4 thg 6, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 2

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 2

CÁI SỢ ĐÍCH THỰC.

Chúng ta sợ chết, sợ chia lìa và chúng ta sợ trở thành hư vô. Người Tây phương rất sợ trở thành hư vô. Khi họ nghe nói về sự trống rỗng thì họ rất sợ. Nhưng trống rỗng chỉ là sự vắng mặt các ý niệm. Không, tĩnh lặng hay trống rỗng, không có nghĩa trái ngược với sự sinh tồn. Nói không có nghĩa là hư vô, không có nghĩa là không còn gì hết. Cần phải loại bỏ ý niệm hiện hữu và không hiện hữu. Trống rỗng là một công cụ giúp ích cho chúng ta.

Thực tại không liên quan gì đến chuyện có hay không, hiện hữu hay không hiện hữu. Khi Shakespeare nói “To be or not to be - that is the question” (Hiện hữu hay không hiện hữu - đó là vấn đề), Bụt trả lời: “Hiện hữu hay không hiện hữu, đó không phải là vấn đề”. Có hiện hữu hay không hiện hữu chỉ là hai ý niệm trái ngược nhau, chúng không phải là chân lý và chúng không diễn ta được chân lý.

Sự giác ngộ tỉnh thức không những loại bỏ được ý niệm về thường hằng mà nó còn loại bỏ được cả ý niệm về vô thường.. Ý niệm về trống rỗng cũng thế. Trống rỗng cũng chỉ là một khí cụ, và nếu bạn bị kẹt vào bất cứ ý niệm nào, bạn cũng đi lạc đường. Bụt nói trong kinh Người Bắt Rắn (Ratnakuta): “Nếu bạn bị kẹt vào ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu (Có hay Không) thì ý niệm về sự trống rỗng giúp cho bạn được tự do. Nhưng khi bạn kẹt vào ý niệm trống rỗng thì không còn hy vọng”. Giáo lý về sự trống rỗng là một công cụ giúp cho bạn hiểu sự thật về Không, nhưng nếu bạn coi dụng cụ đó là giác ngộ thì bạn đã bị kẹt vào ý niệm đó rồi.

Nếu bạn có ý niệm về Niết bàn, thì nên loại bỏ nó đi. Niết bàn không chứa đựng bất kỳ ý niệm nào hết, kể cả ý niệm về nó. Nếu bạn kẹt vào ý niệm Niết bàn tức là bạn vẫn chưa chạm được tới Niết bàn. Chúng ta thực tập để xả bỏ hết tất cả các ý niệm. Sự khám phá và hiểu biết sâu xa đó khiến cho Bụt vượt thoát được mọi sợ hãi, lo âu, mọi khổ đau và vượt qua khỏi vấn đề sinh tử.

BÀI 1

ĐỐT CHÁY CÁC Ý NIỆM

Bạn có một que diêm, bạn có nhân duyên để tạo ra lửa. Nếu ngọn lửa bạn đốt lên bằng que diêm đó đủ thời gian, nó sẽ đốt cháy luôn que diêm. Que diêm tạo ra lửa và lửa đốt cháy que diêm, giáo pháp vô thường cũng vậy. Nó giúp ta tỉnh thức về sự vô thường, và sự giác ngộ đó là đốt cháy ý niệm của ta về vô thường.

Chúng ta phải vượt qua ý niệm về thường, nhưng ta cũng phải vượt qua ý niệm về vô thường. Như thế chúng ta có thể chạm tới Niết bàn. Vô ngã cũng vậy. Vô ngã giống như que diêm, nó giúp gây ra lửa trí tuệ để hiểu về vô ngã và cũng chính ngọn lửa vô ngã sẽ đốt que diêm vô ngã.

Tu tập không phải là thu thập và chất chứa một đống các ý niệm về vô thường, vô ngã, Niết bàn hay ý niệm nào khác. Đó là công việc của một cái máy thu băng. Thuyết giảng và chia sẻ về các ý niệm đó không phải là cách học và hành trì Phật pháp. Ta có thể tới trường Đại học để học Phật pháp, nhưng chúng ta sẽ chỉ học lý thuyết và các khái niệm. Chúng ta nên vượt lên trên các ý niệm để có được tánh giác, và nhờ đó sẽ đốt cháy được hết các ý niệm trong ta, để ta được tự do.

BÀI 2

NIẾT BÀN Ở ĐÂU?

Hãy nhìn một đồng xu. Một bên là mặt phải, một bên là mặt trái. Hai bên không thể hiện hữu nếu thiếu một bên. Kim loại làm ra đồng xu, không có kim loại thì không có đồng xu. Ba yếu tố kim loại, mặt phải, mặt trái liên quan với nhau. Ta có thể mô tả kim loại giống như Niết bàn, mặt phải và mặt trái có thể coi như biểu hiện của vô ngã và vô thường. Qua mặt phải hay trái, ta có thể chạm được và cảm được sự hiện hữu của kim loại. Tương tự vậy, nếu nhìn sâu vào bản chất của vô thường và vô ngã, bạn có thể tiếp xúc được với bản chất của Niết bàn.

Niết bàn trong bình diện tuyệt đối (bản môn) không thể tách rời khỏi Niết bàn trong bình diện tương đối (tích môn). Khi bạn thật sự chạm được tới Niết bàn tương đối thì bạn cũng tiếp xúc được với Niết bàn tuyệt đối. Bản thể luôn luôn có sẳn trong bạn. Đối với người có tu học, điều quan trọng là bạn phải tiếp xúc được với tự tánh vô thường vô ngã của bạn. Nếu thành công, bạn có thể tiếp xúc được với Niết bàn và không còn sợ hãi nữa. Bây giờ bạn có thể cưỡi trên ngọn sóng sinh tử và mỉm cười thanh thoát.

BÀI 3

TÍCH MÔN VÀ BẢN MÔN

Ngày thường, ta nhìn vào thực tại qua bình diện tương đối (tích môn), nhưng ta cũng có thể nhìn các thực tại đó qua bình diện tuyệt đối (bản môn). Thực tại có thể biểu hiện  ra ở cả hai bình diện tương đối và tuyệt đối. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đều có những điều cần làm trong bình diện tương đối, nhưng mỗi chúng ta cũng có những quan tâm trong bình diện tuyệt đối.

Khi chúng ta tìm Thượng đế hay Niết bàn ở trạng thái bình an sâu xa nhất, là chúng ta đang đi tìm tuyệt đối. Chúng ta không chỉ quan tâm tới những chuyện bình thường trong đời sống như danh vọng, tiền tài, lợi ích, địa vị xã hội, các dự án… mà chúng ta quan tâm tới bản chất chân thật trong ta. Thiền quán sâu xa là bắt đầu thực hiện điều quan tâm tới bình diện tuyệt đối của mình.

BÀI 4

SÓNG VÀ NƯỚC

Khi bạn nhìn trên mặt biển, bạn thấy các đợt sóng lên xuống nhấp nhô. Bạn có thể mô tả sóng này cao, sóng này thấp, sóng lớn hay nhỏ, sóng mạnh hay yếu, sóng đẹp  hay không đẹp. Bạn có thể mô tả sóng lúc bắt đầu, lúc chấm dứt, sóng được sinh ra và sóng bị hoại diệt. Giống như tích môn hay trong bình diện tương đối, chúng ta quan tâm đến sinh-diệt, mạnh-yếu, đẹp-xấu, bắt đầu và chấm dứt… của mọi sự vật.

