4 thg 10, 2020

TỨ DIỆU ĐẾ

 DẪN NHẬP

Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo PhậtNgay sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khaimở rộngĐức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: «Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế« (Tương Ưng V).

Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn tu được thiết lập, mọi nổ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ Diệu Đế được xem là thiên pháp tối thượng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: “Ví như tất cả các dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong các dấu chân. Cũng vậy chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Đế”. (Trung Bộ Kinh I).

Cho đến lúc sắp nhập Niết Bàn, dưới cây Sa La song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lý Tứ Đế: “Này các thầy Tỳ kheo, đối với Bốn chân lý, các thầy có hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp”. (Kinh Di Giáo). Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế đã được khẳng định bởi chính Đức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài. Trãi qua hơn 2500 năm, giáo lý Tứ Diệu Đế vẫn được tất cả bộ phái Phật Giáo, Nguyên Thủy hay Đại Thừa đều xướng dương và hành trì rốt ráo.

 I. ĐỊNH NGHĨA

Tứ Diệu Đế là Hán dịch từ chữ Phạn Catvary Aryasatyani. Arya là Diệu, cao quý, nhiệm mầu; Satya là Đế, là sưj thaatj, chân lý. Tứ Diệu Đế còn được gọi là Tứ chân đế, hoặc Tứ thánh đế, Bốn chân lý mầu nhiệm.

1- Khổ đế (Dukkha): là thực trạng đau khổ của con người.

2- Tập đế (Samudaya): là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ.

3- Diệt đế (Nirodha): là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau.

4- Đạo đế (Magga): là con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau.

II. NỘI DUNG

II-1. Khổ đế:

Khổ đế là một chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ« (Tương Ưng V). Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:

a)- Về phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Khi ta bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu..., đây là sự bức bách đau đớn của thể xác. Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lão Tử nói: «Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân« (Có thân nên có khổ). Con người sinh ra đã vất vả khốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan rã cuối cùng của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao.

b)- Về phương diện tâm lý: Là sự khổ đau do không toại ý, không vừa lòng v.v... Sự không vừa ý sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý. Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ. Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà cứ gặp gỡ hoài, mình muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay của mình. Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ý, lòng mình luôn trống trải, bức bách v.v... Đây là nỗi khổ thuộc về tâm lý.

c)- Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: «Chấp thủ năm uẩn là khổ«.

Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thì sự khổ đau có mặt. Ý niệm về «thân thể tôi«, «tình cảm tôi«, «tư tưởng tôi«, «tâm tư tôi«, «nhận thức của tôi«, «tài sản của tôi«... hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồng đều gắn liền với ý niệm về «cái tôi« ấy.

Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngã hóa năm uẩn.

II-2 Tập đế:

Tập đế (Samudaya), tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Diệt đế).

Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái. Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn.

Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng «cái tôi« là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ «cái tôi« và «cái của tôi« như thân tôi, tình cảm tôi, tư tưởng tôi..., người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi... Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.

Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn. Nói cách khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.

II-3 Diệt đế

Diệt đế (Nirodha), Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau; cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn (Nirvana/Nibbàna).

Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc có các mức độ khác nhau.

a)- Hạnh phúc tương đối: Một khi bạn đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm hẳn, thân tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; bạn nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn. Đó là một hình thức của hạnh phúc. Kinh Trung Bộ có một ví dụ: Có một người con trai đang yêu một cô gái. Tình cờ, anh ta bắt gặp cô gái nói chuyện, cười đùa với một chàng trai khác. Tâm hồn của người con trai đang yêu ấy bị xáo trộn mạnh mẽ, khó chịu, bực bội và đau khổ. Thời gian sau, người con trai ấy không còn yêu thương cô gái ấy nữa; lần này, anh ta gặp cô ái ấy đang nói chuyện, cười đùa với những chàng trai khác, nhưng hình ảnh ấy không làm tâm hồn anh ta đau đớn nữa. Cũng vậy, nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, mà tâm ý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn, bạn tạo nên một phép lạ: thân tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không còn bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim mình. Trên cơ sở ấy, bạn hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn.

Tóm lại, tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.

Nếu bạn phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định thì bạn sẽ có sự an lạc tuyệt vờiĐức Phật dạy: «Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút«. Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lý, thường gọi là 5 triền cáitham dụcsân hậnhôn trầm (ngủ gật, lười nhác), trạo cử (tâm dao động và hối hận)hoài nghi và do dự. Khi 5 loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí bạn; loại trừ chúng thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che. Thoát khỏi trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền.

b)- Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, bạn phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tếthâm sâu, bạn có thể đạt hạnh phúc tuyệt đốitối thượng là Niết bànDiệt đế chính là Niết bànNiết bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đốiĐức Phật dạy: «Vô bệnh lợi tối thắngNiết bàn lạc tối thắng« (K.Magandiya, TBK II).

 

Niết bàn còn được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát, vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân... Niết bàn không phải là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ. Đây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã vắng mặt tham, sân, si.

Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn. Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ... Dù vậy, Niết bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ý thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết bàn khi đang còn tham, sân, si. Một vị Thiền sư nói: «Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với một nhãn quan mới, một nhãn quan không bị chi phối bởi tham sân si, thì cảnh đẹp kia chính là Niết bàn đó ! Niết bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể tìm đến. Niết bàn chính là ở đây«. Đức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đã đạt Niết bàn ngay trong đời sống này. Điều đó nghĩa là Niết bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.

II-4 Đạo đế

Đạo đế (Magga): Đạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Như vậy, toàn bộ giáo lý mà Đức Phật đã dạy đều là Đạo đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Đó là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn thần túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Tám thánh đạo phần« (kinh Đại Bát Niết Bàn).

Trong 37 pháp thì Tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo đế. Tám thánh đạo, còn gọi là Bát chánh đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần:

1)- Chánh kiến (Sammà Ditthi): Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.

2)- Chánh tư duy (Sammà Sankappa): Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của mình nghĩ ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo lực hãm hại... dẫn tư duy của mình hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông bỏ, sự giải thoát, về thương yêu giúp đỡ chúng sinh, về sự vị tha, nhẫn nhục, trầm tĩnh.

3)- Chánh ngữ (Sammà Vàcà): Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết hòa hợp, thương yêu và lợi ích.

4)- Chánh nghiệp (Sammà Kammanta): Hành vi đúng đắn, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn thú vui bất thiện.

5)- Chánh mạng (Sammà Ajivà): Đời sống đúng đắn, nghĩa là phương tiện mưu sinh, nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo, lừa bịp lẫn nhau để mưu lợi riêng cho mình.

6)- Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàma): Nỗ lực đúng đắn, nghĩa là nỗ lực đoạn trừ điều ác, nỗ lực thực hành điều thiện.

7)- Chánh niệm (Sammà Sati): Nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng nhớ nghĩ các pháp bất thiện, đừng để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình đi lang thang. An trú tâm ý vào thiện pháp, không quên thiện pháp.

8)- Chánh định (Sammà Samàthi): Tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.

Mối quan hệ giữa các chi phần Bát chánh đạo là không thể phân ly, chi phần này có trong chi phần kia, cái kia hỗ trợ cho cái này. Tám chánh đạo có thể chia làm 3 bước là Giới, Định và Tuệ. Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; Định là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; Tuệ là Chánh kiến, Chánh tư duy. Xác định Bát chánh đạo là con đường đưa đến giải thoát, Đức Phật dạy: «Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát thánh đạo thì ở đấy không có Tứ quả Sa môn« (kinh Đại Bát Niết bàn, TB I). Đức Phật dạy thêm: «Nếu những Tỳ kheo sống chân chính (theo Bát chánh đạo) thì cõi đời này không thiếu vắng những vị A La Hán«.

Con đường tu tập của Đạo đế là con đường nỗ lực tự thân của mỗi hành giả Phật tử; con đường ấy vừa thực tiễn vừa có hiệu quả ngay tại đời sống này.

