5 thg 7, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - PHẦN 3 - CHƯƠNG 29

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

PHẦN 3

TRÍ HUỆ

CHƯƠNG 29

KHÔNG CÓ ĐIỂM TỰA.

Nơi nào không có điểm tựa, không có thứ gì để nắm giữ,

nơi đó có sự rỗng không, và Niết Bàn là sự rỗng không này.

Có những phần trong giáo lý Phật, chúng ta nghe nhưng không hiểu. Chúng ta nghĩ rằng chúng nói về một thứ gì khác, nên chúng ta không thực hành. Nhưng thật ra, mọi sự giảng dạy đều có mục đích. Lúc ban đầu, tôi không tin vào việc ngồi thiền. Tôi không thấy làm thế có lợi ích gì. Và còn việc đi kinh hành nữa… Đi từ cây này đến cây kia, rồi quay lại, và đi nữa? Để làm gì? Có lợi ích gì chứ? Tôi nghĩ như thế, nhưng thật sự thì ngồi thiền và đi kinh hành rất có lợi.

Có người thì thích đi kinh hành hơn; có người thích ngồi thiền hơn. Nhưng bạn không thể tu hành mà không có một trong hai thứ này. Trong kinh, người ta nhắc đến bốn tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Chúng ta sống với bốn tư thế này. Chúng ta có thể thích tư thế này hơn tư thế kia, nhưng chúng ta phải sử dụng cả bốn tư thế. Người ta nói rằng chúng ta phải làm cho bốn tư thế này thăng bằng. Sự thăng bằng này là nói về cái tâm, về sự tỉnh giác của chúng ta. Nó liên quan đến sự phát sinh trí huệ, sự rọi sáng tâm. Trí huệ này của chúng ta phải hiện diện trong cả bốn tư thế. Chúng ta phải biết, hay hiểu, liên tục. Đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta đều phải biết tất cả mọi tâm thái đều là vô thường, khổ, và vô ngã. Làm cho các tư thế thăng bằng theo cách này là điều có thể thực hiện được. Dầu sự thích hay không thích hiện diện trong tâm, chúng ta không quên sự tu hành của mình. Chúng ta tỉnh giác.

Nếu chúng ta tiếp tục nhận biết tâm, chúng ta sẽ nắm được then chốt của sự tu hành. Bất kể những tâm thái mà chúng ta kinh nghiệm là tốt hay xấu theo quan điểm thế gian, chúng ta không quên chính mình, chúng ta không chìm đắm trong điều thiện và điều ác. Chúng ta cứ đi thẳng. Duy trì sự tu hành như vậy trong mọi tư thế là điều có thể làm.

Nếu chúng ta kiên trì trong sự tu hành của mình, thì khi chúng ta được khen, nó chỉ là lời khen; khi chúng ta bị chỉ trích, nó chỉ là sự chỉ trích. Chúng ta không vui hay buồn về điều đó, chúng ta ở ngay đây. Tại sao? Bởi vì chúng ta nhìn thấy sự hiểm họa trong cả lời khen lẫn sự chỉ trích. Thường thì chúng ta vui, tâm cũng vui. Khi chúng ta buồn, tâm cũng buồn, và chúng ta không thích điều đó. Đây là thói thường, nhưng nó là sự tu hành không thăng bằng.

Nếu chúng ta kiên định đủ để biết những tâm thái của mình và biết rằng chúng ta đang bám giữ chúng, như thế cũng đã khá rồi, mặc dầu chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Có nghĩa là, chúng ta có sự tỉnh giác, chúng ta biết điều gì đang xảy ra. Chúng ta nhìn thấy mình đang dính mắc vào sự tốt xấu, và chúng ta biết điều đó. Chúng ta dính mắc vào điều tốt, hay điều xấu, và biết rằng nó không phải là sự tu hành đúng đắn, nhưng chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Được như vậy là đạt được 50% hay 70% của sự tu hành rồi. Vẫn chưa có sự xả bỏ. Nhưng chúng ta biết rằng nếu chúng ta có thể xả bỏ, chúng ta sẽ đạt đến sự bình an. Cứ tiếp tục và liên tục nhìn thấy cái hậu quả nguy hại của tất cả những sự thích và không thích của chúng ta, của sự khen và chê. Bất kể trong tình trạng nào, tâm luôn kiên định như thế.

