chính của quý tộc và của nhà nước phong kiến. Quý tộc phong kiến là giai cấp thống trị áp bức, bóc lột. Trong các lãnh địa của Tây Âu, người nông dân bị các lãnh chúa nông nô hóa để áp bức bóc lột. Trong các điền trang thái ấp ở châu Á, nông dân bị biến thành tá điền trở thành giai cấp bị áp bức, bóc lột. So với hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ thì hình thái kinh tế xã hội phong kiến tiến bộ hơn. Trước hết, người nông dân được pháp luật nhà nước thừa nhận là con người, họ có gia đình riêng, được tự do về thân thể, có một ít tài sản, ruộng đất. Sau khi đã nộp tô cho, chủ đất (50% hoặc nhiều hơn), phần sản phẩm còn lại họ được hưởng. Như vậy, về kinh tế người nông dân được hưởng thành quả lao động của mình.

Chính trị và pháp luật

Thiết chế chính trị nhà nước phong kiến châu Á cũng như Tây Âu đều là quân chủ chuyên chế tập quyền, ở thiết chế này, vua là người nắm tất cả ba quyền lực cơ bản của nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vua còn là tổng chỉ huy quân đội. Vua cầm quyền suốt đời từ khi lên ngôi cho đến lúc chết, ngai vàng có tính chất thế tập cha truyền con nối. Cũng như chế độ nô lệ phương Đông, vua của các nhà nước phong kiến quân chủ châu Á cũng được thần thánh hóa như là hiện thân, như là đại diện cho thần thánh hoặc là con trời xuống cai trị thần dân. Ở Tây Âu, vua dựa vào Thiên chúa giáo để làm công cụ nô dịch tinh thần đối với nhân dân. Nhà nước phong kiến quân chủ hoàn thiện hơn nhà nước quân chủ nô lệ, bộ máy nhà nước phức tạp hơn, pháp luật thành văn nhiều hơn, các quy phạm cụ thể hơn và điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội phức tạp.

Đặc biệt, pháp luật phong kiến Tây Âu thời hậu kỳ trung đại đã có nhiều chế định điều chỉnh mối quan hệ hàng hóa khi mà chủ nghĩa tư bản ra đời và ngày càng lớn mạnh trong lòng xã hội phong kiến. Tuy nhiên, pháp luật phong kiến công khai bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho đẳng cấp quý tộc phong kiến. Cũng như pháp luật nô lệ pháp luật phong kiến công khai thừa nhận bất bình đẳng trong xét xử, trong tố tụng mà phần ưu đãi thuộc đặc quyền của giai cấp thống trị. Trong thời phong kiến, ngoài những cuộc nội chiến giữa các thế lực quân phiệt để tranh giành quyền lực trong một nước còn có những cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc mang tầm cỡ thế giới để mở rộng lãnh thổ thành lập nên những đế quốc rộng lớn.

Mâu thuẫn giai cấp

Trong xã hội phong kiến, mâu thuẫn giữa nông dân với giai cấp quý tộc phong kiến là mâu thuẫn cơ bản. Sự vận động của mâu thuẫn này dẫn tới những cuộc khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân rộng lớn. Khởi nghĩa nông dân, chiến tranh nông dân làm cho các triều đại rung chuyển tận gốc rễ và sụp đổ, một triều đại mới được thay thế. Đấu tranh của nông dân chống phong kiến là động lực phát triển của lịch sử thời kỳ trung đại. Tuy nhiên, giai cấp nông dân chỉ có sức đập phá xã hội cũ mà không có khả năng xây dựng được một xã hội mới tiến bộ hơn với xã hội phong kiến, vì họ không đại diện cho Lực lượng sản xuất mới nên không phải là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Mọi cuộc đấu tranh của nông dân đều thất bại về mục tiêu chính trị. Có một vài cuộc khởi nghĩa nông dân lật đổ được triều đại cũ nhưng lãnh tụ của họ lại bước lên ngai vàng trở thành phong kiến, thiết lập một triều đại mới và lại quay lại áp bức bóc lột nông dân. Về sau này giai cấp nông dân chỉ có thể chiến đấu dưới lá cờ của giai cấp tư sản hoặc của giai cấp công nhân mới thực hiện được khát vọng dân chủ và ruộng đất của mình.