KẾT LUẬN

Giáo lý Bốn chân lý vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con ngườixã hội đương thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con người và xã hội hiện đại.

Đặc tính của giáo lý Tứ diệu đế là con đường Trung đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xácGiáo lý Tứ diệu đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đã dạy. Giáo lý Tứ diệu đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoátđáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội.

2 thg 10, 2020

VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ

Chân Lý Về Sự Vận Hành Của Quy Luật Tự Nhiên Trong Vũ Trụ

Đây chính là ba chân lý về quy luật vận hành tự nhiên của mọi thứ trong thế giới vật chất. Ba chân lý này đan xen vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất và chi phối toàn bộ vạn vật trong tự nhiên, kể cả con người. Các giáo lý tu tập của đạo Phật đều mang ý nghĩa của ba pháp ấn này làm kim chỉ nam để các Phật tử hiểu rõ về bản chất hiện tượng, sự vật và hiểu rõ về quy luật tự nhiên của vạn Pháp. Do tính chất quan trọng Tam pháp ấn luôn được nhắc đến trong hầu hết kinh điển, từ Kinh tạng Nam truyền đến Bắc truyền. Đức Phật từng dạy Tôn giả La Hầu La:

“Này Ràhula, mắt, tai, mũi, lưỡi thân, ý; cùng với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; sắc, thọ, tưởng, hành và thức là thường hay vô thường?” 

Ràhula bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, chúng là vô thường!” (Vô Thường)

Đức Phật nói:  “Cái gì là vô thường là khổ hay vui?”

Ràhula bạch: “Là khổ, bạch Thế Tôn!” (Khổ).

Đức Phật lại nói: “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

Ràhula bạch Phật: “Thưa không, bạch Thế Tôn!” (Vô ngã).

(Kinh Tương Ưng II, Tương Ưng Ràhula, phẩm 1)

Pháp ấn thứ nhất: VÔ THƯỜNG

Pháp ấn đầu tiên là Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến chuyển, thay đổi, không cố định. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian đều vô thường. Nói cách khác, sự vật không bao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưu chuyển. Từ sơn hà, đại địa cho đến cỏ cây, hạt bụi và cả thân tâm con người luôn biến đổi, không bao giờ cố định và phải chịu sự tác động của vô thường. Không chỉ trong thế giới vật chất mà ngay cả trong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn hiện hữu.

Con người, theo Phật giáo, là hợp thể của năm uẩn. Trong đó, phần thân thể vật chất tứ đại (sắc uẩn) thuộc về Sắc và phần tinh thần gồm Thọ (cảm giác), Tưởng (tri giác), Hành (tư duy) và Thức (nhận thức) thuộc về Danh. Năm uẩn hay Danh-Sắc này luôn ở trong trạng thái biến đổi như một dòng sông chảy mãi không ngừng trong đời sống con người.

Sự vật không bao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưu chuyển.

Thân thể con người nếu nhìn thật sâu vào bản chất, nó chỉ là một trạm trung chuyển của các yếu tố tứ đại. Đất nước gió lửa từ bên ngoài đi vào thân, sau đó lại đi ra và vòng tròn đó luân chuyển bất tận. Nhờ sự vận hành ấy, thân này được nuôi dưỡng, lớn lên, già đi rồi chết, tất cả hoàn trả về cho tứ đại. Vì thế, khi một trong các yếu tố tứ đại bị mất cân bằng, bệnh tật hoặc hư hoại xảy ra, khi đó dòng chảy tứ đại ngừng luân chuyển, cái chết sẽ ập đến. Quá trình này, con người chỉ điều khiển được một phần, còn đa phần là không thể tự chủ. Vì thế, chuyện sống chết của thân này là chân lý và không ai có thể thay đổi chân lý này được.

Về tâm lý của con người cũng vậy, các trạng thái tâm lý luôn thay đổi, chuyển biến trong từng sát na. Tâm thức con người với muôn ngàn ý niệm tuôn trào, trôi chảy như thác lũ. Tất cả vui buồn, thương ghét, tha thứ hay hận thù v.v..., luôn hiện khởi và vận hành trong tâm thức.

Tuy vậy, chúng ta cần phải cảm ơn Vô thường. Bởi thực tế, nếu không có vô thường thì sẽ không có sự sống và phát triển. Nếu hạt lúa không có vô thường, nó sẽ không bao giờ thay đổi, không thể nảy mầm để trở thành cây lúa cho ra những hạt gạo được. Nếu không có sự vận hành của vô thường thì lịch sử tiến hóa của nhân loại không thể phát triển. Và nếu không có vô thường thì chúng ta sẽ không bao giờ có hy vọng chuyển hóa đoạn tận tập khí tham ái, phiền não đang tiềm ẩn sâu kín trong nội tâm chúng ta. Giáo lý vô thường mang lại tuệ giác, nhận thức đúng về bản chất của các sự vật hiện thượng (pháp), đồng thời mang lại niềm tin cho nỗ lực chuyển hóa, sáng tạo và phát triển của con người. Vì thế vô thường là ý nghĩa quan trọng của Chánh pháp trong Phật Giáo.

 Pháp ấn thứ hai: KHỔ

Khổ, theo tiếng Hán tự, nghĩa là đắng, tức là mọi sự đau khổ trong đời chứa đựng nhiều đắng cay... Tiếng Pàli, khổ là Dukkha, ngoài ý nghĩa là cảm giác khổ đau, bức bách, khó chịu, bất như ý... còn mang ý nghĩa sự bất toàn; thế gian vốn trống rỗng, đáng khinh miệt, không đáng để bám víu (Narada, Đức Phật và Phật pháp, tr.88).

Khổ đau trong đời sống con người rất phổ biến, thường được trình bày qua các phương diện là: Khổ của sinh lý (sinh, lão, bệnh, tử), Khổ về tâm lý (mong cầu, ước muốn không được, yêu ghét, thích chê, được mất...). Khổ vì ngũ uẩn. Sự thật về khổ này là pháp Tứ Diệu Đế được Đức Phật nói cho năm đệ tử trong pháp thoại đầu tiên tại vườn Nai (Kinh Chuyển Pháp Luân).

Khổ còn được phân biệt thành ba loại khổ là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

Khổ khổ nghĩa là có cảm thọ khó chịu, thuộc khổ thọ. Những cảm giác thống khổ đau đớn  trong thân thể và các trạng thái tâm sinh lý bất an đều là khổ thọ.

Hoại khổ là sự thay đổi, biến chuyển, tiêu hoại tạo ra khổ. Nói cách khác, sự biến đổi trạng thái này sang trạng thái khác, sự biến hoại theo khuynh hướng xấu trong cơ chế tâm - sinh - vật lý của con ngườiđem lại sự bất an, khổ đau là hoại khổ.

Hành khổ nghĩa là các pháp do nhân duyên tạo thành đều vô thường, sinh diệt trong từng sát na nên tạo ra khổ. Thân thể, thế giới, hoàn cảnh sống, các trạng thái tâm lý của con người  như đã nói đều do nhân duyên sinh nên phải chịu sự tác động của vô thường, khi thay đổi thì đưa đến khổ. Cho nên trong các sự vận hành, các hiện tượng đều chứa đựng sẳn mầm mống của khổ, gọi là hành khổ.

Tuy nhiên, mọi đau khổ đều có xuất phát từ nội tâm bất an và có cội rễ từ vô minh, ái dục. Mặc dù vô thường là căn nguyên của mọi khổ đau trong cuộc sống, nhưng nguyên nhân chính của khổ lại nằm trong nhận thức và thái độ sống tích cực hay tiêu cực của con người. Sự vật luôn biến đổi vô thường mà ta cứ ngỡ và mong ước chúng là bình thường, trường tồn mãi mãi. Chính nhận thức sai lạc này đã phát sinh ra mọi đau khổ.