Nhưng đối với người thế gian, thì khi bị chỉ trích, họ tức giận; khi được khen, họ phấn khởi. Nếu chúng ta biết được sự thật về những trạng thái tâm khác nhau của mình – nếu chúng ta biết hậu quả của sự dính mắc vào lời khen chê, và hiểm họa của sự dính mắc vào mọi thứ - chúng ta sẽ trở nên nhạy cảm với cảm xúc của mình. Chúng ta biết rằng dính mắc vào chúng chỉ mang đến khổ. Chúng ta nhìn thấy sự khổ, và chúng ta nhìn thấy sự dính mắc của mình là nguyên nhân của sự khổ đó. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy hậu quả của sự dính mắc vào điều tốt và điều xấu. Chúng ta dính mắc vào chúng, và nhìn thấy hậu quả của hành động đó, cho nên chúng ta tìm cách buông bỏ.

“Cách buông bỏ” này là gì? Đó là, đừng dính mắc vào bất cứ thứ gì. Điều này không có nghĩa là chúng ta không đụng vào những thứ gì, chỉ là chúng ta không dính tới nó. Giống như cái đèn pin này. “Cái gì đây?” chúng ta không biết, nên chúng ta cầm nó lên. “Ồ, thì ra nó là một cái đèn pin”. Rồi chúng ta đặt nó xuống trở lại. Đấy là cách chúng ta nắm giữ sự việc.

Nếu không nắm giữ thứ gì cả, chúng ta có thể làm được việc gì? Chúng ta không thể thực hiện việc đi kinh hành hay bất cứ sinh hoạt nào khác. Cho nên chúng ta phải nắm giữ. Đúng vậy, đây là một loại ham muốn, nhưng sau này nó sẽ dẫn đến Lục độ(1). Giống như việc ham muốn đi đến đây, chẳng hạn. Đại Đức Jagaro đến Wat Pah Pong. Trước hết ông phải muốn đến đây. Nếu ông không cảm thấy muốn đến đây, ông đã chẳng đến. Nhưng khi cái muốn phát sinh, đừng dính mắc vào đó! Cho nên bạn đến đây, rồi bạn về nhà… Cái gì đây? Bạn nhặt nó lên, rồi đặt nó xuống lại. Đây gọi là nắm giữ mà không dính mắc; chúng ta buông bỏ. Chỉ xem xét và rồi buông bỏ. “Điều này, người ta nói là tốt; điều này, người ta nói là không tốt”. Hãy nhận biết và rồi buông bỏ. Chúng ta không dính mắc vào sự việc một cách khờ dại, nhưng chúng ta “nắm giữ” chúng với trí huệ. Bạn phải kiên định như thế. Hãy làm cho tâm biết như thế đó, hãy để trí huệ phát sinh. Khi tâm có trí huệ, thì đâu còn gì khác ở đó để tìm kiếm?

Chúng ta nên suy ngẫm về những điều chúng ta đã làm ở đây. Tại sao chúng ta sống ở đây? Chúng ta làm việc để làm gì? Trong thế gian, con người làm việc để có thứ này hay thứ kia, nhưng chư tăng biết một điều gì đó sâu sắc hơn. Bất kể chúng ta làm gì, chúng ta không đòi hỏi sự đền đáp. Chúng ta làm việc không phải để được một điều gì. Người thế gian làm việc bởi vì họ muốn thứ này, thứ kia, bởi vì họ muốn đạt được một thứ gì đó, nhưng Đức Phật bảo chúng ta làm chỉ để làm, chúng ta không trông đợi một thứ gì cả.