Nhìn cho sâu, chúng ta thấy sóng đồng thời cũng là nước. Một lọn sóng hình như muốn đi tìm bản thể của nó. Nó có thể đau khổ và rối ren. Ngọn sóng có thể nói “tôi không lớn bằng các ngọn sóng kia”, “tôi không đẹp bằng các sóng khác”, “tôi vui sướng”, “tôi bị đàn áp”, “tôi sinh ra đời và tôi sẽ chết đi”. Ngọn sóng có thể vui buồn vì các ý nghĩ đó. Nhưng nếu sóng uốn mình xuống để tiếp xúc với bản chất của nó thì nó sẽ thấy nó cũng chỉ là nước. Sự lo lắng và rối ren của sóng sẽ biến mất.

Nước không bị ràng buộc bởi sự sinh diệt của sóng. Nước được tự do, không sợ cao hay thấp, đẹp hay xấu, sinh hay diệt. Khi nói về các cặp từ tương phản cao-thấp, đẹp-xấu, sinh-diệt…, đó chỉ là những từ ngữ nói về sóng. Đối với nước, những từ ngữ đó vô giá trị.

Bản chất thực sự của chúng ta là vô sinh bất diệt. Chúng ta không cần phải đi tới đâu mới tìm thấy được bản chất chân thực của mình. Sóng không cần đi tìm nước và chính nó là nước. Chúng ta không cần đi tìm Thượng đế hay Niết bàn, hay bản chất tuyệt đối, vì chúng ta là Niết bàn, là Thượng đế.

Bạn chính là điều bạn đi tìm. Bạn chính là thứ bạn đang muốn trở thành. Bạn có thể nói với sóng: “Sóng ơi, em chính là nước rồi, em không cần đi đâu để tìm nước nữa. Bản chất em chính là bản chất không phân biệt, không sống chết, không có cũng không không”.

Hãy thực tập như sóng. Hãy kiên trì nhìn sâu vào chính mình và nhận biết rằng bản thể của bạn là vô sinh bất diệt. Bạn sẽ đạt tới tự do và vô úy bằng cách này. Phương pháp thực tập này giúp chúng ta sống không sợ hãi và chết một cách bình an, không hối tiếc.

Nếu bạn đang mang trong mình một nỗi đau lớn, nếu bạn mới mất người thân, nếu bạn đang sống trong sự lo lắng, sợ cái chết, trong lãng quên và hoại diệt, xin hãy học phương pháp này và bắt đầu thực tập. Nếu bạn thực tập giỏi, bạn có thể nhìn đám mây, bông hoa, hòn sỏi và em bé bằng con mắt mà Bụt đã mở ra cho bạn. Bạn sẽ hết sợ hãi, lo âu, phiền não. Bạn sẽ có sự bình an thật sự, sẽ trở nên mạnh mẽ và vững vàng, có thể mỉm cười dù mọi chuyện xảy ra với mình. Sống như thế, bạn có thể giúp được nhiều người chung quanh bạn.

BÀI 5

BẠN Ở ĐÂU TRƯỚC KHI RA ĐỜI?

Nhiều khi bạn nhận được câu hỏi: “Bạn sinh ngày nào?” Nhưng bạn có thể tự hỏi chính mình một câu hỏi hay hơn: “Trước ngày tôi được sinh ra, tôi đã ở đâu?”

Nếu bạn hỏi một đám mây: “Mây sinh ngày nào? Trước khi sinh ra mây ở đâu?”, nếu bạn lắng nghe, bạn sẽ có thể nghe được câu trả lời.

Bạn có thể tưởng tượng mây sinh ra đời bằng cách nào. Trước khi sinh ra, nó là nước trên mặt biển hay mặt sông, rồi nước bốc thành hơi, hơi nước bay lên cao gặp không khí lạnh ngưng tụ lại tạo thành mây. Mây cũng có mặt trời vì chính mặt trời làm cho nước bốc thành hơi. Không khí cũng có trong mây, vì không khí làm cho hơi nước ngưng tụ lại. Mây không tới từ hư không, mây chỉ là sự chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác. Không có chuyện một vật sinh ra từ hư không.

Sớm hay muộn, mây cũng sẽ biến thành mưa hay tuyết, hay nước đá. Nếu bạn nhìn cho sâu vào mưa, bạn sẽ nhìn thấy mây. Mây không mất đi, nó chuyển hóa thành mưa, và mưa thấm xuống đất, chuyển hóa một phần vào trong cây cỏ, cây cỏ vào trong cơ thể con bò, con bò tạo ra sữa và sữa dùng để con người uống. Khi bạn uống một ly sữa bò, bạn hãy dành thời gian nhìn nó và nói: “Chào đám mây, mình nhận ra bạn rồi”. Làm như vậy, bạn sẽ giác ngộ được bản chất thật của sữa và của mây. Bạn cũng có thể thấy biển, sông, mặt trời, gió, mưa, con bò trong ly sữa đó.

Nhìn cho sâu, bạn sẽ không thấy ngày sinh và ngày chết của đám mây, chỉ có đám mây chuyển hóa thành mưa hay thành tuyết. Không có gì thực sự sinh ra và chết đi vì luôn luôn có sự nối tiếp không ngừng nghỉ của các sự vật trong thế gian này.

Trước khi sinh ra, đám mây đã có mặt ở đó rồi, với một hình thái khác là biển, là sông, là hơi nước. Hôm nay, khi bạn uống một ly sữa hay một tách trà, ăn một ly kem, xin hãy theo dõi hơi thở. Hãy nhìn vào ly sữa hay tách trà và gửi lời chào đám mây.

Bụt dùng nhiều thời gian để nhìn sâu vào mọi sự vật, chúng ta cũng vậy. Bụt không phải là Thượng đế, Ngài là một con người  giống như chúng ta. Ngài có sự đau khổ nên Ngài tu tập, vì vậy Ngài vượt thoát được đau khổ. Ngài có trí tuệ lớn, có hiểu biết và từ bi. Vì thế nên chúng ta nói Ngài là bậc thầy, là huynh trưởng của ta.

Chúng ta sợ chết là bởi vì chúng ta không hiểu rằng không có gì thực sự mất đi. Người ta nói Bụt đã chết, nhưng không phải thế. Bụt còn đang sống. Khi nhìn chung quanh, ta sẽ thấy Bụt dưới nhiều hình thái khác nhau. Bụt đang ở trong bạn vì bạn có thể nhìn sâu và thấy được mọi sự đều không sinh ra hay mất đi. Có thể nói bạn là một hình thái mới của Bụt, một tiếp nối của Bụt. Đừng coi thường chính mình. Hãy nhìn ra chung quanh, bạn sẽ thấy Bụt được tiếp nối ở khắp nơi.

BÀI 6

TÔI CÓ PHẢI LÀ TÔI CỦA NGÀY TRƯỚC?

Tôi có một tấm hình chụp hồi tôi mười sáu tuổi. Đó có phải là hình tôi chăng? Tôi không tin lắm. Ai là cậu bé trong hình? Đó chính là tôi hay là một ai khác? Hãy nhìn cho kỹ trước khi trả lời.

Nhiều người nói đứa bé trong hình và tôi là một. Nếu nói là tôi thì sao trông chú bé đó khác quá vậy? Chú bé đó còn sống hay đã chết? Cậu ta không giống tôi mà cũng không khác tôi. Một số người nhìn tấm hình lại cho rằng cậu bé trong đó không còn ở đây nữa.

Con người gồm có cơ thể (sắc), các cảm xúc (thọ), các nhận thức (tưởng), các loại ý nghĩ (hành), các hiểu biết (thức). Mọi thứ đó đều đã thay đổi trong tôi kể từ khi chụp tấm hình ấy. Cơ thể của cậu bé trong hình không còn là cơ thể của tôi ngày nay - một ông già bảy mươi tuổi. Các cảm thọ khác nhau, nhận thức cũng khác nhau. Hầu như tôi hoàn toàn khác với con người của cậu bé đó, nhưng nếu cậu ta không hiện hữu thì tôi cũng không có mặt bây giờ được.