Cần phải nhận diện khổ đau để chấp nhận đồng thời tìm ra nguyên nhân và phương pháp diệt khổ. Như vậy, khổ đau là chân lý đầu tiên của Tứ Diệu Đế. Chỉ cần nhận thức toàn triệt về khổ thì các chân lý khác sẽ hiện bày ra. Do vậy, chúng ta phải quán sát, nhận thức thường trực về khổ đau trong thực tại cuộc sống và cả trong ý thức. Như chúng ta đau bệnh chỉ có thể trị được bệnh, ý thức được rằng chúng ta đang bệnh. Cũng vậy, con người muốn giải thoát khỏi khổ đau trong cuộc sống thực tại, trước hết phải thừa nhận chúng ta đang bị khổ đau chi phối, bức bách thường trực. Chính sự ảo tưởng về cuộc đời là hạnh phúc, bị ràng buộc vào vật chất thế gian, sự dễ dãi trong quan hệ giới tính... con người tự mình gông xiềng chính mình và không thể nào vượt lên để hướng đến giải thoát bản thân và làm cho mình an tịnh.  

Cần phải can đảm nhìn thẳng vào khổ đau để giải quyết mọi vấn đề phát sinh từ nó, đó là nhận thức căn bản, phương châm tu tập xuyên suốt toàn bộ hệ tư tưởng của Phật Giáo. Căn bản kinh điển của Phật Giáo vẫn không ngoài khổ và con đường diệt khổ này. 

Pháp ấn thứ ba: VÔ NGÃ

Vô ngã (Anatma) là giáo lý đặc thù của Phật Giáo. Giáo lý này là hệ quả của quá trình quán sát một cách sâu sắc nguyên lý duyên khởi. Với pháp ấn Vô thường, chúng ta thấy được sự vận động trong tự thân của sự vật và hiện tượng. Nếu nhìn sâu hơn qua lăng kính duyên khởi, ngoài sự vận động thì bản chất của sự vật và hiện tượng luôn mang tính tương tác, kết hợp lẫn nhau mà tạo thành. Do vậy tuyệt nhiên không có tính chủ thể, đồng nhất, bất biến trong nó. Vì thế Phật dạy: “Các pháp là vô ngã”.

Chiếc lá được cấu tạo bởi tứ đại thuộc về vật chất của cả vũ trụ.

Khi thấy chiếc lá vàng rơi, bình thường ta chỉ biết đó là chiếc lá vàng, nhưng nếu nhìn sâu sắc hơn thì trong chiếc lá có những khoáng chất của đất, có ánh sáng ấm áp của mặt trời, có nước từ những đám mây, có gió của bầu trời... và có cả một chút bâng khuâng của lòng người. Như thế, chiếc lá kia được cấu tạo bởi tứ đại (đất, nước, gió, lửa) thuộc về vật chất của cả vũ trụ mà hợp thành chứ chẳng phải chỉ có một nguyên tố hay phân tử riêng biệt nào tạo nên chiếc lá. Vì vậy trong nó không có riêng một vật chất chủ thể bất biến trường tồn nào. Từ chiếc lá xanh, theo thời gian chuyển qua lá vàng, đó là sự vận động vô thường, nhưng dù lá xanh hay vàng thì bản chất chúng vẫn là những yêu tố duyên khởi tạo nên mà kết hợp lại thành chiếc lá. Do đó chiếc lá vốn là Vô ngã.

Con người cũng vậy, là hợp thể của tứ đại cũng như ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Ngay trong bài pháp thứ hai tại Lộc uyển, Đức Phật đã dạy tính vô ngã của thân năm uẩn. “Này các tỳ-kheo, sắc (thân thể) này là vô ngã. Này các tỳ kheo, nếu trong sắc có ngã như vậy, sắc không chịu đau khổ và ta có thể tùy ý muốn sắc phải làm thế này hoặc thế kia. Nhưng vì sắc không có ngã (vô ngã), nên sắc này phải chịu khổ đau và không thể tùy ý muốn phải như thế này hay thế kia được”. Thọ, tưởng, hành, thức cũng giống như thế (Kinh Vô Ngã Tướng). Trong kinh điển Bắc tông, thiền quán về năm uẩn đều “Không” cũng là một trong những giáo lý trọng yếu được thấy trong Bát Nhã Đa Tâm Kinh vậy.

Tuy nhiên, vì nghiệp lực con người luôn lầm tưởng chấp vào thân năm uẩn này là một thể đồng nhất, có một linh hồn trường tồn theo thời gian, bất biến và không thay đổi, từ mê mờ ấy đã hình thành nên “cái tôi”, “bản ngã” giả tạo, nên con người dễ dàng sanh ra tâm lý tham dục, mê đắm, sân hận, ôm ấp bảo thủ và chấp dính vào những gì thuộc về năm uẩn (cái của tôi). Thế nhưng, mọi sự vật hiện tượng luôn sinh diệt, chuyển biến trong từng sác na (tích tắc). Sự sinh thành và hoại diệt của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên và quá trình tồn tại cũng như thay đổi đến hoại diệt luôn là một sự thật cho con người, tất cả muôn loài và mọi vật.

Vì không nhận thức được tính vô ngã của vạn sự, vạn vật (vô minh), nên chúng ta cứ chấp thủ tham, sân, si, mạn, nghi và đó cũng là cội nguồn của mọi tà kiến, khổ đau. Pháp ấn vô ngã không những xác thực tiên quyết tính pháp định của Chánh pháp mà còn mang đặc thù của giáo lý đạo Phật. 

 

1 thg 10, 2020

NHÌN NHẬN CĂN BẢN VỀ TU TẬP PHẬT PHÁP

Theo tài liệu Phật Giáo Việt Nam.

Đa số người xưng là Phật tử mà không biết rõ đường lối tu hành, ai bày sao làm vậy, trở thành mê tín sai lầm, khiến người đời phê bình đạo Phật là huyền hoặc, là vô ích.

Để bổ cứu những sai lầm ấy, chúng ta phải biết rõ đâu là pháp tu căn bản phải hành, đâu là lối tu giải thoát phải đến. Ứng dụng Phật pháp ngay trong cuộc sống thực tế của chúng ta, để minh chứng rõ ràng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phúc cụ thể lại cho con người. Được thế, chúng ta mới khỏi hối hận là đệ tử của Phật.

Pháp tu căn bản

Bước đầu trên đường tu hành của người Phật tử, phải "chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp lành". Ba nghiệp là thân, khẩu, ý của chúng ta. Khi xưa chưa biết tu, chúng ta buông lung, phóng dật để mặc thân khẩu ý làm những việc xấu xa tàn bạo độc ác. Những điều xấu xa ấy làm đau khổ cho mình, cho người, cho gia đình và cho xã hội.

Những kẻ có ý nghĩ đen tối, mưu đồ xấu xa, tà dâm, vọng ngữ cho đến những kẻ cướp của, giết người sớm muộn gì cũng cũng bị pháp luật răng đe, nhưng kéo theo hệ lụy cho những người liên quan đau khổ. Chỉ một việc làm cuồng dại độc ác của một vài người, khiến gia đình xã hội phải gặp nhiều tai ương và phiền lụy vô cùng. Hành động ấy gọi là tạo nghiệp ác. Ngày nay biết tu, chúng ta chuyển thân khẩu làm việc tốt đẹp thanh cao hiền thiện. Thấy người khó khăn dù không phải thân nhân, chúng ta vẫn từ bi xót thương, dùng lời hiền hòa an ủi, đích thân giúp đở săn sóc tận tình... đây mới là tạo nghiệp lành.