Nếu bạn làm một điều gì chỉ để được đền đáp, nó sẽ khiến bạn đau khổ. Cứ thử thì biết! Bạn muốn tâm bình an, nên bạn ngồi thiền và cố làm cho nó bình an – bạn sẽ đau khổ! Con đường của chúng ta tinh vi hơn. Chúng ta làm một điều gì đó và rồi buông bỏ nó. Làm, và rồi buông bỏ.

Hãy xem xét sự cúng dường của một phạm thiên: Ông có một ước muốn trong đầu, thế là ông làm một sự cúng dường. Hành động đó của ông sẽ không giúp ông vượt qua sự khổ đau bởi vì ông hành động từ sự ham muốn. Lúc ban đầu, chúng ta tu hành với một ít ham muốn trong đầu. Chúng ta tiếp tục tu hành, dầu không đạt được những gì mình mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục tu hành, cho đến khi chúng ta đạt đến một điểm, nơi đó chúng ta tu hành mà không trông đợi kết quả; chúng ta tu hành để có thể buông bỏ. Đây là điều chúng ta phải tự mình kinh nghiệm lấy; nó rất sâu sắc. Có lẽ chúng ta tu hành bởi vì chúng ta muốn đạt tới Niết Bàn – nếu là thế, chúng ta sẽ không đi tới Niết Bàn! Muốn được bình an là điều tự nhiên, nhưng như thế là không đúng. Chúng ta phải tu hành mà không muốn một thứ gì cả.

Đây gọi là “làm cho tâm rỗng không”. Nó rỗng không, nhưng vẫn làm việc hiệu quả. Sự rỗng không này là một thứ rất ít người hiểu, chỉ có những ai đạt đến đó mới thấy giá trị thật của nó. Nó không phải là sự không-có-một-thứ-gì cả, mà sự rỗng không của các pháp thế gian. Giống như cái đèn pin này là rỗng không. Nó không phải là sự rỗng không mà ở đó chúng ta không thấy được thứ gì. Nó không giống như thế. Hiểu như thế là sai. Bạn phải hiểu sự rỗng không bên trong mọi thứ ở đây. Những ai tu hành vì muốn đạt được một thứ gì đó thì cũng giống như vị phạm thiên ở trên đây. Giống như những người đến gặp tôi để được rắc “nước thánh”. Khi tôi hỏi họ, “Tại sao bạn muốn nước thánh này?” họ nói, “Chúng tôi muốn sống lâu, hạnh phúc và sung túc”. Là thế đó! Họ sẽ không bao giờ vượt lên khổ đau bằng cách đó.

Người thế gian làm việc vì một mục đích, vì muốn được đền đáp, nhưng trong Phật Pháp, chúng ta làm mà không trông đợi một điều gì cả. Người thế gian phải hiểu và hành động theo luật nhân quả, nhưng Đức Phật dạy chúng ta vượt lên trên nhân quả, vượt lên sinh tử, vượt lên hạnh phúc và khổ đau.

Chúng ta sống trong một căn nhà. Để rời khỏi căn nhà và đến một nơi không có nhà – chúng ta không biết phải làm như thế nào, bởi vì chúng ta quen sống trong sự tồn tại, với sự dính mắc. Nếu chúng ta không thể dính mắc, chúng ta không biết phải làm gì.

Cho nên đa số người không muốn đi đến Niết Bàn, bởi vì không có gì ở đó, không có gì cả. Hãy xem xét cái mái nhà và sàn nhà ở đây. Một thái cực là cái mái nhà, đó là một “điểm tựa”. Một thái cực khác là sàn nhà, và đó là một “điểm tựa” khác. Nhưng khoảng không gian ở giữa mái nhà và sàn nhà thì không có chỗ để đứng. Người ta có thể đứng trên mái nhà, hay trên sàn nhà, nhưng không thể đứng trong không gian trống rỗng đó. Nơi nào không có điểm tựa, không có một thứ để nắm giữ, nơi đó có sự rỗng không, và Niết Bàn là sự rỗng không này.

