Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 3
TRÍ HUỆ
CHƯƠNG 27
SỰ BÌNH AN XUẤT THẾ GIAN.
Chúng ta biết cả hai
trạng thái hạnh phúc và đau khổ,
nhưng chúng ta không
đồng hóa mình với chúng.
Chúng ta chỉ ở lại
với sự bình an:
sự bình an vượt lên cả hạnh phúc lẫn đau khổ.
Tu hành là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta không tu hành, tất cả những
kiến thức của chúng ta chỉ là trên bề mặt, chỉ là lớp vỏ bên ngoài. Giống như
chúng ta đang có trong tay thứ trái cây thơm ngon, nhưng chúng ta chưa ăn, cho
nên chúng ta vẫn chưa được lợi ích. Chỉ khi chúng ta ăn nó, chúng ta mới thật
sự biết mùi vị của nó.
Đức Phật không khen ngợi những người chỉ tin vào người khác,
Ngài khen ngợi những ai nhận biết chính họ. Cũng như với trái cây đó, một khi chúng ta
đã nếm nó, chúng ta không cần phải hỏi ai khác là nó chua hay ngọt. Vấn đề của
chúng ta kết thúc, bởi vì chúng ta nhìn thấy đúng với chân lý. Một người giác
ngộ cũng giống như một người đã nhận biết mùi vị của trái cây. Mọi nghi ngờ
chấm dứt ngay tại đây.
Khi chúng ta nói chuyện
Phật Pháp, tất cả đều xoay quanh bốn đề mục: biết sự khổ, biết nguyên nhân của sự khổ, biết sự chấm dứt khổ, và biết
con đường dẫn đến sự diệt khổ. Chỉ bấy nhiêu thôi. Tất cả những gì chúng ta
kinh nghiệm trên đường tu hành đều xoay quanh bốn thứ này. Khi chúng ta biết
những thứ này, vấn đề của chúng ta kết thúc.
Bốn thứ này xuất phát
từ đâu? Chúng phát sinh ngay bên trong thân và tâm của chúng ta, không nơi nào
khác cả. Vậy thì tại sao giáo lý của Phật lại bao la và chi tiết đến thế? Nó
phải là vậy để giải thích những sự việc này một cách tinh tế hơn, để chúng ta
có thể nhìn thấy chúng.
Khi Đức Gotama
Siddhatta mới sinh ra, trước khi Ngài đắc Đạo, Ngài là một người bình thường
như tất cả chúng ta. Khi Ngài biết điều Ngài cần biết – đó là, chân lý của sự
khổ, nguyên nhân, sự kết thúc và con đường dẫn đến sự dứt khổ - Ngài đắc Đạo và
trở thành một vị Phật toàn giác.
Khi chúng ta đắc Đạo,
ngồi đâu chúng ta cũng biết Đạo, ở đâu chúng ta cũng nghe lời giảng dạy của
Phật. Khi chúng ta hiểu Đạo, Đức Phật ở trong tâm chúng ta, Pháp ở trong tâm
chúng ta, và sự tu hành dẫn đến trí huệ cũng ở trong tâm chúng ta. Có Phật,
Pháp, Tăng trong tâm có nghĩa là bất cứ hành động nào là tốt hay xấu, chúng ta
đều biết rõ bản chất của chúng. Đó là lý do Đức Phật có thể vứt bỏ ngoài tai
mọi ý kiến, mọi lời khen chê của thế gian. Khi người ta tán tụng hay chỉ trích
Ngài, Ngài chấp nhận nó như vậy. Khen hay chê chỉ là điều kiện của thế gian,
cho nên Ngài không bận tâm. Tại sao không? Bởi vì Ngài biết sự khổ, Ngài biết
rằng nếu đặt niềm tin vào sự khen chê đó, chúng sẽ khiến cho Ngài khổ sở.
Khi đau khổ phát sinh,
nó kích động chúng ta và chúng ta cảm thấy khó chịu. Điều gì gây ra sự đau khổ
đó? Đó là vì chúng ta không biết chân lý. Khi nguyên nhân hiện diện thì đau khổ
phát sinh. Một khi nó phát sinh, chúng ta không biết làm sao để dừng nó. Chúng
ta càng cố ngăn chặn nó, nó càng lớn lên thêm. Chúng ta nói, “Đừng chỉ trích
tôi”, hay “Đừng đổ lỗi cho tôi”. Nhưng nếu chúng ta cố dừng nó theo cách này,
sự đau khổ càng tấn tới, nó sẽ không dừng lại.
Cho nên, Đức Phật nói rằng con đường dẫn tới sự chấm
dứt đau khổ là, làm cho Đạo trở thành thực tại trong tâm chúng ta. Chúng ta trở
thành kẻ chứng (kiến) Đạo. Nếu có người nói là chúng ta tốt, chúng ta không
chìm đắm trong đó; nếu họ nói là chúng ta không tốt, chúng ta cũng không quên
mất chính mình. Như thế chúng ta có thể tự tại.
