5 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 29

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 29

KHÔNG CÓ ĐIỂM TỰA.

Nơi nào không có điểm tựa, không có thứ gì để nắm giữ,

nơi đó có sự rỗng không, và Niết Bàn là sự rỗng không này.

Có những phần trong giáo lý Phật, chúng ta nghe nhưng không hiểu. Chúng ta nghĩ rằng chúng nói về một thứ gì khác, nên chúng ta không thực hành. Nhưng thật ra, mọi sự giảng dạy đều có mục đích. Lúc ban đầu, tôi không tin vào việc ngồi thiền. Tôi không thấy làm thế có lợi ích gì. Và còn việc đi kinh hành nữa… Đi từ cây này đến cây kia, rồi quay lại, và đi nữa? Để làm gì? Có lợi ích gì chứ? Tôi nghĩ như thế, nhưng thật sự thì ngồi thiền và đi kinh hành rất có lợi.

Có người thì thích đi kinh hành hơn; có người thích ngồi thiền hơn. Nhưng bạn không thể tu hành mà không có một trong hai thứ này. Trong kinh, người ta nhắc đến bốn tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Chúng ta sống với bốn tư thế này. Chúng ta có thể thích tư thế này hơn tư thế kia, nhưng chúng ta phải sử dụng cả bốn tư thế. Người ta nói rằng chúng ta phải làm cho bốn tư thế này thăng bằng. Sự thăng bằng này là nói về cái tâm, về sự tỉnh giác của chúng ta. Nó liên quan đến sự phát sinh trí huệ, sự rọi sáng tâm. Trí huệ này của chúng ta phải hiện diện trong cả bốn tư thế. Chúng ta phải biết, hay hiểu, liên tục. Đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta đều phải biết tất cả mọi tâm thái đều là vô thường, khổ, và vô ngã. Làm cho các tư thế thăng bằng theo cách này là điều có thể thực hiện được. Dầu sự thích hay không thích hiện diện trong tâm, chúng ta không quên sự tu hành của mình. Chúng ta tỉnh giác.

Nếu chúng ta tiếp tục nhận biết tâm, chúng ta sẽ nắm được then chốt của sự tu hành. Bất kể những tâm thái mà chúng ta kinh nghiệm là tốt hay xấu theo quan điểm thế gian, chúng ta không quên chính mình, chúng ta không chìm đắm trong điều thiện và điều ác. Chúng ta cứ đi thẳng. Duy trì sự tu hành như vậy trong mọi tư thế là điều có thể làm.

Nếu chúng ta kiên trì trong sự tu hành của mình, thì khi chúng ta được khen, nó chỉ là lời khen; khi chúng ta bị chỉ trích, nó chỉ là sự chỉ trích. Chúng ta không vui hay buồn về điều đó, chúng ta ở ngay đây. Tại sao? Bởi vì chúng ta nhìn thấy sự hiểm họa trong cả lời khen lẫn sự chỉ trích. Thường thì chúng ta vui, tâm cũng vui. Khi chúng ta buồn, tâm cũng buồn, và chúng ta không thích điều đó. Đây là thói thường, nhưng nó là sự tu hành không thăng bằng.

Nếu chúng ta kiên định đủ để biết những tâm thái của mình và biết rằng chúng ta đang bám giữ chúng, như thế cũng đã khá rồi, mặc dầu chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Có nghĩa là, chúng ta có sự tỉnh giác, chúng ta biết điều gì đang xảy ra. Chúng ta nhìn thấy mình đang dính mắc vào sự tốt xấu, và chúng ta biết điều đó. Chúng ta dính mắc vào điều tốt, hay điều xấu, và biết rằng nó không phải là sự tu hành đúng đắn, nhưng chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Được như vậy là đạt được 50% hay 70% của sự tu hành rồi. Vẫn chưa có sự xả bỏ. Nhưng chúng ta biết rằng nếu chúng ta có thể xả bỏ, chúng ta sẽ đạt đến sự bình an. Cứ tiếp tục và liên tục nhìn thấy cái hậu quả nguy hại của tất cả những sự thích và không thích của chúng ta, của sự khen và chê. Bất kể trong tình trạng nào, tâm luôn kiên định như thế.

Nhưng đối với người thế gian, thì khi bị chỉ trích, họ tức giận; khi được khen, họ phấn khởi. Nếu chúng ta biết được sự thật về những trạng thái tâm khác nhau của mình – nếu chúng ta biết hậu quả của sự dính mắc vào lời khen chê, và hiểm họa của sự dính mắc vào mọi thứ - chúng ta sẽ trở nên nhạy cảm với cảm xúc của mình. Chúng ta biết rằng dính mắc vào chúng chỉ mang đến khổ. Chúng ta nhìn thấy sự khổ, và chúng ta nhìn thấy sự dính mắc của mình là nguyên nhân của sự khổ đó. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy hậu quả của sự dính mắc vào điều tốt và điều xấu. Chúng ta dính mắc vào chúng, và nhìn thấy hậu quả của hành động đó, cho nên chúng ta tìm cách buông bỏ.

“Cách buông bỏ” này là gì? Đó là, đừng dính mắc vào bất cứ thứ gì. Điều này không có nghĩa là chúng ta không đụng vào những thứ gì, chỉ là chúng ta không dính tới nó. Giống như cái đèn pin này. “Cái gì đây?” chúng ta không biết, nên chúng ta cầm nó lên. “Ồ, thì ra nó là một cái đèn pin”. Rồi chúng ta đặt nó xuống trở lại. Đấy là cách chúng ta nắm giữ sự việc.

Nếu không nắm giữ thứ gì cả, chúng ta có thể làm được việc gì? Chúng ta không thể thực hiện việc đi kinh hành hay bất cứ sinh hoạt nào khác. Cho nên chúng ta phải nắm giữ. Đúng vậy, đây là một loại ham muốn, nhưng sau này nó sẽ dẫn đến Lục độ(1). Giống như việc ham muốn đi đến đây, chẳng hạn. Đại Đức Jagaro đến Wat Pah Pong. Trước hết ông phải muốn đến đây. Nếu ông không cảm thấy muốn đến đây, ông đã chẳng đến. Nhưng khi cái muốn phát sinh, đừng dính mắc vào đó! Cho nên bạn đến đây, rồi bạn về nhà… Cái gì đây? Bạn nhặt nó lên, rồi đặt nó xuống lại. Đây gọi là nắm giữ mà không dính mắc; chúng ta buông bỏ. Chỉ xem xét và rồi buông bỏ. “Điều này, người ta nói là tốt; điều này, người ta nói là không tốt”. Hãy nhận biết và rồi buông bỏ. Chúng ta không dính mắc vào sự việc một cách khờ dại, nhưng chúng ta “nắm giữ” chúng với trí huệ. Bạn phải kiên định như thế. Hãy làm cho tâm biết như thế đó, hãy để trí huệ phát sinh. Khi tâm có trí huệ, thì đâu còn gì khác ở đó để tìm kiếm?

Chúng ta nên suy ngẫm về những điều chúng ta đã làm ở đây. Tại sao chúng ta sống ở đây? Chúng ta làm việc để làm gì? Trong thế gian, con người làm việc để có thứ này hay thứ kia, nhưng chư tăng biết một điều gì đó sâu sắc hơn. Bất kể chúng ta làm gì, chúng ta không đòi hỏi sự đền đáp. Chúng ta làm việc không phải để được một điều gì. Người thế gian làm việc bởi vì họ muốn thứ này, thứ kia, bởi vì họ muốn đạt được một thứ gì đó, nhưng Đức Phật bảo chúng ta làm chỉ để làm, chúng ta không trông đợi một thứ gì cả.

Nếu bạn làm một điều gì chỉ để được đền đáp, nó sẽ khiến bạn đau khổ. Cứ thử thì biết! Bạn muốn tâm bình an, nên bạn ngồi thiền và cố làm cho nó bình an – bạn sẽ đau khổ! Con đường của chúng ta tinh vi hơn. Chúng ta làm một điều gì đó và rồi buông bỏ nó. Làm, và rồi buông bỏ.

Hãy xem xét sự cúng dường của một phạm thiên: Ông có một ước muốn trong đầu, thế là ông làm một sự cúng dường. Hành động đó của ông sẽ không giúp ông vượt qua sự khổ đau bởi vì ông hành động từ sự ham muốn. Lúc ban đầu, chúng ta tu hành với một ít ham muốn trong đầu. Chúng ta tiếp tục tu hành, dầu không đạt được những gì mình mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục tu hành, cho đến khi chúng ta đạt đến một điểm, nơi đó chúng ta tu hành mà không trông đợi kết quả; chúng ta tu hành để có thể buông bỏ. Đây là điều chúng ta phải tự mình kinh nghiệm lấy; nó rất sâu sắc. Có lẽ chúng ta tu hành bởi vì chúng ta muốn đạt tới Niết Bàn – nếu là thế, chúng ta sẽ không đi tới Niết Bàn! Muốn được bình an là điều tự nhiên, nhưng như thế là không đúng. Chúng ta phải tu hành mà không muốn một thứ gì cả.

Đây gọi là “làm cho tâm rỗng không”. Nó rỗng không, nhưng vẫn làm việc hiệu quả. Sự rỗng không này là một thứ rất ít người hiểu, chỉ có những ai đạt đến đó mới thấy giá trị thật của nó. Nó không phải là sự không-có-một-thứ-gì cả, mà sự rỗng không của các pháp thế gian. Giống như cái đèn pin này là rỗng không. Nó không phải là sự rỗng không mà ở đó chúng ta không thấy được thứ gì. Nó không giống như thế. Hiểu như thế là sai. Bạn phải hiểu sự rỗng không bên trong mọi thứ ở đây. Những ai tu hành vì muốn đạt được một thứ gì đó thì cũng giống như vị phạm thiên ở trên đây. Giống như những người đến gặp tôi để được rắc “nước thánh”. Khi tôi hỏi họ, “Tại sao bạn muốn nước thánh này?” họ nói, “Chúng tôi muốn sống lâu, hạnh phúc và sung túc”. Là thế đó! Họ sẽ không bao giờ vượt lên khổ đau bằng cách đó.