Tôi là sự tiếp nối, sự chuyển hóa liên tục của ngũ uẩn này, cũng như mưa là sự tiếp nối của đám mây. Khi nhìn tấm ảnh, bạn có thể thấy tôi khi già. Bạn không cần phải đợi vài chục năm nữa. Khi cây chanh nở hoa, bạn có thể không nhìn thấy trái chanh nào, nhưng bạn biết rằng, trái chanh đã có ở đó. Bạn chỉ cần một nhân duyên để làm cho trái chanh hiển hiện, đó là thời gian. Trái chanh có sẵn trong cây chanh. Nhìn cây chanh, bạn chỉ thấy cành lá và hoa chanh. Nhưng với thời gian, hoa chanh sẽ biểu hiện ra thành trái chanh.

BÀI 7

HOA HƯỚNG DƯƠNG THÁNG TƯ

Nếu bạn tới nước Pháp vào tháng Tư, bạn sẽ không thấy bông hoa hướng dương nào cả. Nhưng quanh Làng Mai, vào tháng Bảy, hoa hướng dương nở rộ khắp nơi. Những bông hoa đó ở đâu trong tháng Tư? Nếu bạn tới Làng Mai và nhìn cho sâu, bạn sẽ thấy chúng. Nông phu đã cày và gieo hạt, hoa hướng dương chỉ chờ một điều kiện nữa để hiển lộ mà thôi. Chúng chờ thời tiết ấm áp của tháng Năm và tháng Sáu. Hoa hướng dương đã có ở đó nhưng chúng chưa biểu hiện đầy đủ.

Nhìn sâu vào một hộp diêm quẹt, bạn có thấy lửa trong đó không? Nếu thấy, tức bạn đã hiểu biết. Khi nhìn sâu vào hộp diêm, chúng ta thấy lửa ở đó. Nó chỉ cần người nào đó cửa động vài ngón tay là lửa hiện ra. Chúng ta nói: “Lửa ơi, ta biết em đang ở đó. Bây giờ ta giúp em biểu hiện ra”.

Lửa luôn có trong diêm và trong không khí. Nếu không có dưỡng khí, ngọn lửa cũng không hiện ra được. Nếu bạn thắp một ngọn nến rồi phủ kín nó bằng một vật gì đó, ngọn lửa sẽ tắt vì thiếu oxy. Ngọn lửa chỉ tồn tại được nhờ có những điều kiện cần thiết cho nó. Ngọn lửa có mặt khắp mọi nơi trong không gian, trong thời gian và trong tâm thức của chúng ta. Ngọn lửa có ở khắp nơi, chờ biểu hiện ra, và chúng ta là một trong các điều kiện để nó xuất hiện. Khi ta thổi vào ngọn lửa, hơi thở đó là một nhân duyên khiến cho ngọn lửa đó ngừng biểu hiện dưới hình thái ngọn lửa.

Chúng ta có thể dùng que diêm thắp hai ngọn nến rồi thổi tắt ngọn lửa trên que diêm. Bạn có nghĩ ngọn lửa trên que diêm đó đã chết không? Lửa không có tính chất sinh-diệt. Câu hỏi là: “Ngọn lửa trên hai cây nến kia là một hay hai thứ lửa”.

- Nó không là một và cũng không khác nhau.

Câu hỏi khác: “Ngọn lửa trên que diêm chết hay không chết?”

Bản chất của nó là không chết đi và cũng không sinh ra. Nếu ta để cho cây nến cháy trong một giờ đồng hồ, thì ngọn lửa đó vẫn thế hay đã biến thành ngọn lửa khác? Tim nến (bấc), chất sáp và dưỡng khí đều đã thay đổi. Do đó ngọn lửa cũng đã thay đổi. Vậy thì ngọn lửa không giống và cũng không khác ngọn lửa trước kia.

BÀI 8

“CÓ”, CHẲNG TRÁI NGƯỢC VỚI “KHÔNG”

Chúng ta thường quan niệm “Có” là sự trái ngược với “Không”. Ý niệm đó không còn vững chắc, cũng như ý niệm về trái-phải. Hãy nhìn một cây bút. Chúng ta có thể cắt hết phần bên phải của nó không? Nếu chúng ta dùng dao, cắt đi một nữa cây bút thì chỗ còn lại vẫn có phần bên phải. Các đảng chính trị thiên tả và hữu khuynh bao giờ cũng hiện diện, vì nếu có tả thì phải có hữu.

Vậy thì những người có khuynh hướng chính trị thiên tả (trái), thì nên mong mỏi sự hiện diện của phái thiên hữu (phải). Nếu ta diệt phái thiện hữu thì phái thiên tả cũng không còn. Bụt dạy: “Cái này có vì cái kia có. Thứ này có mặt vì thứ kia có mặt”. Đó là bài giảng của Bụt về sự hình thành thế giới. Đó là giáo pháp tương duyên tương sinh. Ngọn lửa có ở đó vì que diêm có đó. Nếu không có que diêm thì cũng không có lửa.

BÀI 9

GIẢI ĐÁP NẰM BÊN TRONG

Lửa từ đâu tới? Nguồn gốc của nó là gì? Chúng ta nên nhìn sâu vào câu hỏi này. Chúng ta có nên ngồi thiền chiêm nghiệm câu hỏi này chăng? Tôi chắc chắn rằng bạn không cần làm thế, bạn đã có sẳn câu trả lời trong bạn. Chỉ cần chờ thêm một điều kiện nữa là nó hiện ra thôi. Bụt dạy ai cũng có Phật tánh. Phật tánh là khả năng giúp chúng ta hiểu và tiếp xúc được với bản chất của mình. Câu trả lời đã có sẳn trong bạn. Một người thầy cũng không thể giúp bạn trả lời. Vị thầy có thể chỉ cho bạn phương pháp thực tập để bạn tiếp xúc với Chánh niệm, khả năng tỉnh thức lớn (trí tuệ) và từ bi trong bạn. Bụt giúp bạn bước vào cánh cửa trí tuệ mà bạn đã có sẳn.

Nhiều người trong chúng ta hỏi” “Chúng ta về đâu sau khi chết? Chuyện gì xảy ra khi đó?” Chúng tôi có những thân hữu mất đi người thân, họ nói rằng: “Bây giờ họ ở đâu? Họ đi tới đâu rồi?”. Các triết gia hỏi: “Con người từ đâu tới, vũ trụ và thế giới này từ đâu sinh ra?”

Khi chúng ta nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng nếu đầy đủ nhân duyên, thì mọi sự vật sẽ biểu hiện. Sự biểu hiện đó không tới từ đâu cả. Và khi nó ngừng biểu hiện thì nó cũng không đi đâu hết.

BÀI 10

SÁNG TẠO.

Sáng tạo có nghĩa là từ Không có gì bỗng nhiên ta  một thứ gì đó. Tôi thích dùng từ biểu hiện hơn là từ sáng tạo. Nhìn cho kỹ, ta sẽ hiểu được chữ sáng tạo cũng có nghĩa là biểu hiện. Cũng như khi ta hiểu được rằng đám mây là biểu hiện của cái gì đó đã có sẵn, và mưa là biểu hiện sau đó của đám mây; chúng ta sẽ hiểu được rằng con người cũng như mọi sự vật chung quanh, không tới từ nơi nào và cũng chẳng đi tới đâu hết. Biểu hiện không đối nghịch với hoại diệt. Đó chỉ là sự chuyển hóa. Hiểu rằng đời sống của con người và vũ trụ chỉ là những biểu hiện, chúng ta sẽ được bình an vô cùng. Nếu bạn đang đau khổ vì mất một người thân thương, xin hãy tập nhìn sâu để hàn gắn vết thương trong bạn.