Làm được việc lành bản thân chúng ta sẽ an vui, người khốn đốn kia cũng bớt khổ, người chung quanh trông thấy cũng tán thành. Hành động lành này nếu được nhân rộng ra xã hội sẽ tốt đẹp biết bao, lâu dần thành thói quen hành thiện, một thói quen đưa chúng ta đến an lạc trong cuộc sống.

Vì thế, người Phật tử phải tránh thói quen dẫn đau khổ, phải tạo thói quen hành thiện, đó là tu chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành. Kẻ ngu muội mới tìm hạnh phúc trên đau khổ của người khác, người sáng suốt chỉ thấy hạnh phúc khi giúp người khác hết khổ.

Quan niệm sai lầm

Có nhiều Phật tử phát tâm quy y chỉ vì cầu cho gia đình bình an, cuộc sống được mọi sự như ý. Vì thế, gia đình có người bệnh hoạn hay xảy ra tai nạn gì thì thỉnh thầy cầu an. Nếu thầy bận việc không đi thì phiền não, giận không đi chùa.

Trong cuộc sống gặp nhiều điều bất như ý thì buồn, cho rằng Phật không hộ độ. Nghe miếu Bà, miếu Ông nào linh ứng liền đến đó cầu xin. Chỉ vì sự mong cầu được như ý, được bình an mà chúng sinh mới đi chùa, đến với đạo, khi mục đích ấy không thành thì họ bỏ đạo dễ dàng.

Lại có những người sau khi quy y rồi thì mọi việc đều giao phó cho thầy, cất nhà cũng thỉnh thầy coi ngày, gả cưới con cái cũng thỉnh thầy xem tuổi, đau ốm bệnh hoạn cũng thỉnh thầy cầu an, ma chay cũng thỉnh thầy cầu siêu. Thầy là người chịu mọi trọng trách trong gia đình, nếu thầy không chiều theo là buồn, là giận rồi không muốn đi chùa. Lối quy y này, giống hệt đi đóng tiền bảo hiểm cho cá nhân và gia đình vậy.

Lại có những người tu một cách hời hợt, chỉ biết giờ tụng kinh, giờ niệm Phật, ngày ăn chay là tu. Ngoài những giờ đó ra, mọi việc đều như ai, ăn miếng trả miếng không thua kém.

Một ngày mười hai giờ, chúng ta chỉ tu có một, hai giờ, làm sao đủ? Mười giờ tạo ác, hai giờ tu thiện thì quá ít ỏi. Hoặc một tháng ăn bốn ngày chay, chỉ tu trong bốn ngày này, còn hai mươi sáu ngày kia không tu thì có thấm vào đâu. Có khi ai lỡ xúc phạm đến họ trong những ngày chay, họ sẽ nói "hôm nay tôi ăn chay, nếu không ăn chay thì biết!" Tu như thế, quả thật rất hời hợt.

Còn tệ hại hơn, có người sợ tu thiền đổ nghiệp. Mỗi khi phát nguyện tụng kinh Địa Tạng, hoặc tụng chú, ở gia đình có xảy ra tai biến gì, liền đổ thừa tại tụng kinh đổ nghiệp. Không biết đổ nghiệp là rơi rớt hết hay sanh ra nghiệp? Nếu đổ nghiệp là rơi rớt hết thì cố gắng tụng cho nó rớt sạch luôn. Nếu đổ nghiệp là sanh ra nghiệp thì điều này thật là vô lý. Vì giờ tụng kinh thì ba nghiệp thanh tịnh - thân nghiêm trang là thân nghiệp thanh tịnh miệng tụng lời Phật là khẩu nghiệp thanh tịnh - ý duyên theo lời kinh là ý nghiệp thanh tịnh - làm sao sanh ra ác nghiệp được? Tin như thế thật là hoàn toàn vô căn cứ. Người Phật tử phải sáng suốt không nên tin theo lối nhảm nhí ấy.

Hàng phục ma quân Ba Thuần

Người phát tâm tu hành như một Pháp sư tuyên chiến với ma quân. Chúng ta phải kiên  định. Trước tiên, chúng ta phải hàng phục với ma phiền não nghiệp chướng của chính mình.

Ví như người vừa phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục, liền bị người thóa mạ, tâm sân hận nổi lên, ngay đây phải dẹp bỏ, đè bẹp nó là thắng, để nó phát hiện ra miệng, ra thân là thua. Có người trước đã ghiền (nghiện) rượu, nay phát tâm quy y thọ trì năm giới ngang đây phải bỏ (cai) rượu, nếu can đảm bỏ được là hàng phục được ma nghiệp chướng. Thắng được cơn giận dữ nổi lên là thắng ma phiền não. Phiền não nghiệp chướng của chúng ta tích tụ từ đời này và nhiều kiếp trước rất nặng nề, nhưng phải kiên định hàng phục được nó.

Tu là dẹp bỏ những thói hư tật xấu, tuổi trẻ chưa tập nhiễm những cái dở ấy, ngang đây biết tu thì dễ biết dường nào. Người chưa biết uống rượu, không tập uống rượu thật là dễ. Người đã ghiền rượu, bỏ không uống rượu là thiên nan vạn nan. Biết tu từ thuở nhỏ thì thuận lợi dễ dàng biết mấy, để đa mang nhiều bệnh nhiều tật rồi mới tu, thật là khó khăn trăm bề. Song người có ý chí mãnh liệt thì cái khó nào cũng làm được.

Để thành một con người hoàn hảo hơn, Phật dạy phải tu thập thiện. Pháp Thập thiện mới thật sự đầy đủ tu chuyển ba nghiệp. Chuyển ba nghiệp ác của thân, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm. Chuyển bốn nghiệp ác của khẩu: không nói dối, không nói lật lọng (ly gián), không nói hung ác, không nói vô nghĩa (thêu dệt), chuyển ba nghiệp ác của ý: bớt tham, bớt sân, không tà kiến (chấp lệch, sai). Mười điều lành này xây dựng một con người toàn hảo. Chúng ta phân tích từ sự vi tế đến thô thiển sẽ thấy pháp Thập thiện công hiệu không thể kể hết. Một con người không bị tham lam xúi giục thì sẽ làm chủ mình trước mọi thứ cám dỗ của trần gian. Tài sắc danh lợi không lung lạc được, người này mới hoàn toàn thanh bạch cao thượng. Không bị nóng giận, si mê áp đảo, chúng ta mới bình tĩnh sáng suốt giải quyết mọi vấn đề, và chúng ta không bị hối hận bao giờ, người thân chúng ta không hề chán ghét.

Sự việc xảy đến, giải quyết một cách sáng suốt khôn ngoan chúng ta mới đủ khả năng đảm đang việc lớn được. Mọi lý thuyết, mọi vấn đề, chúng ta không suy xét một chiều, không nhìn phiến diện, thì mới dễ cảm thông, mới hiểu được chân tướng sự việc thật rõ ràng.

Tà kiến là cái thấy lệch lạc, thấy sai lầm cục bộ, dễ sanh tranh cãi, dễ sanh oán hờn. Không tà kiến là một tâm hồn cởi mở, bao dung, suốt thông, trong sáng. Không tà kiến, chúng ta hòa hợp được mọi người, mọi chánh kiến khác nhau. Cuộc sống hạnh phúc hay khổ đau, nảy mầm từ thông cảm nhau hay chống đối nhau. Không tà kiến mà lại có chánh kiến, thật hạnh phúc thay cho kiếp con người. Sở dĩ Thập thiện xây dựng con người hoàn hảo là chú trọng đến ý nghiệp. Pháp ngũ giới mới chuyển hóa hai phần nổi, thân khẩu mà thôi. Bởi vậy Phật tử chúng ta không phải chỉ dừng ở ngũ giới mà phải tiến lên Thập thiện mới thật đầy đủ.