Người thế gian làm việc vì một mục đích, vì muốn được đền đáp, nhưng trong Phật Pháp, chúng ta làm mà không trông đợi một điều gì cả. Người thế gian phải hiểu và hành động theo luật nhân quả, nhưng Đức Phật dạy chúng ta vượt lên trên nhân quả, vượt lên sinh tử, vượt lên hạnh phúc và khổ đau.

Chúng ta sống trong một căn nhà. Để rời khỏi căn nhà và đến một nơi không có nhà – chúng ta không biết phải làm như thế nào, bởi vì chúng ta quen sống trong sự tồn tại, với sự dính mắc. Nếu chúng ta không thể dính mắc, chúng ta không biết phải làm gì.

Cho nên đa số người không muốn đi đến Niết Bàn, bởi vì không có gì ở đó, không có gì cả. Hãy xem xét cái mái nhà và sàn nhà ở đây. Một thái cực là cái mái nhà, đó là một “điểm tựa”. Một thái cực khác là sàn nhà, và đó là một “điểm tựa” khác. Nhưng khoảng không gian ở giữa mái nhà và sàn nhà thì không có chỗ để đứng. Người ta có thể đứng trên mái nhà, hay trên sàn nhà, nhưng không thể đứng trong không gian trống rỗng đó. Nơi nào không có điểm tựa, không có một thứ để nắm giữ, nơi đó có sự rỗng không, và Niết Bàn là sự rỗng không này.

Nghe thấy thế, nhiều người chột dạ, họ không muốn đi tới đó. Họ sợ không còn được thấy con cái và thân quyến của họ. Đây là tại sao, khi chúng tôi chúc phúc cho người thế tục, chúng tôi nói, “Chúc bạn sống lâu, trẻ đẹp, hạnh phúc và khỏe mạnh”. Nghe như thế họ vui lắm, “Thiện tai! Thiện tai!” Họ thích nghe những thứ này. Nhưng nếu bạn giảng về tính không của các pháp thế gian, họ không muốn nghe, họ dính mắc vào điểm tựa của họ.

Bạn có thấy bao giờ một người già với dáng vẻ xinh đẹp và rất khỏe mạnh, rất hạnh phúc không? Không. Thế nhưng khi người ta chúc tụng sống lâu, trẻ đẹp, khỏe mạnh và hạnh phúc, thì người nào cũng khoái cả. Người nào cũng nói, “Thiện tai!” Đây cũng giống như vị phạm thiên muốn cúng dường để đạt được điều ông mong ước.

Ở đây, chúng ta không tu hành để đạt được một điều gì. Chúng ta không muốn một điều gì cả. Nếu chúng ta còn muốn một thứ gì, thì vẫn còn vướng vào một thứ gì ở đó. Chỉ việc làm cho tâm bình an và kết thúc với nó. Nhưng nếu tôi nói kiểu này, bạn có thể không thấy dễ chịu lắm, bởi vì bạn muốn được “tái sanh” lại.

Tất cả những người tu hành tại gia nên đến gần chư tăng và xem cách họ tu hành. Đến gần chư tăng có nghĩa là đến gần Phật, đến gần Pháp. Đức Phật nói, “Ananda, hãy tu hành nhiều, tu hành tiến bộ! Bất cứ ai thấy Pháp, thấy ta, và bất cứ ai nhìn thấy ta, nhìn thấy Pháp”.

Đức Phật ở đâu vậy? Chúng ta có lẽ đã nghĩ rằng Đức Phật đã nhập niết bàn, nhưng Phật là Pháp, là chân lý. Có người thích nói, “Ôi, nếu tôi sinh ra vào thời của Đức Phật, tôi sẽ đi đến Niết Bàn”. Những người ngu nói chuyện kiểu đó. Đức Phật vẫn còn ở đây. Phật là chân lý. Bất kể ai sinh ra hay chết đi, chân lý vẫn ở đây. Chân lý không bao giờ rời khỏi thế gian; nó luôn luôn ở đây. Dầu Đức Phật có sinh ra hay không, chân lý vẫn ở đây.

Cho nên chúng ta nên đến gần Phật, chúng ta nên đi vào trong và tìm thấy Pháp. Khi chúng ta thấy Pháp, chúng ta sẽ thấy Phật, và tất cả mọi nghi ngờ sẽ tan biến.

Lấy ví dụ về Thầy Giáo Choo. Lúc đầu, ông không phải là một thầy giáo, mà chỉ là ông Choo. Khi ông học và đậu bằng giáo học, ông trở thành Thầy Giáo Choo. Ông trở thành thầy giáo bằng cách nào vậy? Qua sự học hỏi những môn học cần thiết . Khi Thầy giáo Choo chết, sự học hỏi để trở thành thầy giáo vẫn còn ở đó, và bất cứ ai học theo giáo trình đó, sẽ trở thành một thầy giáo. Giáo trình ấy không biến đi đâu cả, không biến mất theo người thầy, cũng giống như chân lý hay sự hiểu biết đã khiến Đức Phật trở thành Phật. Cho nên Phật vẫn ở đây. Bất cứ ai tu hành và thấy Pháp, sẽ thấy Phật.

------------------------------------------------------

(1) Lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.


4 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 28

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 28

QUY ƯỚC VÀ GIẢI THOÁT.

Chúng ta đặt ra những quy ước,

nhưng chúng ta không nên bị chúng đánh lừa,

bởi vì chìm đắm trong những thứ này sẽ dẫn đến đau khổ.

Những ai vượt lên những quy ước, sẽ vượt lên mọi khổ đau.

Sự việc trên thế gian chỉ là những quy ước do con người tạo ra. Chúng ta đặt ra chúng, rồi chúng ta dính mắc vào đó, dính mắc vào quan điểm, ý kiến của chính mình – và không muốn buông bỏ. Sự dính mắc này không bao giờ chấm dứt, nó luân chuyển, trôi chảy mãi. Nó không có điểm dừng. Nếu chúng ta biết cái thực tại quy ước, chúng ta sẽ biết sự giải thoát. Đây gọi là ngộ Đạo. Đây là điểm dừng lại, điểm hoàn tất.

Tôi quan sát những người phương Tây khi họ ngồi thiền với nhau. Sau khi xả thiền, đứng dậy, đàn ông và đàn bà đôi lúc sờ đầu nhau! Khi nhìn thấy vậy, tôi nghĩ, “Nếu chúng ta dính mắc vào quy ước, phiền não sẽ phát sinh ngay tại đây”. Nếu chúng ta có thể buông bỏ những quy ước, buông bỏ quan điểm của mình, chúng ta bình an.

Đôi lúc, vài đại tá, đại tướng, hay những người có chức vị quan trọng đến gặp tôi, và nói, “Xin ngài sờ đầu tôi”. Nếu họ nói như vậy, thì không có vấn đề gì với việc sờ đầu họ. Họ thích được sờ đầu. Nhưng nếu khi không mà bạn vỗ vào đầu họ giữa công chúng, thì nó lại là chuyện khác! Đó là vì có sự dính mắc. Cho nên tôi cảm thấy xả bỏ chính là con đường dẫn tới sự bình an. Sờ đầu là một hành vi trái với tục lệ ở đây, nhưng sự thật thì không có gì quan trọng cả. Khi người ta chấp thuận, điều đó không hề gì, giống nhự việc sờ vào cái bắp cải hay một củ khoai.

Chấp nhận, xả bỏ - đây là con đường thanh nhẹ. Nơi nào bạn dính mắc vào, nơi đó có sự tồn tại và sinh khởi. Hiểm hoạn phát sinh ngay tại đây. Đức Phật nói về các quy ước và phương pháp tháo gỡ chúng để đạt đến sự giải thoát.

Đây là sự tự do, không dính mắc vào các quy ước. Tất cả mọi việc trên thế gian đều đã được quy ước. Chúng ta đặt ra những quy ước, nhưng chúng ta không nên bị chúng đánh lừa, bởi vì chìm đắm trong những thứ này sẽ dẫn tới khổ đau. Người nào có thể vượt lên những quy ước, sẽ vượt lên trên sự khổ đau.

Tuy nhiên, chúng là tính chất của thế gian này. Lấy ví dụ, ông Boonmah, chẳng hạn. Ông từng là một thường dân, nhưng bây giờ ông được bổ nhiệm làm thị trưởng. Nó chỉ là một quy ước, nhưng nó là một quy ước mà chúng ta phải tôn trọng. Nó là một phần của thế giới loài người. Nếu bạn nghĩ, “Ồ, chúng tôi là bạn mà. Lúc trước chúng tôi cùng làm việc trong một tiệm may”, và rồi bạn đến vỗ vào đầu ông giữa công chúng, ông ấy sẽ nổi giận. Hành động đó không đúng, ông ta chắc chắn sẽ tức lắm. Cho nên, chúng ta nên tuân theo quy ước, sống trong thế gian là như thế. Biết lúc, biết nơi, và biết người.

Tại sao đi ngược lại quy ước là sai? Nó sai là do con người. Bạn nên khôn khéo, biết sự quy ước và biết sự giải thoát. Biết được thời điểm nào là cho thứ nào. Nếu chúng ta biết cách sử dụng những quy ước và luật lệ, chúng ta là người khôn. Nếu chúng ta ứng xử ở một thực tại có mức nhận thức cao hơn vào một thời điểm không thích hợp, đây là sai! Sai chỗ nào? Sai đối với những phiền não của con người. Ai cũng có phiền não. Trong tình huống này, chúng ta cư xử theo cách này, trong tình huống kia, chúng ta cư xử theo cách kia. Chúng ta biết phải làm gì, bởi vì chúng ta tuân theo sự quy ước. Vấn đề chỉ phát sinh khi con người dính mắc vào chúng. Nếu chúng ta cho rằng một thứ gì đó là như thế nào, thì nó là vậy. Đó là bởi vì chúng ta cho nó là vậy. Nhưng nếu bạn xem xét kỹ, những thứ này không thật sự tồn tại.

Chúng ta, những người xuất gia, đã từng sống tại gia. Chúng ta tuân theo những quy ước của người tại gia, và bây giờ, chúng ta tuân theo quy ước của người xuất gia. Chúng ta là những nhà sư qua sự quy ước, không phải những nhà sư qua sự giải thoát. Một người xuất gia, không có nghĩa là họ dứt sạch phiền não. Nếu chúng ta nắm một mớ cát, và đồng ý gọi nó là muối trên danh tánh, không phải trên thực tế. Bạn không thể nấu ăn với nó. Nó chỉ có giá trị trong phạm vi của sự đồng ý đó, bởi vì ở đó chỉ có cát, chứ không thật sự có muối.