Có những nhà thần học nói rằng Thượng đế là nền tảng của tạo vật. Nhưng tạo vật nào? Đó không thể là những gì hiện hữu đối nghịch với cái không hiện hữu. Nếu có ý niệm cho hiện hữu là trái ngược với không hiện hữu, thì đó không phải là Thượng đế. Thượng đế vượt thoát được tất cả mọi ý niệm, kể cả ý niệm sáng tạo và hủy diệt. Nếu bạn nhìn sâu vào ý niệm sáng tạo với trí tuệ, hiểu rõ về sự biểu hiện, bạn sẽ khám phá được ý nghĩa sâu xa của chữ sáng tạo. Bạn sẽ thấy rằng không có gì sinh ra, không có gì mất đi, chúng chỉ là những biểu hiện của sự chuyển hóa mà thôi.

BÀI 11

TÌM SỰ CỨU RỖI

Chúng ta tìm tới các truyền thống tâm linh, tới nhà thờ, đền Do Thái giáo hay Hồi giáo, hoặc tới chùa miếu, để tìm các phương pháp giúp chúng ta bớt khổ. Nhưng chúng ta chỉ đạt được tình trạng thoát khổ khi ta có khả năng tiếp xúc được với bình diện tuyệt đối. Trong đạo Thiên Chúa và Do Thái giáo, người ta gọi bình diện đó là Thượng đế. Thượng đế là bản tính chân thật của ta, là bản chất không sinh không diệt. Vì thế, nếu bạn biết tin cậy vào Thượng đế, tin vào bản chất chân thật của ta thì ta sẽ không còn sợ hãi và lo âu nữa.

Đầu tiên, hãy nghĩ tới Thượng đế như một con người. Nếu bạn có các ý niệm và quan điểm về Thượng đế thì bạn vẫn chưa thấy được bản chất của Thượng đế. Ngài vượt lên trên mọi ý niệm của ta. Thượng đế không phải là một con người nhưng cũng không phải là phi nhân. Con sóng vô minh thường sợ hãi chuyện sống-chết, cao-thấp, đẹp-xấu hay ghen tuông. Nhưng khi sóng có thể tiếp xúc được với bản chất thật của nó, thì sóng biết nó cũng là nước. Bao nhiêu lo sợ, giận hờn của nó sẽ tan biến. Nước không có chuyện sống hay chết, không có chuyện cao hay thấp.

BÀI 12

NHÂN DUYÊN

Khi chúng ta nhìn vào một vật gì, như căn nhà hay cái bàn chẳng hạn, chúng ta thường nghĩ rằng căn nhà hay cái bàn đó làm bằng chất liệu gì, là một hay nhiều người đã làm ra. Ta có khuynh hướng muốn tìm ra nguyên nhân đã tạo ra căn nhà hay cái bàn. Ta liền đi tới kết luận là căn nhà do thợ xây nhà làm nên, cái bàn do người thợ mộc tạo thành. Ai đã tạo ra cái bàn? Người thợ mộc ư? Ai tạo ra bông hoa? Đất hay người làm vườn?

Chúng ta thường suy nghĩ một cách đơn giản về nguyên nhân của sự vật. Ta thường cho rằng chỉ cần một nhân duyên là đưa tới sự vật kia. Khi thực tập nhìn sâu, ta thấy rằng một nguyên nhân không bao giờ có thể tạo ra kết quả được. Chỉ người thợ mộc thôi thì không đủ nhân duyên để tạo ra cái bàn. Nếu ông ta không có dụng cụ như đinh, cưa gỗ, thời gian, không gian, vật liệu gỗ, thức ăn, không có cha mẹ sinh ông ta và bao nhiêu nhân duyên khác, thì làm sao ông tạo ra được cái bàn? Con số nguyên nhân đó nhiều vô kể.

Khi nhìn bông hoa, chúng ta cũng thấy như vậy. Người trồng hoa chỉ là một nguyên nhân. Phải có hạt giống, đất, nước, không khí, mặt trời, phân bón, không gian trồng, thời gian để cây phát triển và còn nhiều, rất nhiều những thứ khác nữa. Khi nhìn sâu, bạn sẽ thấy rằng vũ trụ đã giúp cho bông hoa biểu hiện. Khi nhìn kỹ miếng cá rốt bạn ăn bữa trưa, bạn cũng thấy tất cả vũ trụ đã giúp cho miếng cà rốt có mặt.

Nếu chúng ta tiếp tục nhìn thật sâu, ta sẽ thấy nguyên nhân của sự vật này đồng thời cũng là kết quả của nhiều sự vật khác. Người làm vườn cũng là một nguyên nhân để có bông hoa, nhưng chính ông của là kết quả biểu hiện của nhiều yếu tố. Ông là sự biểu hiện từ nhiều nguyên nhân như tổ tiên, cha mẹ, thầy giáo, công việc, cộng đồng, thực phẩm, thuốc men, ngôi nhà… Giống như người thợ mộc, ông không chỉ là nguyên nhân mà còn là một hệ quả.

Nhìn sâu, chúng ta thấy không thể có thứ gì chỉ thuần là nguyên nhân. Thực tập nhìn sâu, chúng ta có thể khám phá ra được nhiều điều và nếu ta không bị ràng buộc vào một chủ thuyết nào, quan điểm nào hay ý niệm nào, chúng ta sẽ có được tự do để khám phá.

BÀI 13

KHÔNG CÓ MỘT NGUYÊN NHÂN THUẦN TÚY

Khi Bụt được hỏi “Cái gì là nguyên nhân của mọi sự vật?”, Ngài đã trả lời một cách đơn giản. Ngài nói: “Cái này có vì cái kia có”.

Câu này có nghĩa là sự vật nào cũng nhờ vào tất cả các thứ khác mới biểu hiện ra được. Một bông hoa phải nhờ các yếu tố khác để hoa có thể biểu hiện ra. Khi nhìn sâu vào một bông hoa, bạn có thể thấy được các yếu tố mà không phải là hoa. Nhìn vào hoa, bạn thấy mặt trời - đây là một yếu tố không phải là hoa. Không có ánh sáng mặt trời, hoa không thể biểu hiện. Nhìn hoa bạn cũng thấy nước, đó cũng là một yếu tố không phải là hoa. Không có nước hoa không biểu hiện được. Các yếu tố căn bản như đất, nước, không khí, nhiệt độ, ánh sáng… Rất nhiều các yếu tố không phải là hoa đã giúp cho bông hoa biểu hiện.

Đó là lý do vì sao tôi ưa dùng từ biểu hiện thay vì sáng tạo. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể dùng từ sáng tạo, nhưng ta nên hiểu rằng sáng tạo không có nghĩa là từ không có nhân duyên nào mà làm thành một sự vật được. Tạo vật không phải là thứ gì bị hủy hoại hoàn toàn và có thể không còn lại gì hết. Tôi thích từ ngữ “wonderful becoming” (sự hình thành mầu nhiệm) - nó gần với chân nghĩa của từ sáng tạo hơn.


(Hết chương 2)


2 thg 6, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - CHƯƠNG 1

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

Chương 1

TA TỪ ĐÂU TỚI? TA ĐI VỀ ĐÂU?

Trong tu viện của tôi ở nước Pháp, có một cây hoa anh đào Nhật Bản.

Cây hoa này thường nở rộ vào mùa Xuân, nhưng có một năm, mùa Đông ấm áp hơn nên hoa nở sớm hơn thường lệ. Rồi một đêm trời lạnh, nhiệt độ xuống tới điểm băng giá. Sớm hôm sau khi đi thiền hành, tôi nhận thấy những nụ hoa đều bị héo hết. Tôi nghĩ “Vậy là đầu năm nay sẽ không có đủ hoa cúng Bụt”.