Tu chuyển ba nghiệp là căn bản Phật pháp

Đời Đường ở Trung Hoa, có một Thiền sư thấy trên cây có chỗ thuận tiện ngồi tu được, ông liền gác cây bẻ nhánh lót thành chỗ ngồi, giống như ổ quạ và ngồi đó tu. Thời gian sau, ông ngộ đạo tại đây, dân chúng gọi Ngài là Ô Sào Thiền sư (Thiền sư ngồi trong ổ quạ). Ông Bạch Cư Dị, nhà văn nổi tiếng thời ấy, được cử làm quan ở huyện này, nghe danh tiếng Thiền sư Ô Sào, ông liền đến hỏi đạo. Khi gặp nhau, ông hỏi nhiều câu, câu chót: "Thế nào là đại ý Phật pháp?" Thiền sư Ô Sào ngồi trên ổ quạ đáp: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo." (chớ tạo các điều ác, vâng làm mọi việc lành, giữ tâm ý trong sạch, đây lời dạy chư Phật.) Ông Bạch Cư Dị cười thưa: "Bài kệ Ngài dạy, con nít tám tuổi cũng thuộc rồi." Thiền sư bảo: "Phải, con nít tám tuổi cũng thuộc, song ông già tám mươi làm chưa xong." Bạch Cư Dị đảnh lễ rồi lui về.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy cốt yếu của đạo Phật là dạy Phật tử phải chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện. "Chớ tạo các điều ác" là dừng ba nghiệp ác. "Vâng làm mọi việc lành" là tu ba nghiệp lành. "Giữ tâm ý thanh tịnh" phải chú tâm nhiều về ý nghiệp. Ý nghiệp thanh tịnh thì thân khẩu mới tốt, mới thanh tịnh. Ý nghiệp là chủ động, nên dành riêng một câu để thấy tầm vóc quan trọng của nó.

Ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, mới thấy hữu ích thật sự. Dầu một thứ thuốc hay đến đâu, nếu người ta chỉ biết tên, đọc nhãn hiệu, nghiên cứu công thức, mà không chịu uống thì con bệnh không bao giờ lành. Phật tử chịu thực hành lời Phật dạy, như con bệnh chịu uống thuốc, mọi bệnh khổ không còn đeo bám chúng ta. Học Phật pháp mà chỉ để hiểu, để nói thôi thì cũng ví như người khoe khoan, ăn nhiều thứ bánh vẽ, mà bụng vẫn đói. Người học đạo để hành, để tu mới thật chân chánh Phật tử.

 

 

NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHẬT GIÁO

Ban Hoằng pháp Trung ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

PHẬT HỌC CƠ BẢN

Chương trình Phật học Hàm thụ (1998-2020)

Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh

   

NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ PHẬT GIÁO.

Phật giáo được khai sinh từ chiếc nôi thành Ca Tỳ La Vệ (thuộc nước Ấn Độ bây giờ), trải qua hơn 2.500 năm lịch sử, đầy những thăng trầm, có lúc tưởng chừng như đã biến mất hẳn ngay trên bản địa, Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển rộng rãi khắp năm châu. Hiện nay, sự thành tựu vượt bậc của khoa học cùng với tư tưởng tiến hóa của nhân loại đòi hỏi thẩm định lại giá trị của nhiều tư tưởng triết học xưa nay; và đương nhiên, những tư tưởng mang tính phi lý, lạc hậu, phản khoa học đều phải tự đào thải trước những văn minh tiến bộ của loài người. Thế mà tòa nhà cổ 25 thế kỷ của Phật giáo vẫn tồn tại cùng với năm tháng thời gian, sừng sững như cây đại thọ giữa núi rừng trùng điệp. Điều này chứng minh rằng Phật giáo đã toát ra một sức sống mãnh liệt bắt nguồn từ một giá trị chân lý. Tinh thần ấy chính là sự thể hiện giáo pháp trong mỗi đời sống con người. 

Để có thể khái niệm được ý nghĩa về tinh thần Phật giáo, chúng ta có thể liên hệ mấy đặc tính sau đây:

* Nhân bản

* Bình đẳng

* Từ bi

* Vô thường & Vô ngã

NHÂN BẢN

Điểm căn bản nhất mà chúng ta nhận thấy được ở Phật giáo, vị Giáo chủ không phải là một Thần linh, không phải là một Thượng đế đầy quyền uy thưởng phạt, mà là một con người thật sự như bao người khác. Tên Ngài là Sĩ Đạt Ta (Tất Đạt Đa), tiếng Phạn là Siddhàrtha. Ngài thuộc giai cấp Sát Đế Lợi, dòng dõi vua chúa, con của Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da. Ngài sinh ra, lớn lên, đi học; vợ Ngài là Công chúa Da Du Đà La, con Ngài là La Hầu La. Thấu rõ những nỗi thống khổ sinh, già, bệnh, chết..., chứng kiến những lầm than cơ cực của dân chúng trước những bất công của xã hội Ấn thời bấy giờ, Ngài đã từ bỏ gia đình, vợ con, một mình ra đi tìm phương giải quyết những vấn đề ấy. Sau những tháng năm học đạo cùng với những đạo sĩ nổi tiếng bấy giờ, kết quả ấy cũng không giúp được cho vị đạo sĩ trẻ tuổi thông minh Sĩ Đạt Ta giải quyết những vấn đề bức xúc trong lòng. Cuối cùng, Ngài đã quyết định tự mình tìm ra chân lý. Suốt 49 ngày tham thiền nhập định dưới cội Bồ đề, khi sao Mai vừa mọc, Ngài đã thấu đạt được chân lý, hiểu rõ được chân tướng của vạn pháp, Ngài đã giác ngộ thành đạo, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Sự kiện trên đây đã hình thành một khái niệm về tính nhân bản của Phật giáo, con người là trung tâm của Phật giáo, hay nói một cách khác, nếu không có nhân loại thì Phật giáo không hiện hữu trên cuộc đời này.

Trong thế giới quan Phật giáo, chủng loại được chia thành 6: Thiên, Nhơn, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Trong sáu cõi ấy, con người được ca ngợi là hội đủ điều kiện tốt nhất để đạt đến quả vị tu chứng trong Phật giáo. Tuy vậy các cõi ấy đều tồn tại thể hiện qua hình tướng và cuộc sống của chúng sinh. Phật giáo giải thích rằng chúng sanh ở cõi Thiên khó nhận thức được chân tướng khổ đau, vì cuộc sống của họ quá ư sung sướng (đó là những hạng người có phước báu rất lớn từ nhiều đời nhiều kiếp trước, họ sinh ra và lớn lên đều được thọ hưởng theo ý thích của mình, mọi việc đối với họ đều diễn ra êm đẹp, suông sẽ, họ ít bị khổ đau hành hạ, họ thường là những bậc vua chúa, quan chức, đại trưởng giả...). Trái lại, ở các cõi A tu la, Địa ngục, Súc sanh, Ngạ quỷ, chúng sinh vì quá si mê ngu dốt trong hoàn cảnh tối tăm đọa đày nên cũng không dễ gì nắm bắt được giáo nghĩa Phật Đà, (đó là những hạng người chất chứa đầy dẫy tham, sân, si... tạo nhiều nghiệp ác từ nhiều đời nhiều kiếp trước, kể cả trong kiếp hiện tại họ vẫn gây nghiệp, do nghiệp ác chồng chất nên họ luôn bị hành hạ khổ đau trong quả báo luân hồi của mình, họ không thể tiếp cận Phật pháp, không biết quy hướng về điều thiện để tích lũy công đức và phước báu cho mình). Duy chỉ có ở cõi Nhân, bản thân con người cùng hoàn cảnh (người có cơ duyên đủ điều kiện tiếp cận Phật pháp, thích ứng dễ dàng khơi sáng), họ tỉnh giác và nhận thức được bản thân và cuộc đời, nhìn thấu vào những khổ đau của nhân loại và có khả năng khơi sáng ngọn đèn trí tuệ nơi chính tấm thân nhỏ bé này. Vì vậy, đạo Phật còn được gọi là đạo Tỉnh Thức, đạo Giác Ngộ.