Ngày cả cái từ “giải thoát” này cũng chỉ là một quy ước, nhưng nó nói về cái vượt lên trên sự quy ước. Một khi đã tự do, một khi đã giải thoát, chúng ta gọi nó là “sự giải thoát” theo quy ước. Nếu không có những quy ước, chúng ta không thể đối thoại, cho nên quy ước có chỗ dụng của nó.

Ví dụ, con người có tên khác nhau, nhưng họ đều là con người. Nếu chúng ta không có tên và chúng ta muốn gọi một người bạn đang đứng trong đám đông, chúng ta phải la lên, “Ê, con người, con người!” Điều này chẳng giúp được gì cả. Bạn không thể chỉ ra ai là người bạn muốn gọi, bởi vì họ đều là người cả. Nhưng nếu bạn gọi, “Ê, Jonh!” thì John sẽ đến. Danh tánh thỏa mãn nhu cầu này. Xuyên qua chúng, chúng ta có thể đối thoại, chúng là cơ sở cho sự tương tác trong xã hội loài người.

Cho nên, bạn nên biết cả hai: sự quy ước và sự giải thoát. Quy ước cần thiết, nhưng trên thực tế thì không có gì ở đó cả. Chúng chỉ là những nguyên tố, do nhân duyên mà sinh ra, phụ thuộc vào nhân duyên, tồn tại một thời gian, và rồi tự động tan biến. Không ai có thể chống lại hay điều khiển được tất cả những điều này. Nhưng không có quy ước, chúng ta sẽ không có gì để nói, không có tên, không có sự tu hành, không có việc làm. Luật lệ và quy ước được thiết lập để cho chúng ta có ngôn ngữ, tiện trao đổi, và chỉ vậy thôi.

Lấy ví dụ về tiền bạc. Vào thời xưa, không có đồng xu hay giấy bạc. Người ta chỉ trao đổi với hàng hóa, nhưng những thứ này khó giữ được lâu, cho nên họ chế ra tiền. Có lẽ trong tương lai, một vị vua sẽ ra lệnh bãi bỏ tiền giấy. Thay vào đó chúng ta dùng sáp thực vật, nấu tan rồi nắn thành những cục sáp, gọi nó là tiền rồi sử dụng nó khắp nơi trong nước. Cũng có thể chúng ta sẽ quyết định dùng phân gà để làm tiền – không có gì khác có thể là tiền, chỉ phân gà thôi! Rồi chúng ta sẽ đánh nhau và giết nhau chỉ vì phân gà!

Đây là cái thực tại quy ước. Nhưng để một người bình thường có thể hiểu được sự giải thoát là gì không phải dễ. Tiền bạc, nhà cửa, địa vị, danh tiếng, gia đình, con cái, và thân quyến chỉ là những quy ước mà chúng ta đặt ra. Nhưng dưới ánh sáng của Đạo pháp, chúng thật sự không thuộc về chúng ta. Có thể khi nghe nói thế, chúng ta không được vui, nhưng thực tế là vậy đó. Những thứ này chỉ có giá trị qua sự quy ước. Nếu chúng ta quy định là nó không có giá trị, nó sẽ không có giá trị. Nếu chúng ta quy định nó có giá trị, nó sẽ có giá trị. Sự việc là như thế đó. Chúng ta mang quy ước vào trong thế gian để thỏa mãn nhu cầu của mình.

Ngay cả thân thể này cũng không thật sự là của chúng ta. Chúng ta chỉ cho rằng nó là thế. Nó thật ra chỉ là sự giả định từ phía chúng ta. Bạn không thể tìm thấy trong nó một tự ngã nào có thực chất. Ở đó, chỉ có những nguyên tố sinh ra, tồn tại một thời gian, và rồi hủy diệt. Nó không có thực chất, nhưng chúng ta có thể sử dụng nó. Nó giống như một ly nước. Sớm muộn rồi ly nước cũng sẽ vỡ, nhưng trong khi nó còn nguyên ở đó, bạn nên sử dụng và chăm sóc nó kỹ càng. Nó là một công cụ cho bạn dùng. Nếu nó vỡ, bạn sẽ phiền, cho nên dầu biết rằng nó sẽ phải vỡ thôi. Bạn vẫn nên cố sức gìn giữ nó.

Quy ước và sự giải thoát tương quan với nhau như thế đó. Dầu bạn có sử dụng cái thực tại quy ước, đừng đặt niềm tin vào nó như thể nó là thật. Nếu bạn dính mắc vào nó, đau khổ sẽ phát sinh.

Lấy ví dụ về sự đúng sai. Có người thấy điều sai là đúng, và điều đúng là sai, nhưng cuối cùng thì ai là người thật sự biết điều gì đúng, điều gì sai? Chúng ta không biết. Con người thiết lập những quy ước khác nhau về sự đúng và sự sai, nhưng Đức Phật lấy sự khổ làm nguyên tắc. Về chân lý, chúng ta không thật sự biết, nhưng dựa vào thực tiễn và hữu ích qua hành động mà chúng ta nói rằng, điều đúng là không làm hại chính mình và người khác. Quy ước như thế này có mục đích khẳng định và có thể thỏa mãn như cầu của chúng ta.

Nói cho cùng, thì sự quy ước và sự giải thoát cũng đều là pháp. Cái này cao hơn cái kia, nhưng chúng đi chung với nhau. Chúng ta không cách nào có thể bảo đảm một thứ gì đó là như thế này hay là như thế kia, cho nên Đức Phật bảo chúng ta cứ để nó ở đó. Chỉ biết là chúng không chắc chắn, dầu bạn có thích hay không thích đến bao nhiêu, bạn cũng nên biết chúng là không chắc chắn.

Bất kể là lúc nào hay ở đâu, sự tu hành hoàn tất một nơi mà không có gì cả. Đây là nơi chỉ có sự giao phó, sự rỗng không, sự trút gánh nặng xuống. Đây là dứt điểm. Không còn sự tranh cãi như câu đố: Cái gì đến trước, con gà hay cái trứng? Không thể giải đáp được; thiên nhiên chỉ là vậy.

Tất cả những thứ này, những thứ chúng ta vừa nói, đều chỉ là những quy ước. Chúng ta tạo ra chúng. Nếu bạn biết những điều này với trí huệ, bạn sẽ biết sự vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Đây là cái nhìn dẫn tới sự giác ngộ.

Huấn luyện và giảng dạy những người có trình độ và hiểu biết khác nhau là một việc rất khó khăn. Họ có định kiến của họ. Bạn bảo họ một điều gì đó, họ không tin bạn. Bạn nói với họ sự thật nhưng họ nói là nó không phải thật. “Tôi mới đúng, bạn sai rồi…”. Những chuyện như vậy không biết đến khi nào mới chấm dứt.

Nếu bạn không xã bỏ, bạn sẽ đau khổ: Bốn người đàn ông đi vào rừng. Họ nghe tiếng gà gáy, âm thanh có vẻ hơi lạ và một trong bốn người này bâng khuâng, “Đó là tiếng gà trống hay tiếng gà mái vậy?” anh ta hỏi. Ba người kia trả lời, “Thì nó cũng có miệng vậy!” Họ cứ tranh cãi rồi giận dỗi nhau, nhưng sự thật thì mọi người đều sai. Dầu bạn nói là “gà mái” hay “gà trống”, đó chỉ là cái tên thôi. Chúng ta đặt ra những quy ước này, nói rằng gà trống là phải như thế này, gà mái là phải như thế kia, gà trống kêu kiểu này, gà mái kêu kiểu kia… và chúng ta bị kẹt trong thế gian như thế đó! Hãy nhớ điều này! Chỉ cần bạn biết rằng trên thực tế, không có thứ gì thật sự là gà trống và gà mái, vấn đề sẽ kết thúc!

Đức Phật bảo chúng ta đừng dính mắc. Làm sao để thực tập không dính mắc? Bằng cách từ bỏ sự dính mắc. Nhưng sự dính mắc này rất khó hiểu. Chúng ta cần có trí huệ sắt bén để khảo sát và thấu suốt điều này, để thật sự đạt đến sự không dính mắc.

Thực ra, người ta vui hay buồn, mãn nguyện hay không mãn nguyện, không phụ thuộc vào việc họ sở hữu nhiều hay ít, mà phụ thuộc vào trí huệ. Chỉ xuyên qua trí huệ, xuyên qua sự nhìn thấy chân lý của sự việc, họ mới có thể vượt lên trên mọi khổ đau.

Cho nên Đức Phật khuyên chúng ta khảo sát, quán chiếu. Trong sự quán chiếu, chúng ta chỉ cố hiểu những vấn đề này một cách đúng đắn. Đây là sự tu hành của chúng ta. Sinh, lão, bệnh, tử là những hiện tượng tự nhiên và thông thường nhất. Đức Phật bảo chúng ta quán chiếu những thứ này, nhưng một số người vẫn không hiểu. “Có gì ở đó đâu mà quán chiếu?” họ nói. Họ sinh ra, nhưng họ không biết sự sinh; họ sẽ chết, nhưng họ không biết sự chết.

Những ai khảo sát những thứ này liên tục sẽ nhìn thấy bản chất của chúng. Khi đã nhìn thấy điều này, họ sẽ dần dần tháo gỡ những vấn đề của mình. Dầu họ vẫn còn dính mắc nhưng họ có trí huệ và nhận thấy rằng sinh, lão, bệnh, tử là bản chất tự nhiên, họ sẽ bớt khổ. Chúng ta học Phật Pháp cũng chỉ vì điều này – để dứt khổ.

Phật Pháp cơ bản không nói nhiều đến thế. Chỉ có tiến trình sinh diệt của sự khổ, và điều này Đức Phật gọi là chân lý. Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Người ta không nhìn thấy chân lý này. Nếu chúng ta biết chân lý, chúng ta biết sự khổ.