Vài tuần sau, trời ấm áp trở lại, tôi lại nhìn thấy những nụ hoa đào thuộc thế hệ mới đang hiện ra. Tôi hỏi những nụ hoa:

“Các bạn là những bông hoa đã chết khi trời băng giá hay là những bông hoa khác?”

Hoa trả lời:

“Chúng tôi không phải là những bông đó, mà cũng không khác những bông hoa đó. Khi nhân duyên đầy đủ chúng tôi biểu hiện ra, và khi thiếu nhân duyên thì chúng tôi ẩn tàng. Giản dị vậy thôi!”

Đó là giáo pháp của Bụt. Khi nhân duyên đầy đủ thì sự vật xuất hiện. Khi nhân duyên không còn đầy đủ, thì chúng ẩn tàng. Chúng đợi tới đúng thời điểm sẽ biểu hiện trở lại.

Trước khi sinh ra tôi, mẹ tôi đã mang thai một em bé khác. Nhưng bà bị sảy thai và em bé đó đã không ra đời. Khi còn nhỏ, tôi thường hỏi: “Bào thai đó là anh tôi hay là chính tôi?” Ai đã muốn biểu hiện ra trong lần mẹ xảy thai đó?” Khi mẹ tôi mất em bé, có nghĩa là nhân duyên chưa đủ cho bé ra đời, nên bé không thể có mặt, nó sẽ chờ điều kiện tốt đẹp hơn: “Tốt hơn là con nên trở lại nay mai nhé mẹ!” Chúng ta phải tôn trọng ý kiến của em bé.

Nếu bạn nhìn đời bằng cách nhìn như thế, bạn sẽ bớt khổ đau nhiều. Mẹ tôi đã mất anh tôi hay chính tôi lúc đó vì chưa đúng thời điểm?

BÀI 1

TRỞ THÀNH KHÔNG

Nỗi sợ hãi lớn lao nhất của chúng ta là khi chết, chúng ta sẽ trở thành Không. Nhiều người trong chúng ta tin rằng cuộc đời của chúng ta bắt đầu từ lúc chào đời và chấm dứt khi ta chết. Chúng ta tin rằng chúng ta tới từ cái Không, nên khi chết chúng ta cũng không còn lại gì hết. Và chúng ta lo lắng vì sẽ trở thành hư vô.

Bụt có cái hiểu biết rất khác về cuộc đời. Ngài hiều rằng, sống và chết chỉ là những ý niệm không có thực. Coi đó là những sự thực, chính là nguyên nhân gây cho chúng ta khổ não. Bụt dạy không có sinh, không có diệt, không tới cũng không lui, không giống nhau cũng không khác nhau, không có cái ngã thường hằng cũng không có hư vô. Chúng ta thì coi là  hết mọi thứ. Khi chúng ta hiểu rằng, mình sẽ không bị hủy diệt, thì chúng ta không còn lo sợ. Đó là giải thoát. Chúng ta có thể an vui và thưởng thức đời sống một cách mới mẻ.

BÀI 2

TÌM LẠI NGƯỜI THÂN ĐÃ MẤT

Đối với trường hợp mất người thương cũng thế. Khi nhân duyên không còn đầy đủ thì họ sẽ biến đi. Khi mẹ mất, tôi đau đớn. Khi chúng ta chỉ mới bảy hay tám tuổi đầu, ta không hề nghĩ có ngày mất mẹ. Nhưng sự thực là khi lớn lên, ai cũng sẽ mất mẹ. Nếu bạn biết tu tập thì tới giờ phút chia lìa, bạn sẽ không quá khổ sở. Bạn sẽ nhận thức được rằng, mẹ bạn vẫn còn sống trong bạn.

Ngày mẹ mất, tôi viết vào nhận ký: “Tai nạn lớn nhất đời mình đã xảy ra rồi”. Tôi đau khổ hơn một năm sau khi mẹ qua đời. Nhưng rồi một đêm, khi ngủ trong một cái thất nhỏ ở vùng cao nguyên Việt Nam, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi thấy tôi ngồi chơi bên bà và chúng tôi nói chuyện rất vui. Mẹ tôi trông trẻ đẹp, tóc bà thả dài xuống lưng. Thật là sung sướng được trò chuyện với mẹ như thể bà còn sống. Tôi tỉnh dậy vào lúc hai giờ sáng và tôi cảm giác chân thực là tôi chưa từng mất mẹ. Cảm tưởng mẹ vẫn ở trong tôi rất rõ ràng. Tôi hiểu rằng ý tưởng mất mẹ chỉ là một ý tưởng thôi. Rõ ràng lúc đó tôi thấy mẹ luôn luôn còn sống trong tôi.

Tôi mở cửa đi ra ngoài. Cả sườn đồi được tắm trong ánh trăng. Đó là một đồi trà và thất của tôi ở lưng chừng đồi, phía sau ngôi chùa. Khi đi bộ thong thả giữa các luống trà, tôi vẫn cảm thấy mẹ bên tôi. Bà là ánh trăng vuốt ve tôi - như bà thường làm, thật dịu dàng âu yếm… Thật là kỳ diệu! Mỗi khi chân tôi chạm mặt đất, tôi biết mẹ vẫn ở bên cạnh. Tôi biết cái chân này không phải của riêng tôi mà nó là sự tiếp nối của mẹ, của cha, của ông bà, của cụ kị, của tổ tiên. Những dấu chân tôi tưởng của tôi, thực ra là của mọi người, cùng để lại những dấu chân trên mặt đất ẩm ướt đó.

Từ lúc ấy, ý nghĩ mất mẹ không còn hiện diện trong tôi nữa. Tôi chỉ cần nhìn vào bàn tay tôi, cảm nhận hơi gió mát trên mặt, hay dưới bàn chân, là tôi nhớ mẹ tôi luôn có mặt, trong mọi thời điểm.

Khi mất một người mình thương thì hẳn là ta đau khổ. Nhưng nếu bạn biết nhìn sâu, bạn có cơ hội để nhận ra rằng bản thể của người đó là vô sinh, bất diệt. Chỉ có sự biểu hiện và sự ngừng lại để biểu hiện dưới hình thức khác mà thôi. Bạn phải rất tinh ý và tỉnh thức để có thể nhận ra sự biểu hiện mới của người ấy. Nhưng khi thực tập và cố gắng, bạn có thể cảm nhận được điều này.

Vậy, hãy nắm tay một người bạn tu, cùng nhau đi thiền hành. Hãy để tâm tới từng chiếc lá, từng bông hoa, từng con chim và từng giọt sương nhỏ. Nếu bạn có thể ngừng lại và nhìn sâu, thì bạn có thể nhận diện được người thương ở những biểu hiện khác nhau, dưới nhiều hình thái. Bạn sẽ lại yêu đời.

BÀI 3

KHÔNG CÓ GÌ SINH RA, CŨNG KHÔNG CÓ GÌ MẤT ĐI

Nhà khoa học người Pháp, ông Lavoisier ở thế kỷ 18 đã tuyên bố: “Không có gì được sinh ra, cũng không có gì mất đi”. Dù ông không thực hành đạo Bụt, nhưng nhà khoa học ấy đã tìm ra chân lý giống như Bụt đã thấy.

Bản chất thực của chúng ta là không sinh không diệt. Chỉ khi nào ta chạm được bản chất chân thực đó, chúng ta mới chuyển đổi được nỗi sợ hãi của mình, đổi được cái lo sợ trở thành an nhiên.