Trong quan niệm Phật giáo, con người là chủ nhân của mọi hành vi mà chính bản thân mình tạo ra ở cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, là người duy nhất toàn quyền thưởng phạt cho chính cuộc đời mình; ngoài mình ra, không bất cứ ai hoặc vị Thần linh nào khác có khả năng đưa mình lên Thiên đàng hay đày mình xuống Địa ngục. Kinh Pháp Cú, câu 345, Đức Phật dạy rằng: «Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta. Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta, không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch«.

Lại nữa, Phật giáo luôn luôn đề cao nỗ lực và ý chí của con người. Tinh tấn là một trong những đức tính quyết định việc thành tựu đạo quả Bồ đề, bến bờ Giác Ngộ chẳng bao giờ có dấu chân của kẻ biếng lười và bạc nhược. Với những tâm hồn khát khao tự do tuyệt đối, dốc hết sức mình cùng với sự hiểu biết chánh pháp một cách chân chính, mỗi chúng ta chắc chắn sẽ đạt được những thành tựu lớn, mang đến cho mình và cho muôn loài cuộc sống an vui, phúc lạc đích thực. Bằng ngược lại, cho dù ngàn vị Phật dang tay tế độ cũng không làm sao đưa ta thoát khỏi biển trần lao đầy thống khổ này.

Ngoài ra, Phật giáo còn đề cập đến những trường hợp của những thời kỳ chưa có Đức Phật ra đời, có những con người tự lực, tự vận dụng triệt để ý chí và khả năng của chính mình trong quá trình tư duy, chiêm nghiệm và tu tập đúng đắn, quán tưởng và thấu rõ lý vô thường của vạn pháp, vẫn có thể bừng sáng được chân lý. Đức Phật công nhận những người này là Bích Chi Phật. Tính nhân bản được thể hiện mạnh mẽ ở điểm này. Đây là một đặc điểm ưu việt của đạo Phật mà chúng ta khó tìm thấy ở một giáo lý của bất cứ tôn giáo nào khác, và đạo Phật cũng không thể gọi là tôn giáo hay tín ngưỡng, mà đạo Phật là con đường nhận thức đúng đắn về chân lý cuộc đời. Ở đạo Phật, vị Giáo chủ Sĩ Đạt Ta luôn đề cao khả năng của con người một cách khách quan như vậy, chứ không thần thánh hóa uy lực và có quyền năng thưởng phạt như một Đấng tối cao. Xuất phát từ tính nhân bản này, nhân cách con người được tôn trọng triệt để trong Phật giáo: quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng... đều có một giá trị đích thực. Phần này, chúng ta sẽ bàn thêm ở sau.

Điều đáng nói nhất về khả năng của con người mà Phật giáo luôn nhấn mạnh chính là trí tuệ. Đó là khả năng tối cao của nhân loại, là di sản vô cùng quý báu mà bất kỳ ai nếu biết vận dụng và phát huy đúng đắn đều có thể tận diệt mọi khổ đau, đạt đến bến bờ hạnh phúc. Điều này đã được minh chứng cụ thể qua đời sống của Đức Phật cùng những vị tiền nhân kế thừa trong lịch sử đạo Phật. Đồng thời, Đức Phật đã tuyên bố: «Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật«. Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, từ cuộc sống thô sơ lạc hậu của thời xa xưa cho đến hôm nay, những phát minh khoa học cùng những thành quả vinh quang của nó đã đưa nhân loại đến thời kỳ vàng son của kỷ nguyên hiện đại. Kết quả ấy có được là do từ khả năng khối óc của con người. Dù vậy, theo phân tích của Phật giáo, khả năng đó chỉ mới là giới hạn của một phần trí tuệ, hay nói một cách khác, con người của khoa học chỉ mới vận dụng được cái trí năng của thế gian, chưa phải là đỉnh cao trí tuệ như Đức Phật đã chỉ rõ trong giáo điển, thuật ngữ đó tạm gọi là Trí tuệ Bát nhã, và chính trí tuệ ấy là chiếc chìa khóa vàng duy nhất để mở cánh cửa vô sanh của Niết bàn tịch tĩnh.

Tóm lại, đối với Phật giáo, con người vốn là một chúng sinh ưu việt, có rất nhiều tiềm năng phi thường; nếu chúng ta khéo triển khai thì không gì không thực hiện được trên cõi đời này. Như vậy, ta có thể nói rằng Phật giáo là Phật giáo của con người, xuất phát từ chân lý mà Đức Phật Thích Ca đã tìm ra, Ngài là đấng Giác Ngộ nhưng Ngài cũng là một con người; Ngài đã cất tiếng nói chân thật và có một đời sống rất người, và vì con người mà khai thị chân lý, hướng dẫn con người đến đời sống thực sự an vui.

 

BÌNH ĐẲNG

Chúng ta biết rằng Phật giáo đã ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng phức tạp của một đất nước mà trong đó, đời sống con người phải chịu nhiều bất công, trong chế độ phân chia giai cấp lâu đời của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Giai cấp Bà La Môn tập trung số người tu của 62 đạo phái khác nhau, chủ trương công việc lễ, nghi, tế tự; giai cấp này chiếm vị trí tối cao. Kế đến là giai cấp Sát Đế Lợi, tập trung dòng dõi vua chúa, là giai cấp nắm quyền điều hành xã hội. Giai cấp thứ ba là Tỳ Xá, bao gồm những người buôn bán, tiểu thủ công và người bình dân. Đa phần còn lại thuộc giai cấp Thủ Đà La, họ làm những nghề hạ tiện, cũng gọi là dân nô lệ. Hai giai cấp Bà La Môn và Sát Đế Lợi thuộc giai cấp thống trị, Thủ Đà La và Tỳ Xá thuộc giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối. Vì vậy, người dân nô lệ thì cứ suốt đời làm nô lệ, tạo thành một xã hội bất công, khốn khổ.

Ngay trong buổi hoàng hôn tăm tối của một thực trạng như vậy, một hiền nhân thuộc dòng dõi vua chúa đã dũng mãnh gióng tiếng chuông tiên phong, phá tan bóng đêm của xích xiềng nô lệ và bức tường phi lý của phân chia giai cấp bằng một châm ngôn vĩ đại: «Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn«. Lời tuyên bố hùng hồn ấy của Đức Phật là nền tảng để hình thành một hệ thống giáo lý, mà trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn.