5. Xã hội tư bản chủ nghĩa (1640-1917)

Chế độ phong kiến thế giới suy tàn vào thế kỷ thứ XV- XVI. Năm 1506-1609, cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thắng lợi lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha, thành lập nhà nước tư sản đầu tiên trên thế giới. Cách mạng Hà Lan đã báo hiệu một thời đại mới, thời đại của các cuộc cách mạng tư sản. Năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi đã mở đầu cho thời kỳ lịch sử cận đại toàn thế giới, tức là mở đầu cho một thời đại mới mà nội dung là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

Chủ nghĩa tư bản trỗi dậy

Một thời đại mới được mở ra, trong đó diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới giữa phong kiến và tư sản xem ai thắng ai. Thời đại giai cấp tư sản lật đổ chính quyền phong kiến giành lấy quyền thống trị chính trị, thiết lập những nhà nước tư sản mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Cuối cùng vào những năm 80 của thế kỷ XIX chế độ phong kiến bị lật đổ ở châu Âu, Bắc Mỹ, ở Nhật Bản (châu Á), chủ nghĩa tư bản được xác lập trên phạm vi rộng lớn, trở thành một hệ thống chính trị kinh tế trên thế giới. Các cường quốc tư bản phương Tây đã tiến hành xâm lược các nước Á, Phi, thiết lập nên hệ thống thuộc địa rộng lớn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Toàn thế giới bị lôi cuốn vào quỹ đạo kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản.

Tư bản là gì?

Tư bản “tức là chế độ tư hữu tư liệu sản xuất vốn có từ xã hội nô lệ, phong kiến bây giờ được đẩy đến cao độ. Quyền tư hữu tài sản dưới chế độ tư bản chủ nghĩa được pháp luật và hiến pháp tư sản xác nhận là một quyền tối thiêng liêng bất khả xâm phạm.

So sánh chủ nghĩa tư bản với chế độ nô lệ và phong kiến

Tất cả các đạo luật của nhà nước đều không được làm tổn hại đến quyền này. Thế nhưng nét khác biệt của chủ nghĩa tư bản với chế độ nô lệ và phong kiến là ở bản chất kinh tế và hình thức bóc lột. - Chế độ nô lệ dựa trên sự cưỡng bức lao động đối với nô lệ để bóc lột.

- Chế độ phong kiến dựa trên nền kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc, địa phương, cục bộ, đóng kín trong các lãnh địa, trong các điền trang thái ấp để bóc lột kiểu siêu kinh tế, bóc lột địa tô.

- Ngược lại, kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên sự phát triển công thương nghiệp. Các sản phẩm thủ công nghiệp sau này là công nghiệp cơ giới, kể cả sản phẩm nông nghiệp đều trở thành hàng hóa mua bán, luân chuyển trên toàn quốc, trên toàn khu vực, châu lục và thậm chí trên toàn thế giới.

Kinh tế hàng hóa thị trường

Chủ nghĩa tư bản đã nối kết toàn quốc gia, các khu vực, các châu lục và thế giới thành một thị trường thống nhất. Thực ra, chủ nghĩa tư bản không phải là tác giả của nền kinh tế hàng hóa. Bản quyền của nó thuộc về chế độ nô lệ Hy Lạp – La Mã cổ đại và của Nhà nước Cáctagiơ (Bắc Phi), ở những quốc gia này chế độ chính trị là chiếm hữu nô lệ nhưng có nền kinh tế hàng hóa thị trường. Như vậy, kinh tế hàng hóa thị trường là sản phẩm của lịch sử, của xã hội loài người do nhu cầu khách quan của cuộc sống phải trao đổi mua bán. Đến chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa thị trường được đẩy sang một giai đoạn mới cao hơn rộng lớn hơn. Kinh tế hàng hóa thị trường bây giờ mới đúng bản chất thực sự của nó.

Cũng không thể đánh đồng kinh tế thương mại trong xã hội nô lệ Hy Lạp – La Mã, Cáctagiơ với chủ nghĩa tư bản cận, hiện đại, không chỉ ở nhiều yếu tố mà căn bản là ở cách thức bóc lột.

- Chế độ chiếm hữu nô lệ dù là nông nghiệp ở châu Á hay công, thương nghiệp ở Hy Lạp – La Mã, Cáctagiơ đều dựa trên sự cưỡng bức lao động khổ sai đối với giai cấp nô lệ.

- Cách thức bóc lột của chế độ phong kiến dù ở châu Âu hay châu Á đều là sự cưỡng bức siêu kinh tế, bóc lột tô tức đối với người nông dân.

- Còn cách thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản hoàn toàn khác, dựa trên kiểu bóc lột giá trị thặng dư, bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, về cách thức bóc lột này, Các Mác đã vạch ra một cách đầy đủ, khoa học trong tác phẩm vĩ đại của ông: bộ “Tư bản”.

Các giai cấp của xã hội tư bản chủ nghĩa

Xã hội tư bản chủ nghĩa được chia làm hai giai cấp chính là tư sản và công nhân (vô sản). Tư sản là giai cấp thống trị áp bức, bóc lột. Tư sản bao gồm nhiều tầng lớp: tư sản công nghiệp, thương nghiệp, ngân hàng. Giai cấp này có được địa vị áp bức, bóc lột thống trị nhờ nắm giữ được các tư liệu sản xuất như ruộng đất, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp, ngân hàng và các ngành kinh tế quan trọng khác của đất nước.