Bụt dạy khi đầy đủ nhân duyên thì sự việc biểu hiện, và chúng ta nói nó hiện hữu. Theo Bụt, nói rằng thứ có hay không có, là sai. Trong thực tại, không có thứ gì hoàn toàn có hay hoàn toàn không hiện hữu.

Chúng ta thấy được chuyện này rất dễ dàng khi quan sát các máy truyền hình và phát thanh. Chúng ta có thể đang ở trong căn phòng không có máy truyền hình và cũng không có máy phát thanh. Khi ở căn phòng đó, chúng ta có thể cho rằng không có chương trình truyền hình hay truyền thanh tại đó. Nhưng tất cả chúng ta đều hiểu là không gian trong phòng chứa đầy các tín hiệu. Tín hiệu của các chuương trình đó có mặt khắp mọi nơi. Chúng ta chỉ cần một điều kiện nữa thôi, một máy thu thanh hay truyền hình, là bao nhiêu sắc thái, màu sắc và âm thanh sẽ biểu hiện ra. Vậy khi nói rằng các tín hiệu đó không hiện hữu là sai, vì sự thực chúng ta chỉ thiếu dụng cụ để thu các tín hiệu vào và phát ra các biểu hiện. Chúng hình như không hiện hữu chỉ vì nhân duyên không đầy đủ để chúng xuất hiện. Vậy thì căn phòng trống không đó, ở giờ phút đó, nếu chúng ta nói rằng mọi thứ không hiện hữu, thì chỉ vì chúng ta không nhìn hay nghe được chúng, chứ không phải là chúng không có mặt.

Chỉ vì các quan niệm có-không mà chúng ta bị rối trí. Quan niệm hiện hữu và không hiện hữu khiến chúng ta tin cái này là có, cái kia là không. Ý niệm có và không đó không thể áp dụng vào thực tại được.

BÀI 4

KHÔNG TRÊN KHÔNG DƯỚI

Ý niệm về trên dưới cũng vậy. Cho rằng có trên có dưới là sai. Cái gì ta nghĩ là phía dưới, có thể nó là ở phía trên của người khác, ở nơi khác.

Chúng ta đang ngồi đây và cho rằng phía trên là hướng bên trên đầu ta, còn đối nghịch với nó là phía dưới. Những người đang ngồi thiền ở bán cầu kia không đồng ý với quan niệm của chúng ta được, vì phía trên của ta là phía dưới của họ. Họ không ngồi lộn ngược đầu.

Ý nghĩ trên dưới có nghĩa là trên cái gì đó và dưới cái gì đó. Quan niệm trên dưới không thể áp dụng cho thực tại vũ trụ được. Đó chỉ là những quan niệm giới hạn với môi trường đang sinh hoạt. Đó là những ý niệm cho chúng ta một tiêu chuẩn nhưng chúng không có thật. Chúng không phải là chân lý. Thực tại không bị rằng buộc vào bất kỳ ý niệm nào.

BÀI 5

BỊ TRÓI VÀO Ý NIỆM

Bụt đã kể cho ta một câu chuyện ngụ ngôn rất hay về tư tưởng và ý niệm. Một thương gia trẻ trở về nhà sau chuyến đi buôn xa, thấy nhà đã bị cướp đốt thành tro. Ngay phía ngoài nền nhà cũ là một cái xác nhỏ bé đã bị cháy thành than. Anh ta nghĩ đó là xác đứa con trai nhỏ của mình. Anh không biết rằng con trai anh vẫn còn sống, và bọn cướp đã bắt đứa bé theo. Trong tình trạng hoảng loạn, anh đã tin rằng cái xác kia chính là xác của con trai anh. Anh vò đầu đấm ngực khóc lóc, rồi làm đám tang cho con.

Người thương gia đó rất yêu con. Nó là lẽ sống của anh. Anh thương xót nó tới độ không thể rời hũ tro của nó. Anh may một cái túi bằng gấm và bỏ tro vào đó, đeo trước ngực ngày đêm, lúc ngủ nghỉ cũng như khi làm việc.

Một đêm, con anh trốn thoát khỏi tay bọn cướp. Nó trở về căn nhà cha nó đã xây lại gần đó và nó gõ cửa một cách háo hức vào lúc hai giờ sáng. Cha nó thức giấc, lòng vẫn còn đau khổ và túi tro vẫn mang trên ngực, anh hỏi: “Ai đó?”

“Con đây cha ơi!” - Đứa bé trả lời vọng qua cửa.

“Mày tệ quá, mày đâu phải con tao. Con tao đã chết ba tháng trước rồi, tao còn tro của nó ngay đây”.

Đứa bé tiếp tục đấm cửa và khóc lóc. Nó năn nỉ hoài để xin vào trong nhà nhưng người cha nhất định không cho. Người cha giữ chặt lấy ý niệm con mình đã chết và cho rằng đứa bé vô lương tâm này chỉ đến phá rối anh mà thôi. Cuối cùng đứa bé đành bỏ đi và anh ta đã mất con vĩnh viễn.

Bụt dạy rằng, khi ta bị kẹt vào một ý niệm và coi đó là chân lý thì ta mất cơ hội để thấy được chân lý. Dù cho chân lý tới tận nhà gõ cửa, bạn cũng sẽ từ bỏ vì bạn không mở cánh cửa tâm bạn ra. Vậy nên khi bạn vướng vào một ý niệm về tư tưởng nào đó, hay ý niệm về điều kiện của một thứ gì đó thì hãy cẩn thận.

Giới thứ nhất để thực tập Chánh niệm là thực tập để được tự do, không bị buộc vào tà kiến: “Ý thức rằng những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để không vướng mắc vào bất cứ chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả chủ thuyết Phật giáo. Con nguyện nhìn nhận những giáo nghĩa Bụt dạy như phương pháp hướng dẫn thực tập để làm phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những hủ tục thờ phụng và bảo vệ bằng phương tiện bạo động”. Đây là sự thực tập giúp chúng ta không bị ràng buộc vào một giáo điều nào. Thế giới chúng ta đã chịu khổ đau quá nhiều vào chủ thuyết, giáo điều. Điều thứ nhất trong sự thực tập chánh niệm giúp ta được tự do. Sự tự do này vượt trên tất cả ý niệm về tự do mà ta vẫn thường có. Nếu ta bị kẹt vào các ý niệm, ta sẽ đau khổ và làm cho người khác đau khổ theo.

BÀI 6

KHÔNG ĐẾN CŨNG KHÔNG ĐI

Đối với đa số, chúng ta đau khổ nhiều nhất vì ý niệm đến-đi. Chúng ta nghĩ rằng những người thương của ta đến từ một nơi nào đó và nay sẽ ra đi tới một nơi nào đó. Nhưng bản chất của thực tại là không đến cũng không đi. Chúng ta không từ đâu tới mà cũng không đi về đâu cả. Khi nhân duyên hội tụ đầy đủ thì ta biểu hiện, khi nhân duyên hết thì chúng ta ẩn tàng. Điều này không có nghĩa là chúng ta không hiện hữu. Giống như khi làn sóng tín hiệu của đài phát thanh không phát ra âm thanh, thì chúng chỉ đơn giản là chưa biểu hiện ra mà thôi.