Theo Phật giáo, mọi sai biệt trên thế giới này đều tùy thuộc vào các nhân duyên mà sinh khởi; cũng vậy, sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo khổ, ngu dốt hoặc thông minh... tất cả đều hoàn toàn do hành vi tạo tác của mỗi con người chứ không phải do tự nhiên hay được sắp đặt sẵn theo số mệnh hoặc theo bất kỳ một thông lệ hoặc quy định nào. Dựa trên tinh thần này, sự phân chia giai cấp trở thành phi lý và vô nghĩa. Việc Thái tử Sĩ Đạt Ta từ bỏ ngôi vị đế vương, quay lưng với tất cả vinh hoa phú quý, khước từ mọi đặc ân cao tột dành cho giai cấp vua chúa, một thân độc hành với chiếc áo thô sơ, đầu trần chân đất, vân du đây đó... đã thể hiện tinh thần bình đẳng tuyệt vời của Ngài. Và cũng chính Đức Phật, con người với đời sống giản dị khiêm nhường ấy, đã thể hiện lòng bình đẳng trong suốt cuộc đời giáo hóa chúng sinh. Ngài rải tình thương vô biên xuống tất cả muôn loài một cách công bằng vô phân biệt. Từ hạng người cùng đinh như gã gánh phân, ông thợ cạo tóc cho đến những người giàu sang phú quý, những hạng người thấp hèn ti tiện như gái giang hồ, cho đến các bậc vua chúa quyền uy. Đức Phật luôn thương yêu, chân tình giúp đỡ, khuyên dạy để họ nhận thức được chân giá trị của cuộc sống và tự thăng hoa tâm hồn, đạt đến an lạc, hạnh phúc. Lòng bình đẳng ấy không phải dừng lại ở nhân loại mà lan tỏa đến muôn loài vạn vật. Ngài luôn dạy rằng tất cả sinh vật đều có cùng tâm lý tham sống sợ chết, vì vậy không vì lý do gì mà ta nỡ cướp đi mạng sống của kẻ khác. Tâm trạng buồn nhớ mẹ của một chú cừu non lạc đàn chẳng khác gì sự đau buồn của một người mẹ phải chia lìa với con thơ bởi một nguyên nhân nào đó. Và vì vậy, sinh mạng của một con vật cũng quý như bất kỳ sinh mạng của một ai. Với quan điểm này, trên bước đường du hóa, có lần Đức Phật đã tự tay bế một chú cừu non lạc đàn tìm về với mẹ. Và cũng chính Ngài đã lên tiếng giải thích và vạch rõ những ngu xuẩn của bọn người vì mê tín dị đoan, làm lễ tế thần bằng cách hiến dâng những con thú sống, để cứu lấy con vật vô tội thoát khỏi cái chết hỏa thiêu đau đớn chỉ vì một sự tin tưởng mù quáng.

Trong giáo điển, Phật giáo luôn thể hiện rằng tất cả mọi loài chúng sanh, từ con người cho đến các sinh vật nhỏ bé côn trùng đều tiềm ẩn một khả năng phi thường như nhau, đó là khả năng thành Phật (Phật tính). Nhưng do các đặc tính cố hữu ở mỗi loài, việc triển khai khả năng ấy tùy đó mà khó dễ, nhanh chậm khác nhau. Điều này có thể tóm ý trong một câu kinh: «Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành«.

Đây là nền tảng quan trọng để hình thành tính bình đẳng triệt để trong đạo đức luân lý Phật giáo.

 

TỪ BI

Từ bi là chất liệu không thể thiếu trong Phật giáo. Từ là cảm thông, Bi là thương xót. Đây là trọng trách thiêng liêng mà Phật giáo đã mang trên mình đi suốt 25 thế kỷ qua, bằng mọi cách để thực hiện ở bất cứ nơi nào. Và chính vì sứ mệnh cao cả này mà đạo Phật đã tồn tại trên một lịch sử lâu dài của loài người, và phát triển cũng chỉ bằng chất liệu yêu thương mà hoàn toàn không sử dụng một bạo lực bạo quyền, không dính dáng đến lưỡi gươm mũi súng. Chất liệu yêu thương của Phật giáo như dòng suối mát lịm ngọt ngào đã làm cho vạn vật xanh tươi, cỏ cây đâm chồi nẩy lộc. Cũng vậy, Từ bi đã hiện hữu giữa cuộc đời, là thần dược xoa dịu những nỗi đau nhân thế, hàn gắn những rạn vỡ tình người, xua tan những oán hờn thù hận; và hơn thế nữa, giải quyết những căn bản khổ đau của kiếp phù sinh, đưa ta đến an vui trọn vẹn.

Theo nghĩa căn bản, «Từ« nói cho đủ là Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc, Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ, vắn tắt «Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ«, có nghĩa là lòng Từ thường mang niềm vui cho tất cả chúng sanh, lòng Bi diệt mọi khổ đau cho tất cả chúng sanh. Ở lãnh vực tình cảm, lòng thương yêu của Phật giáo có thể sánh với lòng mẹ thương con bao la rộng rãi. Tuy vậy, khi đi sâu vào ý nghĩa của nó, chúng ta thấy rằng lòng Từ bi là một tình thương vượt qua mọi ranh giới, mọi quan hệ và bao trùm lên trên tất cả muôn loài. Trong thế gian, thương yêu bao giờ cũng đi đôi với hạnh phúc; tuy nhiên, những loại tình cảm ở đời thì chỉ là sự ràng buộc trong một mối quan hệ có lợi ích cá nhân, một đẳng cấp, một chủng loại, một phạm trù nào đó. Khi vượt ra ngoài phạm trù ấy, lắm khi chúng ta lại đối xử xa lạ, hững hờ, kỳ thị với nhau, thậm chí còn dẫn đến chống đối, tàn sát lẫn nhau một cách khủng khiếp.

Trong khi đó, Từ bi vượt lên tất cả mọi tình cảm hẹp hòi của thế gian, không bến bờ, không hạn định. Lòng thương yêu ấy tuyệt nhiên không chứa đựng bất kỳ ý niệm vì lợi ích, kỳ thị nào, dù cho đó là một tín đồ Phật giáo hay không. Đối với Phật giáo, tất cả chúng sinh đều là bạn hữu, và mọi nơi chốn trên thế gian này đều là quê hương xứ sở của mình. Lòng cảm thương vô tận ấy tựa như ánh mặt trời tỏa sáng khắp không gian, bao trùm muôn loài vạn vật, chẳng phân biệt đây hay kia, thân hay sơ, bạn hay thù, giàu hay nghèo, sang hay hèn, người hay vật.

 Từ ý nghĩa này, Phật giáo đã có một tinh thần khoan dung, cảm thông và tha thứ. Chúng ta đang sống giữa một thời đại mà quyền lực và danh vọng đang khống chế con người, tham vọng nhân loại bùng phát một cách cùng cực, chiến tranh liên tục xảy ra, những cuộc chạy đua kinh tế, chính trị, quân sự đang phô bày khắp nơi trên thế giới, lửa hận thù tràn ngập khắp hành tinh. Thảm trạng này đang là cơ hội đưa nhân loại đến vực thẳm của diệt vong. Chính ngay lúc này, Từ bi là chất liệu rất cần thiết cho cuộc đời; và chỉ có vận dụng lòng thương yêu ấy của Phật giáo, chúng ta mới thật sự có đủ năng lực dập tắt ngọn lửa chiến tranh và hận thù đang ngút ngàn giữa buổi hoàng hôn của thế kỷ 21 này.

Đức Phật dạy: «Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương yêu mới dập tắt được hận thù, đó là định luật của ngàn xưa«.

 

VÔ THƯỜNG VÀ VÔ NGÃ

Nhận xét về thế giới và vũ trụ, Phật giáo khẳng định rằng mọi sự vật hiện tượng trên đời đều không có một hình tướng nào cố định, tất cả đều luôn luôn biến đổi, chuyển động không ngừng; hay nói cách khác, vạn pháp luôn luôn đang biến diệt từng sát na - đây là vận động của Vô thường. Trong khi đó, nhận thức thông thường của chúng ta tưởng chừng như mọi sự vật đang thực sự hiện hữu và cố định; kỳ thực, tất cả đều đang chuyển động một cách vi tế mà ta khó nhận rõ được. Nhưng nếu bình tâm và chịu khó quan sát, ta có thể thấy được điều này; chỉ cần nhìn vào các sự vật quen thuộc nhất trong đời sống thường nhật như các bộ phận cơ thể, cái bàn, căn nhà v.v..., ta sẽ nhận thức được ý nghĩa ấy. Trong cơ thể, ta nhận thấy các tế bào đang sinh khởi và biến diệt, từng hơi thở cũng đang sinh khởi và biến diệt, ý nghĩ vọng tưởng trong đầu đang sinh khởi và biến diệt... từ lúc sinh ra ta biến đổi dần thành lớn lên và già đi rồi chết. Xét đến vật chất, ta thấy cái bàn khi mới được đóng thành, nó rất mới; nhưng qua một thời gian, nó đã trở thành cũ rồi mục rã. Và cứ thế, tất cả các sự vật cũng đều cùng tuân thủ theo một quy luật như vậy, ta có thể nói rằng tất cả tướng trạng của sự vật đều chỉ là tạm thời; và vì chúng luôn chuyển đổi, nên sự vật mà ta nhận biết được chẳng qua cũng chỉ là một chuỗi thay đổi liên tục của vô số tướng trạng từ mới đến cũ, từ trẻ đến già, từ sanh đến diệt... Phật giáo tạm phân quá trình vận động ấy thành 4 giai đoạn «sanh, trụ, dị, diệt« hoặc «thành, trụ, hoại, không«. Đó chính là chuỗi vận động của Vô thường tính.