Công nhân là giai cấp bị áp bức, bóc lột. Nguồn gốc của giai cấp công nhân từ thợ thủ công trong các công xưởng thủ công, thị dân, nông dân phá sản, có sức lao động nhưng không có tư liệu sản xuất đành phải vào xí nghiệp hầm mỏ, nhà máy bán sức lao động cho nhà tư bản để nhận lương nuôi sống gia đình. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, bên cạnh hai giai cấp chính là giai cấp công nhân và tư sản còn tồn tại nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp khác như nông dân thị dân, quý tộc phong kiến (nếu như cách mạng tư sản ở nước đó không triệt để), trí thức tư sản.

Hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản

Không có tư liệu sản xuất nên giai cấp công nhân còn được gọi là giai cấp vô sản. Họ bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, có nghĩa là khi người công nhân lao động 10 giờ một ngày, tư bản chỉ trả lại tiền công cho họ 3 giờ, nhà tư bản chiếm đoạt 7 giờ công, trừ chi phí máy móc và nguyên vật liệu mất 3 giờ, nhà tư bản lãi được 4 giờ quy bằng tiền, 4 giờ tiền lãi đó chính là giá trị thặng dư mà tư bản bòn rút được ở sức lao động của người công nhân. Trên thực tế công nhân châu Âu thời kỳ cận đại phải lao động từ 16 đến 18 giờ trong ngày với đồng lương rẻ mạt. Ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, chủ nghĩa tư bản kết hợp kiểu bóc lột tư bản với kiểu bóc lột phong kiến và kiểu bóc lột nô lệ đối với công nhân để thu được nhiều lợi nhuận. Lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu nhất chi phối mọi hoạt động kinh tế của chủ nghĩa tư bản.

Đấu tranh giai cấp

Chủ nghĩa tư bản không từ một thủ đoạn áp bức, bóc lột nào kể cả chiến tranh và bạo lực vì mục đích lợi nhuận. Vì thế, trong xã hội tư bản mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với giai cấp công nhân dẫn tới xung đột đấu tranh giai cấp. Giai cấp công nhân đấu tranh chống chính phủ tư sản, chống chủ nghĩa tư bản là một trong những nội dung chính của xã hội tư bản. Nếu như giai cấp nô lệ hay nông nô vùng dậy chỉ với một hình thức đấu tranh bạo động khởi nghĩa vũ trang thì giai cấp vô sản cận, hiện đại có thêm một hình thức đấu tranh mới mà chỉ có ở giai cấp này mới có là bãi công, tổng bãi công và đỉnh cao nhất là chuyển từ tổng bãi công thành khởi nghĩa vũ trang lật đổ chính quyền tư sản.

Đấu tranh của giai cấp công nhân chia thành hai thời kỳ, thời kỳ tự phát và tự giác.

Thời kỳ tự phát

Thời kỳ tự phát, công nhân đấu tranh mới dừng ở mức đòi quyền lợi kinh tế, đập phá máy móc, chưa hiểu được sứ mệnh lịch sử của mình là phải đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới để lật đổ chủ nghĩa tư bản. Xây dựng một xã hội mới không có người áp bức, bóc lột người – Xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Thời kỳ tự giác

Giai đoạn thứ hai là thời kỳ đấu tranh tự giác. Trong giai đoạn này, ngoài đấu tranh kinh tế giai cấp công nhân tiến lên đấu tranh chinh trị, đoàn kết đấu tranh với công nhân trong toàn quốc, với công nhân trên toàn thế giới và hiểu được sứ mệnh lịch sử của mình. Thời kỳ tự giác của công nhân thế giới bắt đầu từ những năm 40 của thế kỷ XIX khi mà Các Mác và Ph.Ăngghen công bố bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nêu lên cương lĩnh đấu tranh của giai cấp công nhân. Khi mà giai cấp công nhân thừa nhận chủ nghĩa Mác là tư tưởng chính trị, là thế giới quan và phương pháp luận của mình. Khi công nhân các nước thành lập những tổ chức nghề nghiệp của mình. Khi các đảng xã hội, đảng cộng sản ra đời với sự dìu dắt của hai lãnh tụ, hai người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân: C.Mác và Ph.Ảngghen.

Như đã nói, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, bên cạnh hai giai cấp chính là giai cấp công nhân và tư sản còn tồn tại nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp khác như nông dân thị dân, quý tộc phong kiến (nếu như cách mạng tư sản ở nước đó không triệt để), trí thức tư sản. Nông dân, thị dân cũng là đối tượng bóc lột của nhà nước tư sản nên họ là đồng minh của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản.