Những cuộc tranh cãi, sự kiêu hãnh về những ý kiến cá nhân này, không có kết thúc. Để tâm có thể nghĩ ngơi, để tìm thấy sự bình an, chúng ta nên quán chiếu quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta – như là vấn đề sinh, lão, bệnh, tử, chẳng hạn. Chúng ta làm sao có thể tránh bị quấy rầy bởi những thứ này? Ngay bây giờ, chúng ta có thể không lo lắng lắm, nhưng chúng ta vẫn nên tiếp tục khảo sát cho đến khi chúng ta biết sự thật về chúng. Và rồi tất cả sự khổ đau của chúng ta sẽ giảm thiểu, bởi vì chúng ta sẽ không còn dính mắc nữa.


3 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 27

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 27

SỰ BÌNH AN XUẤT THẾ GIAN.

Chúng ta biết cả hai trạng thái hạnh phúc và đau khổ,

nhưng chúng ta không đồng hóa mình với chúng.

Chúng ta chỉ ở lại với sự bình an:

sự bình an vượt lên cả hạnh phúc lẫn đau khổ.

Tu hành là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta không tu hành, tất cả những kiến thức của chúng ta chỉ là trên bề mặt, chỉ là lớp vỏ bên ngoài. Giống như chúng ta đang có trong tay thứ trái cây thơm ngon, nhưng chúng ta chưa ăn, cho nên chúng ta vẫn chưa được lợi ích. Chỉ khi chúng ta ăn nó, chúng ta mới thật sự biết mùi vị của nó.

Đức Phật không khen ngợi những người chỉ tin vào người khác, Ngài khen ngợi những ai nhận biết chính họ. Cũng như với trái cây đó, một khi chúng ta đã nếm nó, chúng ta không cần phải hỏi ai khác là nó chua hay ngọt. Vấn đề của chúng ta kết thúc, bởi vì chúng ta nhìn thấy đúng với chân lý. Một người giác ngộ cũng giống như một người đã nhận biết mùi vị của trái cây. Mọi nghi ngờ chấm dứt ngay tại đây.

Khi chúng ta nói chuyện Phật Pháp, tất cả đều xoay quanh bốn đề mục: biết sự khổ, biết nguyên nhân của sự khổ, biết sự chấm dứt khổ, và biết con đường dẫn đến sự diệt khổ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Tất cả những gì chúng ta kinh nghiệm trên đường tu hành đều xoay quanh bốn thứ này. Khi chúng ta biết những thứ này, vấn đề của chúng ta kết thúc.

Bốn thứ này xuất phát từ đâu? Chúng phát sinh ngay bên trong thân và tâm của chúng ta, không nơi nào khác cả. Vậy thì tại sao giáo lý của Phật lại bao la và chi tiết đến thế? Nó phải là vậy để giải thích những sự việc này một cách tinh tế hơn, để chúng ta có thể nhìn thấy chúng.

Khi Đức Gotama Siddhatta mới sinh ra, trước khi Ngài đắc Đạo, Ngài là một người bình thường như tất cả chúng ta. Khi Ngài biết điều Ngài cần biết – đó là, chân lý của sự khổ, nguyên nhân, sự kết thúc và con đường dẫn đến sự dứt khổ - Ngài đắc Đạo và trở thành một vị Phật toàn giác.

Khi chúng ta đắc Đạo, ngồi đâu chúng ta cũng biết Đạo, ở đâu chúng ta cũng nghe lời giảng dạy của Phật. Khi chúng ta hiểu Đạo, Đức Phật ở trong tâm chúng ta, Pháp ở trong tâm chúng ta, và sự tu hành dẫn đến trí huệ cũng ở trong tâm chúng ta. Có Phật, Pháp, Tăng trong tâm có nghĩa là bất cứ hành động nào là tốt hay xấu, chúng ta đều biết rõ bản chất của chúng. Đó là lý do Đức Phật có thể vứt bỏ ngoài tai mọi ý kiến, mọi lời khen chê của thế gian. Khi người ta tán tụng hay chỉ trích Ngài, Ngài chấp nhận nó như vậy. Khen hay chê chỉ là điều kiện của thế gian, cho nên Ngài không bận tâm. Tại sao không? Bởi vì Ngài biết sự khổ, Ngài biết rằng nếu đặt niềm tin vào sự khen chê đó, chúng sẽ khiến cho Ngài khổ sở.

Khi đau khổ phát sinh, nó kích động chúng ta và chúng ta cảm thấy khó chịu. Điều gì gây ra sự đau khổ đó? Đó là vì chúng ta không biết chân lý. Khi nguyên nhân hiện diện thì đau khổ phát sinh. Một khi nó phát sinh, chúng ta không biết làm sao để dừng nó. Chúng ta càng cố ngăn chặn nó, nó càng lớn lên thêm. Chúng ta nói, “Đừng chỉ trích tôi”, hay “Đừng đổ lỗi cho tôi”. Nhưng nếu chúng ta cố dừng nó theo cách này, sự đau khổ càng tấn tới, nó sẽ không dừng lại.

Cho nên, Đức Phật nói rằng con đường dẫn tới sự chấm dứt đau khổ là, làm cho Đạo trở thành thực tại trong tâm chúng ta. Chúng ta trở thành kẻ chứng (kiến) Đạo. Nếu có người nói là chúng ta tốt, chúng ta không chìm đắm trong đó; nếu họ nói là chúng ta không tốt, chúng ta cũng không quên mất chính mình. Như thế chúng ta có thể tự tại.

“Tốt” và “xấu” chỉ là những pháp thế gian, chúng ta chỉ mò mẫm trong bóng tối, không biết đường ra. Nếu chúng ta làm như thế, thì có nghĩa là chúng ta chưa làm chủ chính mình. Chúng ta cố đánh bại những người khác, nhưng làm thế là đánh bại chính mình. Nếu chúng ta làm chủ chính mình, chúng ta làm chủ mọi thứ khác – tất cả trần cảnh, sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý.

Tôi đang nói về bên ngoài, nhưng bên ngoài cũng phản ánh bên trong. Có người chỉ biết bên ngoài. Chẳng hạn, chúng ta nói chúng ta cố “nhìn thấy cái thân trong thân”. Nhìn thấy thân thể bên ngoài thôi thì không đủ, chúng ta phải biết cái thân trong thân. Rồi, sau khi khảo sát tâm, chúng ta phải biết cái tâm trong tâm.

Tại sao chúng ta nên khảo sát thân thể? “Thân trong thân” là nghĩa gì? Khi chúng ta nói đến việc nhận biết tâm, “tâm” này là gì vậy? Nếu chúng ta không biết tâm, chúng ta không biết những việc trong tâm. Chúng ta là một người không biết sự khổ, không biết nguyên nhân, không biết sự chấm dứt, và không biết con đường dẫn đến chấm dứt sự đau khổ. Những thứ lẽ ra có thể giúp chúng ta dập dắt khổ đau lại không giúp được gì, bởi vì chúng ta đang bận tâm chạy theo những thứ tăng thêm sự khổ. Giống như chúng ta bị ngứa trên đầu, nhưng lại gãi dưới chân! Nếu đầu ngứa mà gãi dưới chân thì đâu có giúp ích gì được. Cùng thế ấy, khi đau khổ phát sinh, chúng ta không biết cách xử lý nó, chúng ta không biết sự tu hành dẫn đến sự chấm dứt đau khổ.

Lấy ví dụ thân thể này, cái mà mỗi chúng ta mang theo đến buổi họp mặt ngày hôm nay. Nếu chúng ta chỉ nhìn thấy hình dáng bên ngoài của thân thể, chúng ta không thể thoát khổ. Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta chỉ nhìn thấy bên ngoài mà không nhìn thấy bên trong. Chúng ta nhìn thấy thân thể là một thứ xinh đẹp và chắc chắn. Như thế là không đủ. Chúng ta nhìn bên ngoài với con mắt của chúng ta. Điều đó một đứa con nít cũng có thể làm được, thú vật có thể làm được – không khó khăn gì cả. Nhưng khi nhìn thấy nó chúng ta bám vào đó, chúng ta không biết sự thật về nó. Chúng ta nắm giữ nó và nó cắn chúng ta!

Cho nên, chúng ta cần khảo sát cái thân này bên trong thân thể. Bất cứ thứ gì trong thân thể, cứ xem xét nó. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào bên ngoài, chúng ta không thấy rõ. Chúng ta chỉ thấy tóc, móng tay, những thứ xinh đẹp đó cám dỗ chúng ta, cho nên Đức Phật bảo chúng ta nhìn vào bên trong thân thể để thấy cái thân thể bên trong thân thể. Cái gì ở bên trong thân thể thế? Hãy nhìn kỹ! Chúng ta sẽ ngạc nhiên, bởi vì mặc dầu chúng ở bên trong chúng ta, chúng ta chưa bao giờ thấy chúng. Đi đâu chúng ta cũng mang theo chúng với mình, nhưng lại không biết chút gì về chúng.

Giống như khi ai đó cho chúng ta món quà. Chúng ta nhận lấy, bỏ nó vào túi xách, và rồi đi về mà không mở ra xem để biết có gì ở bên trong. Sau này, chúng ta mở nó ra và thấy trong đó chứa đầy rắn độc, cùng những thứ hôi thối! Thân thể chúng ta cũng vậy. Nếu chúng ta chỉ nhìn thấy cái vỏ đẹp đẽ bên ngoài thôi, chúng ta nói rằng nó xinh đẹp và tươi tốt. Chúng ta quên mất chính mình. Chúng ta quên mất sự vô thường, khổ, và vô ngã. Nếu chúng ta nhìn vào thân thể này, sẽ thấy nó thật gớm ghiếc.

Khi chúng ta xem xét thân thể một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy nó đáng thương và chán ngắt. Tâm trở nên thản nhiên với mọi việc. Cảm giác lạnh nhạt này không có nghĩa là chúng ta chán ghét. Đó chỉ là tâm chúng ta rỗng không, xả bỏ. Chúng ta thấy rằng tất cả các pháp đều không có thực chất, không đáng tin cậy – bản chất của chúng là thế đó. Bất kể chúng ta muốn chúng là gì, chúng vẫn đi đường chúng. Bất kể chúng ta cười hay khóc, chúng chỉ là vậy mà thôi. Những thứ bất ổn sẽ bất ổn, những thứ không đẹp sẽ không đẹp.