Mặc khác, theo Phật giáo, tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều hoàn toàn không có một cái chủ thể nhất định, luôn luôn là duyên sanh nương tựa vào nhau mà thành. Ví như sự có mặt của một trái quít, khi trái quít được sinh ra cần phải có cây quít, cây quít được sinh ra cần phải có đất, nước, không khí, sức nóng và ánh sáng mặt trời, cần phải có nơi chốn khí hậu phù hợp, cần phải có đủ các yêu tố tự nhiên, rồi những yêu tố tự nhiên ấy có mặt nhờ vào sự có mặt của trái đất và vũ trụ... vì vậy, trái quít có mặt trên đời là nhờ vào duyên sinh khởi của tất cả vạn vật mà hợp thành. Con người hay bất cứ một sự vật hiện tượng nào đều phải có nhân duyên sinh khởi như thế. Trong con người có tất cả vũ trụ và trong tất cả vũ trụ có con người. Và vì vậy, tất cả đều vô ngã, nghĩa là không có một tướng trạng nào nhất định, nương nhau mà thành, bất di bất dịch. Đây gọi là Vô ngã tính.

Liên hệ đến bản thân của mỗi người, vì không thấy rõ được sự thật của tướng trạng này, không nhận biết được sự giả hợp của ngũ uẩn tạo thành tấm thân này; nên ngay từ lúc lọt lòng mẹ, một cái tên gọi cùng với nhận thức sai lầm về cái “Tôi” đã tạo thành một sự ngộ nhận căn bản về sự hiện hữu và giá trị của một con người. Từ đó, bản ngã và sự ích kỷ hình thành; đây chính là xiềng xích trói buộc con người vào bao nỗi thống khổ, mà tự chúng ta đã mang suốt cả kiếp người. Chính ảo mộng về một cái “Tôi” và những cái “của Tôi” đã đưa đến thảm trạng chiến tranh, hận thù cấu xé lẫn nhau.

Phật giáo đã soi sáng chân tướng của vạn pháp bằng ánh sáng của chân lý vô ngã. Sự soi sáng ấy không nhằm mục đích thỏa mãn tri thức của nhân loại, mà nó mang ý nghĩa về một sự thật của tướng trạng, của con người và thế giới, nhằm mục đích xây dựng cho nhân loại một nhận thức đúng đắn, hướng đến một nếp sống cao đẹp, đầy tình người. Thật vậy, một khi chúng ta nhận thức được bản chất thực của thân tâm mình, thấu rõ được cái gọi là “Ta”, là “Tôi”, là “của Tôi”, chỉ là những gì rất ảo tưởng, không bền chắc, luôn biến chuyển. Khi ấy, bức tường thành của nhận thức ích kỷ, hẹp hòi mới thực sự sụp đổ, ranh giới của chủ nghĩa cá nhân mới bị xóa nhòa, thành trì của bảo thủ mới thực sự bị phá vỡ, lòng bao dung vị tha sẽ bừng sáng trong tâm hồn mỗi con người, nhân loại xích lại gần nhau để mỉm cười, thương yêu và cùng sống hòa bình thân ái với nhau trong tinh thần khoan dung và tha thứ, sẵn sàng quên đi những lầm lỗi mà chúng ta đã từng gây tạo cho nhau. Hạnh phúc thực sự hiện hữu ngay trên quả đất này.

Tóm lại, tinh thần Vô ngã vị tha là một trong những điểm quan trọng khiến Phật giáo phát huy và tồn tại khi đi đến bất cứ một quốc gia nào. Chính điểm này là một trong những căn bản tạo nên mạch sống cho Phật giáo tồn tại cùng với lịch sử tiến hóa của nhân loại, và bao giờ Phật giáo cũng luôn hiện hữu chỉ vì hạnh phúc và an sinh của loài người. Với tình trạng hiện thời của thế giới, tiếng chuông báo động của các nhà khoa học về các mối nguy cơ của trái đất và an sinh của loài người đang gióng lên liên tục, sinh mệnh của nhân loại đang bị đe dọa bởi quá nhiều nguyên nhân cũng do chính con người gây tạo ra. Ngồi lại với nhau trong tình thương yêu, đoàn kết liên hiệp trong cùng một chí hướng là điều quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên. Tinh thần vô ngã vị tha, lòng từ bi, sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau là nhân tố cần thiết để thực hiện được điều ấy.

 

KẾT LUẬN

Những điều vừa trình bày trên đây: Nhân bản, Bình đẳng, Từ bi, Vô thường & Vô ngã là những trọng điểm được đề cập trong Phật giáo, nhưng đó chính là những yếu tố cần thiết của con người nếu muốn tạo hạnh phúc thật sự cho chính mình và thiết lập một nền hòa bình thực sự cho nhân loại. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, Phật giáo là Phật giáo của con người, nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản nhất của con người. Mặc dù đối tượng của Phật giáo là tất cả chúng sinh, nhưng con người là trung tâm điểm, là đối tượng duy nhất để mang bức thông điệp trao cho cuộc đời, là loại chúng sinh có khả năng tốt nhất để thực hiện bức thông điệp ấy. Thực hiện bức thông điệp ấy có nghĩa là phải thực sự vận dụng được những tinh hoa Phật giáo vào trong đời sống và thân tâm của chính mình.

Mặc dù đời sống luôn biến đổi theo dòng chảy của thời gian, nhưng trong sự mong manh phù du ấy của cuộc đời, ta vẫn luôn nhìn thấy được một điều gì thật dễ thương, thật ý nghĩa, thật thú vị giữa trần gian mộng mị. Và chỉ khi nào thực sự sống trọn vẹn trong tinh thần cao đẹp ấy của Phật giáo, chúng ta mới trọn hưởng niềm hạnh phúc vô biên.


Lời Nói Đầu

    Chân Tâm kính gửi những lời chân thành đến những Phật tử đã có duyên tìm hiểu về giáo pháp của đạo Phật. Bước đầu tu tập tuy rất khó khăn nhưng quan trọng, Phật tử phải hiểu rõ được chân lý của đạo Phật mang lại, thực hành tu tập cũng giống như lội ngược dòng với những thói quen xưa củ sai lầm để tìm về bản chất chân như của chính mình. 

    Vì lẽ ấy nên để giúp mọi người thoát khỏi lầm lẫn mê muội của vô minhChân Tâm mạnh dạn chia sẽ những kiến thức cơ bản nhất trong Phật giáo cũng như mang đến những thông tin cần thiết cho các Phật tử làm hành trang tu tập, cốt yếu có một bước đi vững vàn hơn, cách tu tập phù hợp hơn với hiện tại và mai sau cho những Phật tử mới bắt đầu học Phật hoặc những ai đã và đang phân vân về lẽ tu hànhBản chất của Phật Giáo đã là chân lý, là sự thật, nếu đã chọn một con đường giải thoát, thì chúng ta đừng nên hiểu sai lệch và hời hợt để rồi cứ lẫn quẩn trong nghiệp báo luân hồi sanh tử này. Với lòng nhiệt tình, Chân Tâm mong rằng những thông tin mà các Phật tử nhận được sẽ luôn bổ ích và thỏa được sự mong cầu tìm đường qua bến bờ giác ngộ.




Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***