Bộ máy nhà nước tư bản

Sau khi làm cách mạng lật đổ phong kiến lên nắm chính quyền, giai cấp tư sản thiết lập nhà nước tư sản để xây dựng một xã hội khác xã hội phong kiến. Cách mạng tư bản Anh (1640-1687) đã thành lập thiết chế quân chủ nghị viện. Trong thời kỳ cận đại, đây là mô hình của phần lớn nhà nước tư sản châu Âu. Tư sản còn thiết lập thiết chế cộng hòa tổng thống, cộng hòa đại nghị, cộng hòa lưỡng thể (vừa mang tính chất cộng hòa đại nghị vừa mang tính chất cộng hòa tổng thống, thậm chí có cả thiết chế quân chủ (nền quân chủ tư sản). Chọ đến nay, thiết chế cộng hòa chiếm đa số các nước so với quân chủ và quân chủ nghị viện. Giai cấp tư sản đã xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn nhiều so với nhà nước nô lệ và phong kiến.

Các loại thiết chế

- Ở các thiết chế cộng hòa và quân chủ nghị viện đã thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập ba cơ quan nắm ba quyền lực: quốc hội nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp, tòa án và viện công tố nắm quyền tư pháp và giám sát việc thi hành pháp luật. Ở cơ quan chính phủ chia thành các bộ để điều hành công việc chuyên ngành. Giám sát công việc và chi tiêu tài chính của các bộ ngoài những cơ quan pháp luật còn có các ủy ban của quốc hội và cá ủy ban của bộ đó.

- Ở các thiết chế cộng hòa và quân chủ nghị viện đã thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập ba cơ quan nắm ba quyền lực: quốc hội nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp, tòa án và viện công tố nắm quyền tư pháp và giám sát việc thi hành pháp luật.

- Ở cơ quan chính phủ chia thành các bộ để điều hành công việc chuyên ngành. Giám sát công việc và chi tiêu tài chính của các bộ ngoài những cơ quan pháp luật còn có các ủy ban của quốc hội và cá ủy ban của bộ đó.

- Ở thiết chế quân chủ nghị viện, vua là người đứng đầu nhà nước nhưng ít quyền lực, chỉ là người đại diện cho tinh thần dân tộc, hợp pháp hóa những hoạt động của nhà nước. Tuy nhiên, vua và cả hoàng gia có nhiều quyền lợi, ngôi vua là thế tập cha truyền con nối. Quyền lực thực sự nằm trong tay chính phủ do thủ tướng đứng đầu.

- Ở thiết chế cộng hòa đại nghị, tổng thống do nhân dân bầu cử (có thể do quốc hội bầu cử), có nhiệm kỳ nhất định, đứng đầu nhà nước nhưng ít quyền lực. Quyền lực thực sự của thiết chế này nằm trong tay chính phủ do thủ tướng đứng đầu.

- Ở các nước cộng hòa lưỡng thể, tổng thống là nguyên thủ quốc gia nhưng ông cùng thủ tướng lãnh đạo chính phủ. Tổng thống chủ tọa hội đồng chính phủ vạch ra chính sách, thủ tướng có nhiệm vụ lãnh đạo chính phủ thực hiện.

- Ở thiết chế cộng hòa tổng thống, tổng thống đứng đầu nhà nước cũng là người đứng đầu chính phủ có toàn quyền hành pháp. Tổng thống ở thiết chế này còn tác động đến quá trình lập pháp nên quyền lực rất to lớn.

- Ở thiết chế quân chủ (tư sản), vua nắm tất cả ba quyền lực cơ bản của nhà nước. Vua đứng đầu nhà nước, đứng đầu quốc hội và chính phủ.

Có các hình thức nhà nước khác nhau như vậy là do hoàn cảnh cụ thể của từng nước, do tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản, phong kiến và quần chúng nhân dân. Thiết chế quân chủ hoặc quân chủ nghị viện là kết quả của một cuộc cách mạng tư sản không triệt để. Giai cấp tư sản do lo sợ sức mạnh của quần chúng nhân dân sau khi nắm được chính quyền đã phản bội lại nhân dân để bắt tay liên minh với phong kiến kẻ thù của cách mạng tư sản. Ngược lại, thiết chế cộng hòa là kết quả của một cuộc cách mạng tư sản triệt để loại trừ quý tộc phong kiến khỏi bộ máy nhà nước, thủ tiêu tận gốc quyền sở hữu phong kiến về ruộng đất, tức là thủ tiêu quý tộc phong kiến với tư cách là một giai cấp.

Cùng với việc hoàn thiện thiết lập bộ máy nhà nước, giai cấp tư sản ra sức đẩy mạnh hoạt động trong lĩnh vực lập pháp. Cũng như xây dựng nhà nước, hoạt động lập pháp của chế độ tư bản phát triển và mở rộng vượt xa số lượng, chất lượng, kỹ thuật lập pháp dưới thời phong kiến.