Cho nên Đức Phật nói rằng khi chúng ta kinh nghiệm sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý, chúng ta nên buông bỏ chúng. Khi tai nghe tiếng, buông bỏ chúng nó. Khi mũi ngửi mùi, buông bỏ nó. Cứ để nó ở đó! Khi có sự xúc chạm của thân thể, buông bỏ cảm giác thích hay không thích theo sau đó, cứ để nó quay về nơi nó phát sinh. Với các tâm thái cũng vậy. Tất cả những thứ này – cứ để chúng đi qua. Đây là nhận biết. Bất kể là hạnh phúc hay khổ đau, nó đều như nhau. Đây là thiền.

Chúng ta thiền để làm cho tâm bình an, để rồi trí huệ có thể phát sinh. Điều này đòi hỏi chúng ta tu hành với thân và tâm để có thể nhìn thấy và biết những cảm giác phát sinh từ sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý. Nói tóm lại, nó chỉ là vấn đề của hạnh phúc và khổ đau. Hạnh phúc là một cảm giác thoải mái trong tâm. Đau khổ là một cảm giác khó chịu trong tâm. Đức Phật dạy chúng ta tách rời khỏi những cảm xúc này. Tâm là cái biết. Cảm xúc là những tính chất hạnh phúc và đau khổ, thích và không thích. Khi tâm mê đắm trong những thứ này, chúng ta nói rằng nó dính mắc, hay nó xem sự hạnh phúc và đau khổ này là đáng để nắm bắt. Sự nắm bắt là động thái của tâm, và sự hạnh phúc và đau khổ là một cảm xúc.

Khi Đức Phật dạy chúng ta tách rời khỏi cảm xúc, Ngài không có ý bảo chúng ta ném chúng đi nơi khác. Ý Ngài là, tâm phải biết hạnh phúc và đau khổ. Khi bạn nhập định, chẳng hạn, và tâm vô cùng bình an, rồi hạnh phúc phát sinh, nhưng nó không ảnh hưởng chúng ta; đau khổ phát sinh, nhưng cũng không ảnh hưởng chúng ta. Đây là ý nghĩa của việc tách rời tâm khỏi cảm xúc. Chúng ta có thể so sánh điều này với dầu và nước trong một cái ly, dầu và nước không trộn lẫn. Bạn cố ý trộn lẫn chúng, nhưng dầu vẫn là dầu, nước vẫn là nước, bởi vì chúng có tỉ trọng khác nhau.

Tâm, trong trạng thái tự nhiên, thì không vui không buồn. Khi cảm xúc đi vào tâm, hạnh phúc và đau khổ nảy sinh. Nếu chúng ta có chánh niệm, chúng ta biết cảm giác thoải mái cũng chỉ là cảm giác thảo mái. Cái tâm giác ngộ sẽ không nhặt nó lên. Hạnh phúc ở đó, nhưng nó ở “bên ngoài” tâm, không bị chôn chặt ở trong tâm. Tâm biết rõ cảm xúc đó.

Nếu chúng ta tách rời tâm khỏi sự khổ, có phải là chúng ta không khổ đau, chúng ta không kinh nghiệm đau khổ nữa? Không phải. Chúng ta kinh nghiệm nó, nhưng chúng ta biết rằng tâm chỉ là tâm, cảm xúc chỉ là cảm xúc. Chúng ta không dính mắc vào cảm xúc hay mang nó theo bên mình. Đức Phật tách rời những thứ này xuyên qua sự hiểu biết, Ngài không dính mắc vào đó, cho nên chúng ta nói Ngài đã dứt trừ khổ đau. Và Ngài cũng biết rằng, hạnh phúc cũng như thuốc độc. Ngài không cho nó là mình. Hạnh phúc thật sự xuyên qua sự hiểu biết, nhưng Ngài không dính mắc vào đó. Ngài tách rời khỏi sự hạnh phúc và khổ đau.

Khi chúng ta nói rằng Đức Phật và những Bậc Giác Ngộ đã diệt trừ tất cả phiền não, điều đó không có nghĩa là họ diệt trừ chúng. Họ không thực sự diệt trừ phiền não, nhưng bởi vì họ biết bản chất của chúng, họ xả bỏ chúng. Kẻ ngu thì nắm bắt chúng, nhưng Bậc Giác Ngộ nhận ra rằng những phiền não trong tâm là độc dược, nên họ quét chúng ra ngoài, họ quét tất cả những thứ làm cho họ đau khổ. Kẻ nào không biết điều này sẽ xem hạnh phúc là tốt và nắm giữ chúng, nhưng Đức Phật nhìn thấy bản chất của chúng và Ngài giũ bỏ chúng.

Cả hạnh phúc lẫn đau khổ đều không ổn định và thỏa mãn. Chúng sinh rồi diệt. Khi Đức Phật thấy điều này, Chánh Kiến phát sinh, con đường tu hành trở nên rõ ràng. Bất kể là cảm xúc hay tư tưởng nào phát sinh trong tâm, Ngài đều biết rằng đó là vở tuồng bất tận của hạnh phúc và khổ đau. Ngài không dính mắc vào chúng.

Khi vừa đắc Đạo, Đức Phật thuyết một bài về sự mê đắm trong dục lạc và mê đắm trong đau khổ. “Hởi chư tăng! Mê đắm trong dục lạc là con đường buông thả, mê đắm trong đau khổ là con đường gò bó”. Đây là những thứ đã quấy nhiễu sự tu hành của Ngài cho đến khi Ngài giác ngộ, bởi vì lúc đầu Ngài chưa buông bỏ chúng. Khi Ngài biết chúng và buông bỏ chúng, nhờ thế Ngài đã có thể tuyên giảng bài pháp đầu tiên.

Bạn không nên đi con đường của hạnh phúc hay khổ đau. Hãy biết rõ chúng. Biết chân lý của sự khổ, chúng ta sẽ biết nguyên nhân của sự khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ. Và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ là thiền định. Nói tóm lại, chúng ta phải có chánh niệm.

Chánh niệm là nhận biết, tức là có sự hiện diện của tâm. Tôi đang nghĩ gì lúc này? Tôi đang làm gì? Tôi đang mang những gì với mình? Chúng ta quan sát như vậy, chúng ta biết mình đang sống như thế nào. Tu hành như thế, trí huệ sẽ phát sinh. Chúng ta luôn xem xét và khảo sát, trong mọi tư thế. Khi một cảm thọ mà chúng ta ưa thích phát sinh trong tâm, chúng ta chỉ nhận biết nó là thế, nhưng chúng ta không nắm giữ nó như thể một thứ gì chắc chắn. Khi khổ đau phát sinh, chúng ta cũng biết nó, và chúng ta biết rằng chìm đắm trong đau khổ không phải là con đường của một thiền giả.

Đây là sự tách rời tâm khỏi cảm xúc. Nếu chúng ta khôn ngoan, chúng ta không dính mắc, chúng ta để sự việc ở đó. Chúng ta trở thành “người biết”. Tâm và cảm xúc thì như dầu và nước. Chúng ở cùng một cái ly, nhưng không hòa lẫn. Nếu đau đớn hay bệnh hoạn, chúng ta vẫn biết rằng cảm xúc chỉ là cảm xúc, tâm là tâm. Chúng ta biết những trạng thái vui sướng và đau khổ, nhưng chúng ta không đồng hóa mình với chúng. Chúng ta chỉ ở lại với sự bình an: Sự bình an vượt lên cả sự hạnh phúc và đau khổ.

Bạn phải sống như thế đó, nghĩ là , không vui, không buồn. Bạn chỉ ở lại với cái biết. Bạn không mang sự việc đi theo mình.

Chừng nào chúng ta còn chưa khai ngộ, tất cả những thứ này có thể hơi khó nuốt, nhưng điều đó không quan trọng. Cứ hướng tới mục tiêu này. Tâm là tâm. Nó tiếp cận sự hạnh phúc và khổ đau, nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy tâm và cảm xúc là như vậy, không có gì hơn. Chúng tách biệt, không trộn lẫn. Nếu chúng trộn lẫn với nhau, chúng ta không thể biết chúng. Cũng giống như trong một căn nhà, người ở trong đó và căn nhà liên quan với nhau nhưng tách biệt.  Nếu căn nhà có gì nguy hiểm, chúng ta sẽ lo lắng và cảm thấy muốn bảo vệ cho nó. Nhưng nếu căn nhà phát cháy, chúng ta chạy ra ngoài. Cùng thế ấy, khi một cảm giác đau khổ phát sinh, chúng ta ra khỏi đó. Khi chúng ta biết căn nhà phừng phực lửa, chúng ta chạy ra ngoài. Căn nhà là một thứ, người ở trong đó là một thứ khác. Họ là hai thứ tách biệt.

Chúng ta tách rời tâm và cảm xúc như thế đó, nhưng thật ra chúng vốn đã tách rời. Chúng ta chỉ cần nhận biết bản chất tách biệt này đúng với thực tại. Nếu chúng ta không nhìn thấy là chúng tách biệt, đó là bởi vì chúng ta còn dính mắc vào chúng.

Cho nên, Đức Phật bảo chúng ta thiền. Thiền rất quan trọng. Chỉ biết với đầu óc thôi thì không đủ. Kiến thức phát sinh từ sự thực hành với cái tâm bình an và kiến thức đến từ lý thuyết khác nhau rất xa. Kiến thức về tâm đến từ sự học hỏi không phải là kiến thức thật.

Nếu chúng ta thật sự hiểu, thì sự xả bỏ tự động xảy ra. Chúng ta biết bản chất của sự việc và không đánh mất chính mình. Nếu chúng ta bệnh, chúng ta không chìm đắm trong đó. Có người nói, “Suốt năm nay, tôi bệnh hoài, nên không thể thiền”. Đây là những lời nói thốt ra từ miệng một kẻ ngu. Một người bị bệnh hay gần chết càng phải tinh tấn trong sự tu hành của mình. Bạn nói là bạn không có thời giờ để thiền. Bạn bệnh, bạn khổ, và rồi bạn cảm thấy mình không thể thiền. Nếu bạn nghĩ như thế, trở ngại sẽ càng lớn hơn. Đức Phật không dạy như thế. Ngài nói rằng chính đây là nơi để tu hành. Khi chúng ta bệnh hay sắp chết, đó là lúc chúng ta thực sự hiểu biết thực tại.