Không phải chỉ có các ý niệm đến-đi mới không diễn bày được thực tại, mà các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu cũng vậy. Chúng ta học được câu này trong kinh Bát Nhã:

Xá Lợi Tử nghe đây,

Thể mọi pháp đều không

Không sinh cũng không diệt

Không thêm cũng không bớt…

Ý nghĩa chữ Không này rất quan trọng. Nó có nghĩa là mọi sự việc đều trống rỗng, không có tự tánh riêng biệt. Không có cái gì có tự tánh độc lập, không có cái gì tự nó hiện hữu mà không phụ thuộc vào nhân duyên. Khi nhìn sâu vào mọi sự vật, ta thấy rằng tất cả, kể cả ta trong đó, đều là những hợp thể. Ta được cấu tạo bằng các phân tử không phải ta. Ta được làm bằng hợp thể của cha mẹ, ông bà, cơ thể, cảm thọ, nhận thức, đất, nước, không khí, mặt trời và vô số những yếu tố khác nữa không phải là ta. Tất cả những thứ đó tùy thuận theo điều kiện nhân duyên. Ta thấy rằng tất cả những thứ đó đã, đang, hoặc sẽ biểu hiện đều có tương quan và liên hệ mật thiết với nhau. Những gì biểu hiện ra mà ta nhìn thấy được, chỉ là một phần nhỏ của bao thứ khác, của các điều kiện đầy đủ khiến cho nó có mặt. Mọi sự vật đều không được sinh ra hay bị mất đi vì chúng luôn ở trong tiến trình liên tục của sự biểu hiện.

Chúng ta có thể thông minh để hiểu được chuyện này. Nhưng hiểu bằng trí óc thôi không đủ. Thực sự hiểu điều này, ta sẽ hết sợ hãi. Ta sẽ được giác ngộ và sống với cái nhìn tương tức (inter-being).

Chúng ta phải thực tập nhìn thật sâu như thế trong đời sống hằng ngày để nuôi dưỡng sự hiểu biết về không sinh không diệt. Như thế, ta có thể thực chứng được sự mầu nhiệm của sự vô úy, không sợ hãi.

Nếu chúng ta nói tới vấn đề tương tức tương nhập như một lý thuyết thì không có lợi ích gì hết. Ta nên đặt câu hỏi: “Tờ giấy này, em từ đâu tới? Giấy là cái gì? Và em tới đây làm gì? Giấy sẽ đi đâu?” Ta cũng hỏi ngọn lửa (đang đốt tờ giấy): “Lửa ơi, em từ đâu tới và em sẽ đi về đâu?” Hãy lắng nghe chúng trả lời. Ngọn lửa, tờ giấy đang trả lời bằng sự có mặt của chúng. Chúng ta chỉ cần nhìn sâu thì sẽ nghe được câu trả lời của nó. Ngọn lửa trả lời: “Tôi không tới từ đâu cả”.

Đó cũng là câu trả lời của cây hoa anh đào Nhật Bản. Chúng (hai đợt hoa) không giống nhau mà cũng không khác nhau. Hoa không tới từ đâu và cũng không đi đâu hết. Khi mất một em bé, chúng ta không nên quá đau buồn. Đó chỉ là vì lúc ấy chưa đủ nhân duyên để em bé biểu hiện ra ở thời điểm đó mà thôi. Em sẽ trở lại.

BÀI 7

BUỒN PHIỀN VÌ VÔ MINH

Đức Quán Thế Âm là học trò của Bụt. Một bữa Ngài nhập định và đạt được hiểu biết sâu xa, Ngài thấy rằng mọi sự vật đều không có tự tánh. Hiểu như vậy, Ngài vượt qua được màn vô minh, nghĩa là Ngài thoát được hết các khổ não.

Nhìn cho sâu, chúng ta cũng thấy được rằng không có gì sinh ra, không có gì chết đi, không có gì tới, cũng không có gì đi, không có cũng không không, không giống cũng không khác.

Nếu ta không học phép tu tập này thì thật phí phạm quá sức. Chúng ta có thể thực tập theo nhiều phương pháp để bớt khổ, nhưng trí tuệ lớn nhất là sự giác ngộ về không sinh không diệt. Khi chúng ta giác ngộ được điều này thì ta không còn sợ hãi nữa. Chúng ta có thể vui hưởng được gia tài khổng lồ mà thiên nhiên ban tặng cho. Ta nên thu xếp để có thì giờ thực tập giáo pháp huyền diệu này mỗi ngày.

BÀI 8

KÍNH TRỌNG BIỂU HIỆN CỦA MÌNH

Khi nhìn qua một người bạn mình bằng con mắt thiền quán, ta có thể nhìn thấy trong đó tất cả các thế hệ tổ tiên của bạn mình. Ta sẽ rất kính trọng người đó và kính trọng cả con người mình, vì ta thấy đó là ngôi đền thờ của tất cả thế hệ tổ tiên.

Bạn cũng nhìn thấy thân thể mình là nền tảng của các thế hệ tương lai. Do đó, chúng ta sẽ không làm hại bản thân mình, vì như thế là không tử tế với các thế hệ con cháu. Ta sẽ không sử dụng ma túy, rượu, thuốc lá và ăn uống những chất độc làm hại cơ thể. Đó là do cái hiểu biết về sự biểu hiện, nó đã giúp chúng ta sống một cuộc đời lành mạnh, trong sáng và có trách nhiệm.

Ý niệm trong ngoài cũng vậy. Khi chúng ta nói Bụt và cha mẹ ở trong ta, hay ở ngoài ta, ý niệm trong ngoài đó không có ý nghĩa chi cả. Chúng ta bị kẹt vào các ý niệm, nhất là ý niệm đến-đi và hiện hữu hay không hiện hữu. Chỉ khi ta buông bỏ được các ý niệm đó thì sự thật mới hiển lộ, sự thật của Niết Bàn. Khi tất cả các ý niệm hiện hữu hay không hiện hữu đã tắt ngấm thì chân như thực tại sẽ tự biểu hiện ra.

BÀI 9

KHÔNG CÓ GÌ BẰNG KINH NGHIỆM

Chúng ta có thể dùng một thí dụ dễ hiểu về trái quýt và trái sầu riêng. Nếu có người nào chưa từng nếm trái quýt hay trái sầu riêng, thì dù bạn mô tả bằng bao nhiêu hình tượng, bạn cũng không thể diễn tả được các loại trái cây đó thực sự chúng ra sao. Bạn chỉ có thể giúp họ có kinh nghiệm sống, thực chứng về hai loại trái cây đó. Bạn không thể nói: “Sầu riêng ư, nó giống như mít hay đu đủ”. Bạn không thể nói được điều gì giống như khi người ta ăn trái sầu riêng. Sầu riêng nó vượt ra tất cả ý niệm, ra khỏi ngôn từ. Trái quýt cũng vậy. Khi bạn chưa từng ăn trái quýt, thì dù cho người kia có cố gắng giúp bạn cách mấy cũng không thể diễn tả được hương vị trái quýt ra sao. Thực tại của trái quýt vượt lên trên tất cả mọi ý niệm. Niết bàn cũng vậy. Đó là một thực tại vượt qua các ý niệm. Chỉ vì ta có ý niệm về Niết bàn mà ta đau khổ. Phải thực chứng, phải tự kinh nghiệm, đó là con đường cần phải đi.


(Hết chương 1)


1 thg 6, 2024

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT: ĐỪNG SỢ HÃI - LỜI NÓI ĐẦU

Thích Nhất Hạnh

Nhà xuất bản Saigon Books - thuộc bản quyền Reverhead Books

Chân Huyền dịch Việt ngữ

LỜI NÓI ĐẦU

Một ngày, sau bữa ăn trưa, cha tôi nói chuyện với tôi:

“Lần cuối, cha nhìn thấy ông nội, ông ngồi trong một chiếc ghế mây tròn trong phòng khách”. Khi đó, tôi và cha tôi đang ngồi trong khu lộ thiên, tại một tiệm ăn Mexico, thuộc vùng Key West, tiểu bang Florida. Cha tôi đang ăn một đĩa cơm có món đậu Mễ, ông ngẫng lên, tiếp tục nói:

“Ông nội con là một người chịu khó làm việc. Ông làm bánh, trong một xưởng ở dưới phố Leominster, tỉnh Fichtburg”.