Hiến pháp ra đời, luật pháp phát triển

Hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước ra đời làm nền tảng cho toàn bộ các văn bản pháp luật sau này. Pháp luật tư sản đã chia thành các ngành luật ứng với các mối quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh như luật hình sự, dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự… Pháp luật tư sản tiến bộ hơn pháp luật phong kiến không chỉ ở kỹ thuật lập pháp, ở phát triển các ngành luật mà còn ở nội dung pháp luật quy định:

- Sự bình đẳng của công dân trước pháp luật.

- Thừa nhận quyền của phụ nữ về chính trị và kinh tế,

- Ghi nhận quyền tự do của con người và quyền của công dân

- Trong đó nhấn mạnh quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của quyền tư hữu tài sản.

Dù là tiến bộ hơn chế độ nô lệ và phong kiến, nhà nước và pháp luật tư sản vẫn mang đậm bản chất giai cấp, là công cụ phục vụ đắc lực bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản, sẵn sàng đàn áp những giai cấp khác để bảo vệ trật tự tư sản.

Tuy nhiên, nhà nước và pháp luật tư sản còn mang tính chất xã hội. Trong khi phục vụ cho tư sản, nó buộc phải phục vụ cho toàn xã hội, thực hiện chức năng quản lý xã hội, đưa xã hội vào khuôn khổ pháp luật tuân theo ý chí của giai cấp thống trị.

Hai cường quốc có trình độ phát triển ở châu Âu mà pháp luật ảnh hưởng đến pháp luật của hầu khắp thế giới tư bản là Anh và Pháp. Một loạt các nước chịu ảnh hưởng pháp luật của nước Pháp, tức là chịu ảnh hưởng pháp luật La Mã cổ đại, một loạt các nước chịu ảnh hưởng pháp luật của nước Anh vốn là những tiền lệ pháp luật Ăngglôxắcxông. Đến mức các nhà luật học tư sản chia luật pháp tư sản thành hai hệ thống: hệ thống pháp luật nước Pháp và hệ thống pháp luật Anh-Mỹ.

Cách mạng kinh tế, công nghiệp.

Không chỉ thực hiện cuộc cách mạng chính trị đoạt chính quyền lên nắm quyền thống trị, giai cấp tư sản do nhu cầu đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất lao động đã tiến hành cuộc cách mạng kinh tế, cách mạng công nghiệp. Đưa lao động thủ công sang lao động máy móc cơ mà trọng tâm là việc phát minh ra máy hơi nước của Jêm Oắt.

Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh vào cuối thế kỷ thứ XVIII và đến cuối thế kỷ thứ XIX đã lan khắp các cường quốc châu Âu, Bắc Mỹ. Công nghiệp hóa đã đưa loài người từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp, tạo nên một lực lượng sản xuất máy móc sắt thép vô cùng to lớn. Tạo nên năng suất lao động cao gấp hàng trăm lần so với thời nô lệ, phong kiến. Làm ra nguồn của cải gấp hàng nghìn năm trước cộng lại.

Cách mạng công nghiệp đã tạo nên những ngành nghề mới, phương tiện giao thông vận tải mới, đường sắt, ôtô, tàu thủy với tốc độ nhanh chóng. Thành thị, xí nghiệp, nhà máy bành trướng, nông thôn thu hẹp, nông nghiệp được cơ hóa, năng suất nâng cao chưa từng thấy.

Cách mạng công nghiệp biến đổi sâu sắc xã hội, cư dân đô thị tăng Ịên, giai cấp công nhân đại công nghiệp ra đời, giai cấp mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin gửi gắm hy vọng là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Với cách mạng công nghiệp, tầng lớp tư sản công nghiệp trở nên hùng mạnh gạt bỏ tư sản thương nghiệp và lên nắm quyền thống trị. Phương tiện vận tải đường biển và lực lượng hải quân hùng mạnh với tàu chiến đại bác và nhiều hóa khí, súng ống, đạn dược kiểu mới đã giúp cho các cường quốc có khả năng mở rộng và xâm lược được nhiều thuộc địa.

Mở rộng và xâm lược thuộc địa

Cùng với vũ khí, tàu bè thay đổi đầy sức mạnh, các cường quốc tư bản Âu-Mỹ đã tiến hành những cuộc chiến tranh đẫm máu ở châu Á, châu Phi liên tục suốt hàng thế kỷ. Cuối cùng, châu Á phong kiến lạc hậu, châu Phi còn chưa kịp thống nhất đã trở thành hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Phương Tây vào cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX.