Có người nói rằng họ không thể thiền vì họ quá bận rộn. Đôi lúc vài giáo viên đến gặp tôi. Họ nói là họ có quá nhiều trách nhiệm, nên không có thời gian để thiền. Tôi hỏi họ, “Khi bạn dạy học, bạn có thời gian để thở không?” Họ trả lời là có. “Vậy làm sao bạn có thời giờ để thở nếu bạn quá bề bộn và rối rắm?”

Thật ra sự tu hành này là về tâm và những cảm xúc của nó. Nó không phải là một thứ mà bạn phải chạy đua hay đấu tranh để đạt được. Sự hít thở tiếp diễn khi bạn đang làm việc. Thiên nhiên chăm sóc những tiến trình tự nhiên – tất cả những gì chúng ta cần làm là cố gắn tỉnh thức. Cứ cố gắn mãi, đi vào trong tâm để nhìn thấy rõ ràng. Thiền là như thế đó.

Nếu chúng ta có sự hiện diện của tâm, thì bất kể công việc chúng ta đang làm là gì, nó sẽ là thứ công cụ có thể giúp chúng ta nhận biết liên tục cái đúng và sai. Chúng ta có rất nhiều thời gian để thiền. Chúng ta chỉ không biết tu hành là gì mà thôi. Khi ngủ chúng ta thở, khi ăn chúng ta thở. Ở đâu chúng ta cũng thở. Cho nên ở đâu, chúng ta cũng có thời gian để thiền.

Sự tỉnh giác là một yếu tố tinh thần, không phải là yếu tố vât chất. Cho nên chúng ta chỉ cần có sự hiện diện của tâm, và rồi chúng ta sẽ luôn biết đâu là sai, đâu là đúng. Dầu là đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta vẫn đều có rất nhiều thời gian. Chúng ta chỉ là không biết cách sử dụng nó. Hãy cố gắn suy ngẫm về điều này.

Khi chúng ta biết, chúng ta sẽ là một người khéo điều phục tâm. Khi chúng ta khéo đối phó với các cảm xúc, chúng ta khéo léo đối với thế gian. Chúng ta trở thành “người biết thế gian” – đây là một trong chín phẩm chất của Phật. Đức Phật là một người biết rõ thế gian với những chướng ngại của nó. Ngài biết rằng những cái phiền toái và những cái không phiền toái đều ở ngay nơi đây. Thế giới này quá rối rắm – làm sao Đức Phật có thể biết nó? Chúng ta nên hiểu rằng giáo pháp mà Đức Phật dạy không vượt quá khả năng của chúng ta. Trong tất cả tư thế, chúng ta nên có sự hiện diện của tâm và sự nhận biết chính mình – và khi đến lúc để ngồi thiền, chúng ta ngồi thiền.

Chúng ta ngồi thiền để thiết lập sự bình an, chứ không phải để vui chơi. Thiền minh sát tự nó là thiền chỉ. Nhưng có người nói, “Bây giờ chúng ta chỉ thiền, rồi sau đó chúng ta sẽ thiền minh sát”. Đừng tách rời chúng như thế! Sự tĩnh lặng là cơ sở để phát triển trí huệ. Trí huệ là kết quả của sự tĩnh lặng. Nói rằng chúng ta thiền chỉ, rồi sau sẽ thiền minh sát – bạn không thể làm như thế! Bạn chỉ có thể tách rời chúng trong sách vở. Cũng như với con dao, có lưỡi dao và có lưng dao; bạn không thể tách rời chúng. Sự tĩnh lặng dẫn đến sự phát sinh trí huệ cũng như thế đó.

Đức hạnh là cha mẹ của Pháp. Lúc đầu, chúng ta phải có đức hạnh. Đức hạnh là sự bình an. Điều này có nghĩa là lời nói và hành động phải trong sạch. Khi chúng ta không làm sai, chúng ta không bị kích động. Khi chúng ta không bị kích động, sự bình an và điềm tĩnh phát sinh.

Cho nên chúng ta nói rằng giới, định, huệ là Đạo mà các vị Thánh Nhân đã đi để đạt đến sự giác ngộ. Sự thật thì ba thứ này là một: giới luật là thiền định, và thiền định là giới luật; thiền định là trí huệ, và trí huệ là thiền định. Cũng giống như một trái xoài. Khi nó là hoa, chúng ta gọi nó là hoa. Khi nó trở thành trái, ta gọi nó là trái xoài. Khi nó chín, ta gọi nó là một trái xoài chín. Nó luôn là một trái xoài, nhưng nó liên tục thay đổi. Chúng ta có thể gọi nó bằng những cái tên khác nhau hay cùng một tên. Trái xoài từ lúc là một nụ hoa, trưởng thành rồi chín. Bất kể người ta gọi nó là gì không thành vấn đề. Một khi nó sinh ra, nó lớn lên, già đi, và rồi đi đâu? Chúng ta nên quán chiếu điều này.

Có người không muốn già. Khi họ già, họ buồn khổ. Những người này không nên ăn xoài chín! Tại sao chúng ta muốn xoài chín? Nếu chúng không chín kịp thời, chúng ta ép chúng chín một cách giả tạo, không phải sao? Nhưng khi chúng ta già, chúng ta tiếc nuối. Có người khác, họ sợ già và sợ chết. Nếu họ cảm thấy như thế, họ không nên ăn xoài chín. Chỉ việc ăn hoa xoài thôi! Nếu chúng ta nhìn thấy điều này, chúng ta có thể ngộ Đạo. Mọi thứ sáng tỏ, và chúng ta bình an. Hãy tu hành như thế.

Bạn nên suy ngẫm về những điều tôi vừa nói. Nếu có gì không đúng, hãy thứ lỗi cho tôi. Bạn sẽ biết nó là đúng hay sai nếu bạn tu hành và tự mình nhìn thấy. Bất cứ thứ gì sai, vất nó đi. Nếu nó đúng, hãy sử dụng nó. Nhưng thật ra, chúng ta tu hành là để có thể buông bỏ cả cái sai lẫn cái đúng. Cuối cùng chúng ta sẽ vứt bỏ tất cả. Nếu nó đúng, bỏ nó đi; nếu nó sai, bỏ nó đi! Thường thì nếu nó đúng chúng ta dính mắc vào cái đúng; nếu nó sai, chúng ta cho rằng nó là sai, và rồi tranh cãi nhau. Nhưng Đạo là một nơi không có gì cả - không có gì hết.


2 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 26

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 26

TRUNG ĐẠO.

Cả hạnh phúc và khổ đau

đều không phải là trạng thái bình an.

Đức Phật dạy chúng ta xả bỏ cả hai thứ này.

Đây là sự tu hành đúng. Đây là Trung Đạo.

Giáo lý của Phật là về việc bỏ ác, hành thiện. Rồi khi sự ác đã được dứt trừ và sự thiện lành đã được thuần thục, chúng ta xả bỏ cả hai. Trung Đạo là con đường vượt lên trên cả hai thứ này.

Tất cả sự giảng dạy của Phật đều có cùng một mục tiêu – chỉ ra con đường thoát khổ. Ngài cho chúng ta Chánh Kiến. Nếu chúng ta không hiểu biết đúng đắn, chúng ta không đạt đến sự bình an.

Khi tất cả chư Phật đắc Đạo, và thuyết giảng lần đầu tiên, họ đều nói về hai điều cực đoan này: sự mê đắm trong dục lạc và sự mê đắm trong khổ đau. Đây là hai thứ mê đắm mà những ai kẹt vào trong đó đều phải lên xuống mãi, không bao giờ đạt đến sự bình an. Họ sẽ mãi lăn lộn trong vòng luân hồi sinh tử.

Con người bị kẹt trong hai thái cực này, nên không thể nhìn thấy Trung Đạo. Cả hạnh phúc và khổ đau đều không phải là trạng thái bình an. Đức Phật dạy chúng ta xả bỏ cả hai thứ này. Đây là sự tu hành đúng. Đây là Trung Đạo.

Trung Đạo không ám chỉ lời nói hay hành động của chúng ta, mà ám chỉ tâm. Khi một cảm thọ mà chúng ta không thích nảy sinh, tâm rối rắm, dao động – đây không phải là con đường đúng. Khi một cảm thọ mà chúng ta thích nảy sinh, tâm liền chìm đắm trong dục lạc – con đường này cũng không đúng.

Không ai trong chúng ta muốn đau khổ. Nhưng thật ra hạnh phúc là một hình thức của đau khổ vi tế mà thôi. Bạn có thể so sánh hạnh phúc và đau khổ với một con rắn độc. Đầu rắn là sự đau khổ, đuôi rắn là hạnh phúc. Đầu rắn rất nguy hiểm, nó chứa nọc độc. Nếu bạn đụng vào, con rắn sẽ cắn ngay. Nhưng đừng nói chi là đầu, dầu bạn nắm cái đuôi, nó vẫn quay lại cắn bạn như thường, bởi vì cả đầu và đuôi đều thuộc về con rắn.

Cùng thế ấy, cả hạnh phúc và đau khổ đếu bắt nguồn từ sự ham muốn. Cho nên khi bạn vui, tâm bạn không an. Nó thật sự bất an! Vì sao thế? Khi chúng ta có được điều mình ưa thích, chẳng hạn như tài sản, địa vị, danh tiếng, chúng ta vui lắm. Nhưng sau đó tâm liền cảm thấy lo lắng bởi vì sợ mất đi điều này. Một ngày nào đó, chúng ta có thể mất điều này, và rồi chúng ta đau khổ.

Do đó, ngay cả khi bạn hạnh phúc, sự đau khổ đã có ở đó rồi, nếu bạn không tỉnh giác. Cũng giống như khi bạn nắm cái đuôi rắn – nếu bạn không bỏ nó ra, nó sẽ cắn bạn. Cho nên, dầu đó là đầu rắn hay đuôi rắn, có nghĩa là, dầu đó là điều thiện hay điều ác, chúng đều không chắc chắn và luôn thay đổi.

Cốt tủy của Phật Pháp là sự bình an, và sự bình an đó phát sinh từ cái biết xác thực về bản chất của vạn vật. Nếu xem xét kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng sự bình an không phải là hạnh phúc lẫn khổ đau. Cả hai thứ này đều không phải là chân lý.