Nghe thấy thế, nhiều người chột dạ, họ không muốn đi tới đó. Họ sợ không còn được thấy con cái và thân quyến của họ. Đây là tại sao, khi chúng tôi chúc phúc cho người thế tục, chúng tôi nói, “Chúc bạn sống lâu, trẻ đẹp, hạnh phúc và khỏe mạnh”. Nghe như thế họ vui lắm, “Thiện tai! Thiện tai!” Họ thích nghe những thứ này. Nhưng nếu bạn giảng về tính không của các pháp thế gian, họ không muốn nghe, họ dính mắc vào điểm tựa của họ.

Bạn có thấy bao giờ một người già với dáng vẻ xinh đẹp và rất khỏe mạnh, rất hạnh phúc không? Không. Thế nhưng khi người ta chúc tụng sống lâu, trẻ đẹp, khỏe mạnh và hạnh phúc, thì người nào cũng khoái cả. Người nào cũng nói, “Thiện tai!” Đây cũng giống như vị phạm thiên muốn cúng dường để đạt được điều ông mong ước.

Ở đây, chúng ta không tu hành để đạt được một điều gì. Chúng ta không muốn một điều gì cả. Nếu chúng ta còn muốn một thứ gì, thì vẫn còn vướng vào một thứ gì ở đó. Chỉ việc làm cho tâm bình an và kết thúc với nó. Nhưng nếu tôi nói kiểu này, bạn có thể không thấy dễ chịu lắm, bởi vì bạn muốn được “tái sanh” lại.

Tất cả những người tu hành tại gia nên đến gần chư tăng và xem cách họ tu hành. Đến gần chư tăng có nghĩa là đến gần Phật, đến gần Pháp. Đức Phật nói, “Ananda, hãy tu hành nhiều, tu hành tiến bộ! Bất cứ ai thấy Pháp, thấy ta, và bất cứ ai nhìn thấy ta, nhìn thấy Pháp”.

Đức Phật ở đâu vậy? Chúng ta có lẽ đã nghĩ rằng Đức Phật đã nhập niết bàn, nhưng Phật là Pháp, là chân lý. Có người thích nói, “Ôi, nếu tôi sinh ra vào thời của Đức Phật, tôi sẽ đi đến Niết Bàn”. Những người ngu nói chuyện kiểu đó. Đức Phật vẫn còn ở đây. Phật là chân lý. Bất kể ai sinh ra hay chết đi, chân lý vẫn ở đây. Chân lý không bao giờ rời khỏi thế gian; nó luôn luôn ở đây. Dầu Đức Phật có sinh ra hay không, chân lý vẫn ở đây.

Cho nên chúng ta nên đến gần Phật, chúng ta nên đi vào trong và tìm thấy Pháp. Khi chúng ta thấy Pháp, chúng ta sẽ thấy Phật, và tất cả mọi nghi ngờ sẽ tan biến.

Lấy ví dụ về Thầy Giáo Choo. Lúc đầu, ông không phải là một thầy giáo, mà chỉ là ông Choo. Khi ông học và đậu bằng giáo học, ông trở thành Thầy Giáo Choo. Ông trở thành thầy giáo bằng cách nào vậy? Qua sự học hỏi những môn học cần thiết . Khi Thầy giáo Choo chết, sự học hỏi để trở thành thầy giáo vẫn còn ở đó, và bất cứ ai học theo giáo trình đó, sẽ trở thành một thầy giáo. Giáo trình ấy không biến đi đâu cả, không biến mất theo người thầy, cũng giống như chân lý hay sự hiểu biết đã khiến Đức Phật trở thành Phật. Cho nên Phật vẫn ở đây. Bất cứ ai tu hành và thấy Pháp, sẽ thấy Phật.

------------------------------------------------------

(1) Lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***