Trên con đường tranh giành thuộc địa, các cường quốc tư bản mâu thuẫn với nhau gay gắt dẫn đến những cuộc xung đột chiến tranh giữa các cường quốc. Cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển lên chủ nghĩa đế quốc thuộc địa càng có tầm quan trọng sống còn và cuộc đấu tranh tranh giành thuộc địa càng gay gắt. Các nước tư bản chủ nghĩa chia thành hai khối: khối Đồng minh bao gồm Đức, Áo, Hung; khối Hiệp ước bao gồm Anh, Nga, Pháp. Khối Đức, Áo, Hung quyết tâm giải quyết tranh chấp bằng biện pháp vũ lực và đã phát động cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) thảm khốc trong lịch sử.


6. Thế giới hiện đại

Năm 1917, Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi đã khép lại trang lịch sử cận đại thế giới, mở ra thời kỳ lịch sử thế giới hiện đại. Cách mạng Tháng mười đã lật đổ chủ nghĩa tư bản Nga, đưa giai cấp công nhân Nga lên cầm quyền, thiết lập Nhà nước Xôviết và năm 1922 thành lập Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô) đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thời kỳ chủ nghĩa xã hội phát triển

Liên Xô ra đời đã biến chủ nghĩa xã hội từ lý thuyết của các nhà kinh điển Mác-Lênin thành thực thể chính trị, kinh tế, quân sự hùng mạnh ở một đất nước rộng 1/6 quả địa cầu. Trở thành một lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản và lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản bắt đầu. Thời đại xuất hiện thêm một mâu thuẫn không kém phần gay gắt, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, xuất hiện một mối quan hệ quốc tế mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan hệ quốc tế hiện đại.

Trong thời kỳ hiện đại, mâu thuẫn giữa hệ thống các nước thuộc địa châu Á, châu Phi với chủ nghĩa đế quốc ngày càng gay gắt vì chủ nghĩa đế quốc tăng cường khai thác thuộc địa để phục vụ cho Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau chiến tranh, chúng càng đẩy mạnh bóc lột để bù đắp cho sự thiệt hạị của chính quốc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một giai đoạn mới cho phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa. Liên Xô và Quốc tế Cộng sản đã quan tâm đến việc đào tạo cán bộ, đưa ánh sáng lý luận Mác-Lênin vào, giúp đỡ các tổ chức cách mạng thuộc địa ra đời, phát triển và trưởng thành. Liên Xô trở thành đồng minh vững chắc, tin cậy của phong trào giải phóng dân tộc.

Giai đoạn chiến tranh thế giới I & II

Chiến tranh cũng đã thúc đẩy mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản trong các nước tư bản ngày càng gay gắt. Chiến tranh đã giáng mọi tai họa trực tiếp lên đầu nhân dân và nhân dân lao động các nước tham chiến. Vì thế, trong và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, một cao trào cách mạng dâng cao hầu khắp các nước Tây Âu những năm (1921-1924) rồi lại bùng lên những năm (1929-1933) do tai họa khủng khiếp từ cuộc khủng hoảng kinh tế mang lại. Sau chiến tranh, các nước chiến thắng đứng đầu là Anh, Pháp, Mỹ đã họp Hội nghị Vécxây năm 1919, sau đó là Hội nghị Oasintơn để thiết lập một trật tự thế giới mới gọi là trật tự Vécxây-Oasintơn. Trật tự này chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phe đế quốc. Mâu thuẫn giữa các nước chiến bại với các nước chiến thắng, mâu thuẫn giữa các nước chiến thắng với nhau, vì Anh, Pháp, Mỹ được nhiều quyền lợi, các nước khác như Italia, Nhật Bản… chịu thiệt thòi không thỏa mãn tham vọng khi phân chia thế giới.

Để giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại Đức, Italia và Nhật Bản đã thiết lập chính quyền phát xít – một chính quyền độc tài, công khai công bố thi hành chính sách khủng bố và bành trướng xâm lược và phát động Chiến tranh thế giới thứ hai. Một lần nữa chiến tranh giữa các nước đế quốc lại dẫn nhân loại đến cuộc chém giết khủng khiếp đó là Chiến thế giới thứ hai năm (1939-1945). Chiến tranh kết thúc với sự thất bại và diệt vong của chủ nghĩa phát xít.

Hình thành trật tự thế giới mới – hai cực Ianta

Tháng 2-1945 khi mà chủ nghĩa phát xít chắc chắn đã thất bại, những người đứng đầu ba cường quốc Liên Xô, Anh, Mỹ là J. Stalin, Sớcsin, F. Rudơven đã hợp nhau ở Ianta (Crưm, Liên Xô) thiết lập nên một trật tự thế giới mới – trật tự thế giới hai cực Ianta. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới đã được thành lập để bảo đảm sự tồn tại của trật tự mới, bảo đảm hòa bình an ninh thế giới.