Tâm của con người, cái tâm mà Đức Phật muốn chúng ta khảo sát là một thứ mà chúng ta chỉ có thể nhận biết qua những động thái của nó. Cái tâm Nguyên Thủy thì không thể xem xét được, không thể biết được. Trong trạng thái tự nhiên, tâm không dao động, không lung lay. Khi hạnh phúc phát sinh, tâm này dao động; nó mê đắm trong cảm thọ đó. Khi tâm dao động như thế, sự dính mắc và ràng buộc phát sinh.

Đức Phật vạch ra cho chúng ta toàn bộ con đường tu hành, nhưng hoặc là chúng ta chưa tu, hoặc chúng ta chỉ tu trên miệng. Tâm và lời nói của chúng ta chưa hợp nhất, chúng ta chỉ lý luận suông. Nhưng Phật Pháp không phải là thứ để bàn luận hay suy đoán. Phật Pháp thật sự là kiến thức rốt ráo về chân lý của thực tại. Nếu bạn biết chân lý này, bạn sẽ không cần sự giảng dạy nào cả. Nếu bạn không biết nó, thì dầu cho bạn có nghe nói về nó bao nhiêu lần, bạn cũng không thật sự hiểu. Cho nên Đức Phật mới nói, “Bậc Giác Ngộ chỉ vạch ra con đường”. Ngài không thể tu hành cho bạn, bởi vì chân lý là một thứ không thể diễn đạt hay chia sẻ bằng lời.

Tất cả giáo lý chỉ là những sự so sánh, những phương tiện để giúp tâm nhận ra chân lý. Nếu chúng ta không nhìn thấy chân lý, chúng ta đau khổ. Ví dụ, chúng ta thường dùng từ pháp hữu vi (1) khi nói đến thân thể. Ai cũng có thể nói từ này, nhưng vấn đề là chúng ta không biết sự thật về những pháp hữu vi này, và vì thế chúng ta bám giữ chúng. Bởi vì chúng ta không biết sự thật về thân thể, chúng ta đau khổ.

Sau đây là một ví dụ. Giả sử một buổi sáng, bạn đang đi bộ tới chỗ làm thì có một người mắng nhiếc hay nhục mạ bạn từ phía bên kia đường. Bạn cảm thấy bực tức và bị xúc phạm. Người đàn ông đó cứ lải nhải chửi rủa bạn suốt. Nghe những lời sỉ nhục này, bạn rất tức giận. Và dầu đã về đến nhà, bạn vẫn còn ấm ức và muốn trả thù.

Vài ngày sau, có người đến gặp bạn và nói, “Nè, người đàn ông chửi rủa bạn hôm đó là một thằng điên! Hắn điên như thế đã nhiều năm nay rồi! Hắn chửi rủa mọi người. Không ai để tâm đến lời nói của hắn cả”. Nghe thấy thế, bạn liền cảm thấy nhẹ nhõm. Cảm giác tức giận và bị xúc phạm đè nén mấy hôm nay đều tan biến hết. Tại sao? Bởi vì bây giờ bạn đã biết được sự thật. Trước kia bạn cứ tưởng người đàn ông kia là một người bình thường, nên bạn mới tức giận. Sự hiểu lầm này đã khiến cho bạn khổ sở vô cùng. Khi bạn vừa biết sự thật, mọi thứ đều thay đổi: “Ồ, té ra hắn là một thằng điên! Hèn gì!”

Bây giờ hiểu ra, bạn cảm thấy nhẹ nhõm, và bạn có thể buông bỏ. Nếu bạn không biết sự thật, bạn bị dính mắc ngay tại đó. Khi nào bạn còn cho rằng người sỉ nhục bạn là một người bình thường, bạn giận đếu độ muốn giết hắn. Nhưng khi bạn biết được sự thật, bạn thấy nhẹ hẳn. Đây là sự hiểu biết chân lý. Một người chứng ngộ có kinh nghiệm tương tự. Khi sự tham ái, thù hận và si mê tan biến, chúng tan biến cùng một cách đó. Chừng nào chúng ta không biết những thứ này, chúng ta nghĩ, “Làm sao đây? Tôi tham lam và sân si quá”.

Đây không phải là sự hiểu biết đúng đắn. Cũng giống như khi chúng ta nghĩ rằng người điên là một người tỉnh táo. Rồi khi biết rằng hắn là một người điên, chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Không ai chỉ cho bạn thấy điều này. Chỉ khi tâm tự nó nhìn thấy, nó mới có thể dứt trừ sự ràng buộc.

Nó cũng như cái thân thể mà chúng ta gọi là pháp hữu vi này. Mặc dầu Đức Phật đã giải thích rằng nó không có thực chất, chúng ta vẫn ngoan cố bám chặt vào nó. Nếu thân thể có thể nói chuyện, nó sẽ nói với chúng ta cả ngày, “Bạn không phải chủ nhân của tôi, bạn biết chứ”.

Ví dụ, các giác quan – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân – luôn thay đổi, nhưng chúng không bao giờ hỏi ý chúng ta, dầu chỉ một lần! Khi chúng ta nhức đầu hay đau bụng, thân thể đâu có xin phép chúng ta trước, nó cứ làm, theo lề lối tự nhiên của chúng. Rõ ràng thân thể không cho phép bất cứ người nào làm chủ nhân của nó, nó không có chủ nhân. Đức Phật mô tả nó như một thứ không có thực thể.

Chúng ta không hiểu Đạo, nên chúng ta không hiểu pháp hữu vi này. Chúng ta xem chúng là chính mình, thuộc về mình hay thuộc về người nào khác. Một khi có sự hiện hữu, thì có sinh. Một khi có sinh, thì có già, có bệnh và chết – cả một rừng đau khổ phát sinh.

Đây là Mười Hai Nhân Duyên(2). Vô minh sinh ra hành (hành động có ý chí), và hành sinh ra thức (tâm thức), và cứ thế… Tất cả những thứ này chỉ là những sự kiện trong tâm (tâm pháp). Khi chúng ta tiếp cận những thứ chúng ta không thích, nếu không có chánh niệm, vô minh sẽ ở đó. Đau khổ phát sinh ngay lập tức. Nhưng tâm đi ngang qua những biến đổi này quá nhanh, nên sự nhận biết của chúng ta không theo kịp. Cũng giống như bạn rơi từ trên cây xuống. Trước khi bạn biết chuyện gì xảy ra – bịch! – bạn đã đụng mặt đất. Thật ra bạn đã rơi ngang qua nhiều cành cây trong lúc rơi xuống, nhưng bạn không đếm kịp. Bạn chỉ rơi xuống … bịch!

Mười Hai Nhân Duyên cũng vậy. Chúng ta nói vô minh sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, danh sắc sinh lục căn, lục căn sinh lục trần, lục trần sinh tham ái, tham ái sinh giữ thủ, thủ sinh sở hữu, hữu dẫn tới sự sinh và sinh dẫn tới già, bệnh, và chết, và đủ thứ đau khổ. Tuy vậy, trên thực tế, khi bạn tiếp cận một thứ gì bạn không thích, bạn cảm thấy đau khổ ngay lập tức! Cảm giác đau khổ đó, thật ra, là kết quả của cả chuỗi nhân duyên sinh khởi này. Đây là tại sao Đức Phật muốn các đệ tử của Ngài khảo sát và biết rõ tâm của họ.

Khi con người sinh ra, họ không có danh tánh – một khi họ sinh ra, chúng ta mới đặt tên cho họ. Đây là quy ước thế gian. Chúng ta đặt tên cho mỗi một người để tiện việc giao tiếp và nhận dạng. Kinh điển cũng vậy. Chúng ta đặt tên cho mỗi một thứ để tiện cho việc nghiên cứu và truyền đạt. Tất cả đều là pháp hữu vi. Chúng là những thứ do nhân duyên mà sanh ra (bị điều kiện hóa). Chúng đều vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã. Chúng không ổn định. Chúng ta không hiểu biết điều này, cho nên chúng ta có quan niệm sai lạc. Quan niệm sai lạc này cho rằng các pháp hữu vi là chúng ta, của chúng ta, hay nói cách khác, hạnh phúc và khổ đau là chúng ta. Suy nghĩ như thế là không hiểu bản chất thật của sự việc. Sự thật thì chúng ta không thể ép những thứ này diễn ra theo ý muốn của mình. Chúng chỉ đi theo tự nhiên.

Lấy ví dụ sau đây: giả sử bạn ngồi giữa một xa lộ và xe cộ đang chạy về phía bạn. Bạn không thể nổi nóng với những chiếc xe trên đường mà la hét, “Ê, đừng lái về phía này! Đừng lái về phía kia!” Đó là xa lộ. Bạn không thể nói chuyện kiểu đó. Vậy thì bạn làm gì bây giờ? Bạn rời khỏi xa lộ! Bạn tránh khỏi đường xe chạy. Con đường là nơi để xe chạy. Nếu bạn không muốn có xe chạy ở đó, bạn chỉ thất vọng thôi.

Các pháp hữu vi cũng vậy. Chúng ta nói rằng chúng quấy nhiễu chúng ta. Chẳng hạn như khi chúng ta đang ngồi thiền và nghe tiếng động. Chúng ta nghĩ, “Ồ, tiếng động đó phiền nhiễu quá”. Nếu chúng ta nghĩ rằng tiếng động làm phiền chúng ta, chúng ta sẽ đau khổ. Nhưng nếu chúng ta khảo sát kỹ hơn, chúng ta sẽ để tiếng động ở đó. Chúng ta sẽ thấy rằng tiếng động là một thứ và chúng ta là một thứ khác. Những ai cho rằng tiếng động quấy rối họ, kẻ đó không nhìn thấy chính mình. Họ thật sự không nhìn thấy gì cả! Một khi bạn nhìn thấy chính bạn, tâm sẽ an ổn. Tiếng động chỉ là tiếng động. Bạn dính mắc vào nó làm gì? Thật ra, bạn mới là người quấy rối tiếng động.

Đây mới là chánh kiến. Bạn nhìn thấy cả hai mặt, cho nên bạn bình an. Nếu chỉ nhìn thấy một mặt, bạn sẽ đau khổ. Khi bạn nhìn thấy cả hai mặt, đó là khi bạn đi theo Trung Đạo. Đây là sự tu hành đúng cách. Đây gọi là “điều chỉnh sự hiểu biết của chúng ta”.