“Bố kể cho con nghe về cái chết của ông nội đi”. Tôi lên tiếng.

“Bố không biết gì cả”.

“Những người khác nói sao?”

“Không ai nói gì hết, và bố không bao giờ hỏi”. Cha tôi lại im lặng, như thói quen tôi đã từng biết.

Nhà thờ Thánh Linh (Sacred Heart church) chỉ cách nhà tôi chừng hai đoạn đường, trong khu West Fichtburg ở tiểu bang Massachusetts, là nơi cha tôi vĩnh biệt ông nội, người mà tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Đó cũng là trung tâm đời sống tinh thần của gia đình tôi khi tôi lớn lên. Đó là nơi nương tựa của những công nhân muốn xả bỏ những tiếng máy chạy rền rĩ trong xưởng, tiếng cằn nhằn của vợ con, những hóa đơn chưa thanh toán, hay khi người ta uống rượu quá chén. Đó là nơi tôi được rửa tội và được tới học giáo lý. Mỗi chiều thứ hai, sau một ngày dài trong trường, tôi miễn cưỡng lê bước tới nhà thờ để học giáo lý thêm hai giờ đồng hồ nữa.

Tôi vẫn còn nhớ ngày đầu tiên, tôi ngồi kế bên người em họ Patty, trong tay là cuốn giáo lý mới tinh. Khi hai bà sơ đứng phía trên bảo chúng tôi mở sách ra để học thuộc ngay trang đầu gồm ba câu hỏi và các câu trả lời:

“Ai tạo ra tôi? - Chúa tạo ra bạn”.

“Vì sao Chúa tạo ra bạn? - Để yêu và phục vụ cho Ngài”.

“Chuyện gì xảy ra khi tôi chết? - Bạn sẽ vĩnh viễn được ở bên Chúa, trên thiên đàng”.

Đối với các ông cha trong nhà thờ, chắc chắn linh hồn tôi bất tử và tôi sẽ được sống đời vĩnh cửu.

Đọc tờ báo The Boston Globe ngày chủ nhật, tôi giật mình về bài báo nói tới một phụ nữ bị bệnh ung thư thời kỳ chót. Chuyện kể: “Một cuộc đời trẻ trung bị đứt ngang… Adriana Jenkins nghi ngờ về sự hiện hữu của Thượng đế, của định mệnh”. Cô ta nói: “Khi chết, chúng ta từ cát bụi lại trở về với cát bụi”. Nhưng cô thường tưởng tượng về cái chết, niềm đau khổ của cô. Cô tưởng như mình sẽ nổi bồng bềnh ở phía trên, nhìn xuống những người đang khóc thương cô chung quanh giường bệnh, ánh sáng mờ dần rồi tắt hẳn. Đó là một thứ tín điều của những người theo chủ nghĩa nghi ngờ; cho rằng sau khi chúng ta chết thì không còn lại gì cả.

Lần đầu tiên tôi dự một đám tang là năm 1968, khi Sam Rameau, ông ngoại tôi chết. Từ đó tới nay, có hơn hai chục lần nữa, tôi đã đứng trước cái huyệt mới đào, cảm thấy bối rối, bất an vì những câu hỏi trong tôi về cái chết. Chỉ có hai trường hợp để tin thôi sao? Hoặc có linh hồn bất diệt? Hoặc không còn lại gì sau khi chết?

Nghi ngờ về sự sống bất diệt, và kinh hoảng về ý tưởng sẽ bị lãng quên hoàn toàn, tôi sống suốt đời với cái tâm có nền tảng sâu kín là sự sợ hãi. Thật sự như vậy, tôi sẽ còn sống đời đời hay sẽ trở thành hư vô? Có linh hồn bất diệt thật không? Và nếu có thì tôi sẽ ở thiên đàn hay địa ngục? Tôi sẽ đời đời khốn khổ hay được hưởng phước hoài hoài? Một mình hay bên cạnh Thượng đế?

Trong suốt cuộc đời, đức Phật cũng bị nhiều nhà thần học và các học giả nhiều lần chất vấn về hai triết lý đối nghịch nhau: bất diệt hay hư vô. Khi được hỏi là có đời sống vĩnh cữu không thì Bụt trả lời: “Không có cái Ngã bất biến”. Khi trả lời về chuyện chết là không còn gì nữa chăng. Bụt nói không có gì trở thành hư vô cả. Ngài bác bỏ cả hai ý tưởng trên.

Tôi có một người bạn thân là một nhà sinh vật học chuyên về các loài sống dưới biển. Giống như nhiều người, anh ta tin rằng chết là hết, chết vĩnh viễn. Niềm tin này của anh không tới từ sự thiếu đức tin hay vì tuyệt vọng, mà vì anh tin vào khoa học. Anh có lòng tin vào thế giới thiên nhiên, vào vẻ đẹp của vũ trụ chưa được khai phá quanh anh, vào khả năng hiểu biết của loài người về vũ trụ đó.

Thích Nhất Hạnh cũng có lòng tin vững chắc vào khả năng có thể đạt tới hiểu biết của con người. Nhưng mục tiêu của thầy cao cả hơn sự thu góp các kiến thức khoa học. Đó là sự giải thoát và trí tuệ bát nhã.

Viết những trang sách này bằng kinh nghiệm của chính mình, thầy Nhất Hạnh đưa ra một thay thế đáng kinh ngạc cho hai triết lý trái ngược nhau về vĩnh cửu và hư không. Thầy nói:

“Tự muôn đời tôi vẫn tự do. Tử sinh chỉ là cửa ngõ ra vào, tử sinh là trò chơi cút bắt. Tôi chưa từng sinh cũng chưa bao giờ từng diệt” và “Nổi khổ lớn nhất của chúng ta là ý niệm về đến-đi, lui-tới”.

Lặp đi, lặp lại hoài, thầy khuyên chúng ta tập nhìn sâu để hiểu được và tự mình nếm được sự tự do của con đường trung đạo (chính giữa), không bị mắc kẹt vào cả hai ý niệm của vĩnh cửu và hư vô. Là một thi sĩ nên khi giải thích về các sự trái ngược trong đời sống, thầy đã nhẹ nhàng vén bức màn vô minh ảo tưởng dùm chúng ta, cho phép chúng ta (có lẽ lần đầu tiên trong đời) được biết rằng sự kinh hoảng về cái chết chỉ có nguyên nhân là ý niệm và hiểu biết sai lầm của chính mình mà thôi.

Tri kiến về sống, chết của thầy vô cùng vi tế và đẹp đẽ. Cũng như những điều vi tế, đẹp đẽ khác, cách thưởng thức hay nhất là thiền quán trong tĩnh lặng. Lòng nhân hậu và từ bi xuất phát từ suối nguồn thâm tuệ của Thích Nhất Hạnh là một loại thuốc chữa lành những vết thương trong trái tim chúng ta.

- Pritam Singh

Nhà thiền định và triết học đạo Sikh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cái nhìn của Thế Giới

Trong các nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn ở phương Tây, Thiền sư Thích Nhất Hạnh được xếp vào vị trí thứ hai, chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma.

- New York Times

Thầy Nhất Hạnh đã chỉ ra cho chúng ta mối liên hệ mật thiết giữa bình an trong tự thân với bình an trên Trái Đất.”

- Đức Đạt Lai Lạt Ma

Thích Nhất Hạnh là một con người thánh thiện, vì lòng khiêm cung và đức tin lớn. Ngài là một học giả thông tuệ. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.”

- Mục sư Martin Luther King, Jr.,

(Trích thư đề cử thầy Nhất Hạnh cho giải Nobel Hòa Bình 1967). ]


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***