Sau năm 1945, chủ nghĩa xã hội đã vượt khỏi phạm vi một nước trở thành hệ thống kinh tế chính trị thế giới đứng đầu là Liên Xô. Cũng sau Chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ vươn lên thành siêu cường số một đứng đầu thế giới tư bản – đối trọng với thế giới xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, Mỹ cùng đồng minh ra sức chống lại phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh đang bùng lên mạnh mẽ.

Như vậy, trong trật tự thế giới hai cực Ianta có ba lực lượng đấu tranh với nhau trên vũ đài quốc tế:

- Lực lượng chủ nghĩa xã hội đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản,

- Phong trào giải phóng dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc do Liên Xô đứng đầu,

- Chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa xã hội và phong trào giải phóng dân tộc do Mỹ cầm đầu.

Còn phải kể đến phong trào công nhân và nhân dân lao động các nước tư bản đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.

Kết quả phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giành được thắng lợi to lớn. Từ những năm 40 đến những năm 60 của thế kỷ XX, cơn bão táp cách mạng lan từ châu Á đến châu Phi làm sụp đổ tan tành hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Hàng trăm quốc gia độc lập mới ra đời làm thay đổi bộ mặt lịch sử thế giới hiện đại, góp phần vào tiến trình lịch sử nhân loại.

Nhưng từ những năm 80 đến những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội thế giới lún sâu vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhân cơ hội đó, những lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội chống phá kịch liệt. Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu sụp đổ vào những năm 80 và đến năm 1991 đến lượt Liên Xô tan rã. Các nước xã hội chủ nghĩa xã hội còn lại ở châu Á để thoát khỏi khủng hoảng, đã phải ra sức đổi mới điều chỉnh, quay về với chính học thuyết Mác- Lênin về một chế độ xã hội chủ nghĩa kinh tế hàng hóa thị trường để tồn tại và phát triển.

Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn mới

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa tư bản bước sang một giai đoạn mới.

a/ Nhìn lại các giai đoạn trước 1945

Có thể thấy được từ thế kỷ XI đến trước cuộc cách mạng tư sản Anh năm 1640 chủ nghĩa tư bản ra đời trong lòng xã hội phong kiến Tây Âu. Từ năm 1640 đến năm 1870 là thời kỳ đấu tranh lật để chế độ phong kiến xác lập chủ nghĩa tư bản, thời kỳ bùng nổ các cuộc cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế, thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.

Từ năm 1870 đến nay, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Trong giai đoạn này, từ năm 1870 đến năm 1945 là thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền.

b/ Giai đoạn sau 1945

Từ năm 1945 đến nay, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, tức là chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp các công ty độc quyền với nhà nước để tạo nên sức mạnh tổng hợp của kinh tế với quyền lực chính trị nhằm đáp ứng với nhu cầu thực tế khách quan đặt ra sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là phải có sức mạnh đối phó với chủ nghĩa xã hội, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên như vũ bão, để cạnh tranh với các đế quốc khác ngày càng quyết liệt khi hệ thống thuộc địa ngày một thu hẹp dần.

Cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã tạo ra một lực lượng sản xuất khổng lồ vượt quá tầm tư hữu tư nhân, các dự án chi phí lớn. Tất cả đều phải mượn bàn tay của nhà nước can thiệp. Nhà nước tư sản thời kỳ tự do cạnh tranh chỉ là kẻ bảo vệ tài sản, đóng vai trò trọng tài điều tiết xã hội thì bây giờ nhà nước cũng sở hữu tư liệu sản xuất.

Tuy nhiên, sự sở hữu này vẫn là của các tập đoàn độc quyền tư nhân của tư bản dưới hình thức nhà nước mà thôi. Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, chính khách và nhà kinh doanh là hai con người khác nhau, thời chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chính khách và tỉ phú có thể là một, tổng thống là tỉ phú, bộ trưởng là tỉ phú, nghị sĩ là tỉ phú, thủ tướng có thể là tỉ phú.

Nhìn chung, nhà nước tư sản sau năm 1945 đã can thiệp điều tiết kinh tế để bảo đảm quyền lợi cho chủ nghĩa tư bản độc quyền. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước không chỉ biểu hiện ở mỗi con người tỉ phú là nhà chính trị mà còn biểu hiện trong bộ máy nhà nước, trong bộ máy kinh tế ở mỗi nước tư bản. Nó không chỉ xuất hiện ở mỗi quốc gia mà còn trên bình diện quốc tế và các quan hệ chính trị, kinh tế trên toàn thế giới. Trước sau chủ nghĩa tư bản vẫn là một lực lượng quốc tế.