Cùng thế ấy, bản chất của pháp hữu vi là vô thường và sinh diệt, nhưng chúng ta muốn nắm giữ chúng. Chúng ta muốn chúng là thật. Chúng ta muốn tìm thấy sự thật bên trong những thứ không thật. Bất cứ ai, khi nhìn thấy điều này và bám vào các pháp hữu vi, xem chúng như chính họ, kẻ đó sẽ đau khổ.

Sự tu hành không nằm nơi một tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, hay một người tại gia nào khác. Nó chỉ là sự điều chỉnh cái biết của bạn. Nếu sự hiểu biết của bạn đúng, bạn sẽ bình an, sự bình an đó cũng giống nhau với mỗi chúng ta, con đường cũng giống nhau, phương pháp cũng giống nhau.

Do đó, Đức Phật không phân biệt giữa người tại gia và người xuất gia. Ngài dạy tất cả mọi người tu hành để hiểu biết sự thật về các pháp hữu vi. Khi chúng ta biết sự thật này, chúng ta buông bỏ các pháp hữu vi. Nếu chúng ta biết sự thật, sẽ không còn sự trở thành và sinh ra. Sự sinh không có cách nào xảy ra, bởi vì chúng ta đã biết rõ bản chất của các pháp hữu vi. Nếu chúng ta hiểu biết chân lý một cách rốt ráo, sự bình an phát sinh. Có hay không nó cũng giống như nhau. Được và mất cũng đồng như nhau. Đức Phật muốn chúng ta hiểu điều này. Đây là sự bình an – bình an là vượt lên cả sự hạnh phúc lẫn đau khổ.

Chúng ta phải thấy là không có lý do để sinh ra – không có lý do nào cả. Sinh và diệt phát sinh từ sự dính mắc vào và bám giữ các pháp hữu vi. Khi chúng ta có được điều chúng ta thích, chúng ta vui sướng. Nếu không có sự dính mắc vào cảm giác vui sướng đó, thì không có “sự sinh ra”. Cho nên, nếu chúng ta có được một điều gì đó, chúng ta không sinh vào sự vui sướng. Nếu chúng ta mất nó, chúng ta không sinh vào sự đau khổ. Đây là sự không sinh và không diệt.

Đây là sự tu hành đúng. Nếu bạn không đạt được những điều này, nếu bạn không đạt được Trung Đạo, bạn sẽ không thể vượt lên trên khổ đau.

-------------------------------------------------

(1) Pháp hữu vi là những sự vật do nhân duyên mà sanh ra, được tạo tác nên, và bị thay đổi.

(2) Mười Hai Nhân Duyên là chuỗi nhân duyên sinh khởi bắt đầu từ Vô Minh (xem Thập Nhị Nhân Duyên)


1 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 25

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 25

SỐNG VỚI RẮN HỔ MANG.

Bạn để cái tốt ở đó, và bạn cũng để cái không tốt ở đó.

Hãy để cái thích và cái không thích của bạn ở đó.

Hãy đối xử với chúng như bạn đối xử với một con rắn hổ mang.

Đừng can thiệp vào.

Giáo lý mà chúng ta nghiên cứu tại Wat Pah pong là cách tu hành để thoát khổ. Để tu hành như thế, bạn phải xem những động thái khác nhau của tâm, tất cả những thứ bạn thích và không thích, giống như một con rắn hổ mang. Hổ mang là loài rắn cực độc, có thể giết chết bạn ngay tại chỗ nếu nó cắn trúng bạn. Những cảm thọ của chúng ta cũng vậy. Những cảm thọ chúng ta thích thì độc hại, nhưng cảm thọ chúng ta không thích cũng độc hại. Cả hai thứ đều không cho tâm bình an, và cả hai đều ngăn cản chúng ta hiểu biết đúng chân lý như điều Phật dạy.

Do đó chúng ta phải cố duy trì sự chánh niệm suốt ngày đêm. Bất kể bạn đang làm gì, bạn phải làm với chánh niệm. Khi bạn có thể thiết lập sự chánh niệm này, bạn sẽ thấy một sự hiểu biết rõ ràng phát sinh cùng một lúc, và hai điều kiện này sẽ mang đến trí huệ. Cho nên, chánh niệm, sự hiểu biết rõ ràng, và trí huệ sẽ làm việc với nhau, và bạn sẽ giống như một người thức tỉnh cả ngày lẫn đêm.

Sự giảng dạy của Đức Phật không phải là loại giáo lý chỉ để cho chúng ta lắng nghe và tiếp nhận bằng đầu óc. Chúng là sự giảng dạy mà xuyên qua sự thực hành có thể phát sinh và nhận biết trong tâm của chúng ta. Bất cứ chúng ta đi đến đâu, bất cứ chúng ta làm gì, chúng ta nên luôn có sự giảng dạy này trong tâm. Và ý tôi nói “có sự giảng dạy” hay “có chân lý” là, bất kể chúng ta làm gì hay nói gì, chúng ta làm và nói với trí huệ. Khi chúng ta suy nghĩ và quán chiếu, chúng ta làm với trí huệ. Người có chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng, phối hợp với trí huệ, là người gần Phật.

Khi bạn rời khỏi nơi đây, bạn nên tập mang mọi thứ vào trong tâm mình. Xem xét tâm mình với sự chánh niệm và hiểu biết rõ ràng, và phát triển trí huệ này. Với ba điều kiện này hiện diện, sự xả bỏ sẽ phát sinh. Bạn sẽ biết sự sinh và diệt không ngừng của mọi hiện tượng.

Bạn nên biết rằng cái sinh và cái diệt chỉ là động thái của tâm. Khi một thứ gì đó phát sinh, nó hủy diệt và được nối tiếp bằng những sự phát sinh và hủy diệt khác. Trong ngôn ngữ của Đạo, chúng ta gọi đây là sự sinh và diệt. Và chỉ có bấy nhiêu thôi. Khi khổ đau phát sinh, nó hủy diệt, và khi nó hủy diệt, khổ đau sẽ phát sinh trở lại. Chỉ có sự khổ sinh và diệt. Khi bạn nhìn thấy bấy nhiêu, bạn sẽ nhận biết sự sinh diệt này một cách liên tục. Và khi cái biết của bạn đã liên tục, bạn sẽ thấy mọi thứ chỉ là vậy mà thôi. Tất cả chỉ là sự sinh và diệt.

Sự chứng ngộ này sẽ dẫn tới một cảm giác thản nhiên đối với thế gian. Cảm giác đó phát sinh khi chúng ta thấy rằng không có gì đáng để ham muốn, chỉ có sự sinh và diệt mà thôi. Đây là lúc tâm đạt đến sự xả bỏ - xả bỏ tất cả đúng với bản chất của nó. Chúng ta biết rõ những gì sinh và diệt trong tâm. Và “sự biết hạnh phúc” này có nghĩ là chúng ta không đồng hóa mình với nó hay xem nó là của chúng ta. Khi chúng ta không còn đồng hóa mình và bám vào sự hạnh phúc và đau khổ, chúng ta cho phép sự việc diễn tiến một cách tự nhiên.

Cho nên, chúng ta nói rằng những hoạt động tâm thức giống như một con rắn hổ mang độc hại. Nếu chúng ta không xen vào, con rắn hổ mang chỉ việc đường nó nó đi. Dầu nó rất độc hại, chúng ta không bị gì cả, chúng ta không tới gần nắm giữ lấy nó, nên nó không cắn chúng ta. Con rắn làm những gì nó thường làm. Đó là bản chất của nó. Nếu bạn khôn ngoan, bạn sẽ để nó một mình, bạn không dính dấp tới nó, có nghĩa là bạn để cái tốt ở đó, và bạn để cái không tốt ở đó. Hãy để cái thích và không thích của bạn ở đó. Hãy đối xử với chúng như bạn đối xử với con rắn hổ mang. Đừng xen vào. Chúng ta không muốn điều ác, nhưng chúng ta cũng không muốn điều thiện. Chúng ta không muốn cảm giác nặng nề hay nhẹ nhõm, hạnh phúc hay khổ đau. Bằng cách này, khi sự ham muốn của chúng ta chấm dứt, sự bình an sẽ được thiết lập vững vàng.

Khi chúng ta có được thứ bình an này trong tâm, chúng ta có thể tin cậy vào nó. Sự bình an này phát sinh từ sự rối rắm. Sự rối rắm đã kết thúc. Đức Phật gọi sự đạt đến trạng thái giác ngộ rốt ráo là sự “dập tắt”, giống như cách lửa được dập tắt vậy. Chúng ta dập tắt lửa nơi nó xuất hiện. Nơi nào nóng, nơi đó chúng ta có thể làm cho nó mát. Với sự giác ngộ cũng vậy. Niết bàn được tìm thấy trong sự sinh tử luân hồi. Sự giác ngộ và vô minh tồn tại cùng một chỗ, giống như cái nóng và cái lạnh. Nó nóng nơi nó đã lạnh và nó lạnh nơi nó đã nóng. Khi sự nóng bức phát sinh, sự mát mẻ tan biến, và khi có sự mét mẻ, thì không còn có sự nóng. Trong cách này, niết bàn và luân hồi giống như nhau.

Chúng ta được bảo là phải chấm dứt luân hồi sinh tử, có nghĩa là chấm dứt cái vòng rối rắm bất tận. Sự chấm dứt rối rắm này là sự dập tắt ngọn lửa. Khi ngọn lửa bên ngoài được dập tắt, chúng ta có sự mát mẻ. Khi ngọn lửa bên trong tham, sân, si bị dập tắt, thì đây cũng là sự mát mẻ.

Đây là bản chất của sự giác ngộ, nó là sự dập tắt lửa, sự làm mát cái nóng bức. Đây là sự bình an. Đây là sự chấm dứt vòng sinh tử luân hồi. Khi bạn giác ngộ, nó là như thế đó. Nó là sự kết thúc của cái luôn thay đổi và luôn xoay chuyển, là sự kết thúc của tham, sân, si trong tâm chúng ta. Chúng ta dùng từ hạnh phúc để diễn tả trạng thái này, bởi vì đây là sự hiểu biết của người thế gian về cái lý tưởng rốt ráo, nhưng trên thực tế, nó vượt lên cả sự hạnh phúc và khổ đau. Nó là một sự bình an tuyệt đối.


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***