Sau năm 1945, nhân loại sống trong thế giới hai cực Ianta. Đó là xét ở yếu tố đối lập và cân bằng về chính trị, quân sự giữa chủ nghĩa xã hội do Liên Xô đứng đầu và chủ nghĩa tư bản do Mỹ đứng đầu. Thực ra, trên bình diện kinh tế khi Tây Âu và Nhật Bản đã hàn gắn xong vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế với tốc độ nhanh chóng, thần kỳ, nhất là vào những năm 60 của thế kỷ XX thì nền kinh tế tài chính thế giới đã có bốn trung tâm: Liên Xô, Tây Âu, Nhật Bản và Mỹ. Mỹ mất độc quyền trung tâm kinh tế tài chính duy nhất của thế giới tư bản. Mối quan hệ giữa cuộc chạy đua giữa các siêu cường và bốn trung tâm kinh tế tài chính đã chi phối toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, chính trị thế giới trong suốt thời kỳ dài bốn thập kỷ.

Lịch sử thế giới sau khi hệ thống chủ nghĩa xã hội tan rã

Sau khi Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu tan rã, trật tự thế giới hai cực Ianta sụp đổ, thế giới vẫn tồn tại ba trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất, nhưng về quân sự, chính trị gần như mất cân bằng trong mối quan hệ quốc tế. Với tổng sản phẩm thu nhập quốc dân 1 vạn tỉ đô la/năm, với sức mạnh quân sự to lớn, Mỹ tự cho mình là siêu cường duy nhất có thể thực hiện chính sách đối ngoại buộc thế giới và các đồng minh phải khuất phục, buộc tất cả các nguồn lợi phải chảy về Mỹ.

Chính quyền Mỹ đã sử dụng vũ lực tấn công những chế độ mà Mỹ muốn tiêu diệt, uy hiếp và đe dọa các nước khác. Thế giới ngày nay đang đứng trước nguy cơ to lớn; thứ nhất là những cuộc chiến tranh do Mỹ đã và sẽ tiến hành chống lại các quốc gia có chủ quyền; thứ hai là nguy cơ khủng bố quốc tế. Hai thảm họa này phần nhiều bắt nguồn từ chính sách đối ngoại của Mỹ, một chính sách thiên vị và vũ lực.

Lịch sử thế giới hiện đại trong các lĩnh vực khác

Song, lịch sử thế giới hiện đại không chỉ là những trang của áp bức, bóc lột, của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, của chiến tranh xâm lược và chống xâm lược mà còn là những trang lịch sử sáng tạo và phát triển của trí thức, của nhân dân lao động để sáng tạo nên nền văn hóa thế giới. Sự lao động và sáng tạo đã tạo nên những kỳ tích trong những bước phát triển của khoa học – kỹ thuật mà vĩ đại nhất là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại.

a/ Cách mạng khoa học kỹ thuật

Cuộc cách mạng này đang diễn ra và ngày càng sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực như:

- Lý thuyết của các ngành khoa học cơ bản

- Những ngành khoa học mới ra đời (vũ trụ, du lịch vũ trụ, điều khiển học),

- Tìm ra những nguồn năng lượng mới (hạt nhân, nguyên tử, sức gió, năng lượng mặt trời),

- Sáng tạo ra những chất mới không có trong tự nhiên vừa nhẹ vừa có độ bền vững cao (polyme, cáp quang),

- Chế tạo ra những công cụ mới có hiệu quả lao động thần kỳ và huyền diệu (vi tính, robot làm được nhiều chức năng).

Cách mạng khoa học – công nghệ cũng diễn ra trong viễn thông, sinh học, giao thông vận tải, nông nghiệp đã mang lại nhiều thành tựu to lớn, làm biến đổi đời sống kinh tế – xã hội loài người, đã làm biến đổi công nghệ quy trình sản xuất, tạo ra một lực lượng sản xuất đồ sộ, hiệu quả, năng suất và chính xác.

Cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã liên kết toàn thế giới thành một thị trường thống nhất, tác động to lớn đến đời sống xã hội con người về tinh thần và vật chất. Cuộc cách mạng này đã đưa loài người sang nền văn minh thứ ba văn minh tin học.

Cách mạng khoa học – công nghệ đã mở ra một xu hướng mới trong quan hệ quốc tế về mở rộng hợp tác khoa học, kinh tế, mở rộng khả năng đối thoại trong quan hệ quốc tế thay cho một thời kỳ dài của chiến tranh lạnh, hoặc chiến tranh nóng để giải quyết những bất đồng giữa các quốc gia.

Tuy nhiên nếu con người sử dụng không đúng mục đích những thành tựu của cách mạng khoa học – công nghệ sẽ mang lại hậu quả khôn lường với những vũ khí giết người hàng loạt, thậm chí có thể đe dọa cả chính sự tồn tại của mái nhà chung là trái đất, khí hậu, môi trường. Và đó có thể là dấu chấm hết cho lịch sử nhân loại.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***