“Tốt” và “xấu” chỉ là
những pháp thế gian, chúng ta chỉ mò mẫm trong bóng tối, không biết đường ra. Nếu
chúng ta làm như thế, thì có nghĩa là chúng ta chưa làm chủ chính mình. Chúng
ta cố đánh bại những người khác, nhưng làm thế là đánh bại chính mình. Nếu
chúng ta làm chủ chính mình, chúng ta làm chủ mọi thứ khác – tất cả trần cảnh,
sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý.
Tôi đang nói về bên
ngoài, nhưng bên ngoài cũng phản ánh bên trong. Có người chỉ biết bên ngoài.
Chẳng hạn, chúng ta nói chúng ta cố “nhìn thấy cái thân trong thân”. Nhìn thấy
thân thể bên ngoài thôi thì không đủ, chúng ta phải biết cái thân trong thân. Rồi,
sau khi khảo sát tâm, chúng ta phải biết cái tâm trong tâm.
Tại sao chúng ta nên
khảo sát thân thể? “Thân trong thân” là nghĩa gì? Khi chúng ta nói đến việc
nhận biết tâm, “tâm” này là gì vậy? Nếu chúng ta không biết tâm, chúng ta không
biết những việc trong tâm. Chúng ta là một người không biết sự khổ, không biết
nguyên nhân, không biết sự chấm dứt, và không biết con đường dẫn đến chấm dứt
sự đau khổ. Những thứ lẽ ra có thể giúp chúng ta dập dắt khổ đau lại không giúp
được gì, bởi vì chúng ta đang bận tâm chạy theo những thứ tăng thêm sự khổ.
Giống như chúng ta bị ngứa trên đầu, nhưng lại gãi dưới chân! Nếu đầu ngứa mà
gãi dưới chân thì đâu có giúp ích gì được. Cùng thế ấy, khi đau khổ phát sinh,
chúng ta không biết cách xử lý nó, chúng ta không biết sự tu hành dẫn đến sự
chấm dứt đau khổ.
Lấy ví dụ thân thể
này, cái mà mỗi chúng ta mang theo đến buổi họp mặt ngày hôm nay. Nếu chúng ta
chỉ nhìn thấy hình dáng bên ngoài của thân thể, chúng ta không thể thoát khổ.
Tại sao vậy? Bởi vì chúng ta chỉ nhìn thấy bên ngoài mà không nhìn thấy bên
trong. Chúng ta nhìn thấy thân thể là một thứ xinh đẹp và chắc chắn. Như thế là
không đủ. Chúng ta nhìn bên ngoài với con mắt của chúng ta. Điều đó một đứa con
nít cũng có thể làm được, thú vật có thể làm được – không khó khăn gì cả. Nhưng
khi nhìn thấy nó chúng ta bám vào đó, chúng ta không biết sự thật về nó. Chúng
ta nắm giữ nó và nó cắn chúng ta!
Cho nên, chúng ta cần
khảo sát cái thân này bên trong thân thể. Bất cứ thứ gì trong thân thể, cứ xem
xét nó. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào bên ngoài, chúng ta không thấy rõ. Chúng ta
chỉ thấy tóc, móng tay, những thứ xinh đẹp đó cám dỗ chúng ta, cho nên Đức Phật
bảo chúng ta nhìn vào bên trong thân thể để thấy cái thân thể bên trong thân
thể. Cái gì ở bên trong thân thể thế? Hãy nhìn kỹ! Chúng ta sẽ ngạc nhiên, bởi
vì mặc dầu chúng ở bên trong chúng ta, chúng ta chưa bao giờ thấy chúng. Đi đâu
chúng ta cũng mang theo chúng với mình, nhưng lại không biết chút gì về chúng.
Giống như khi ai đó
cho chúng ta món quà. Chúng ta nhận lấy, bỏ nó vào túi xách, và rồi đi về mà
không mở ra xem để biết có gì ở bên trong. Sau này, chúng ta mở nó ra và thấy
trong đó chứa đầy rắn độc, cùng những thứ hôi thối! Thân thể chúng ta cũng vậy.
Nếu chúng ta chỉ nhìn thấy cái vỏ đẹp đẽ bên ngoài thôi, chúng ta nói rằng nó
xinh đẹp và tươi tốt. Chúng ta quên mất chính mình. Chúng ta quên mất sự vô
thường, khổ, và vô ngã. Nếu chúng ta nhìn vào thân thể này, sẽ thấy nó thật gớm
ghiếc.
Khi chúng ta xem xét
thân thể một cách khách quan, chúng ta sẽ thấy nó đáng thương và chán ngắt. Tâm
trở nên thản nhiên với mọi việc. Cảm giác lạnh nhạt này không có nghĩa là chúng
ta chán ghét. Đó chỉ là tâm chúng ta rỗng không, xả bỏ. Chúng ta thấy rằng tất
cả các pháp đều không có thực chất, không đáng tin cậy – bản chất của chúng là
thế đó. Bất kể chúng ta muốn chúng là gì, chúng vẫn đi đường chúng. Bất kể
chúng ta cười hay khóc, chúng chỉ là vậy mà thôi. Những thứ bất ổn sẽ bất ổn,
những thứ không đẹp sẽ không đẹp.
Cho nên Đức Phật nói
rằng khi chúng ta kinh nghiệm sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý, chúng ta nên buông
bỏ chúng. Khi tai nghe tiếng, buông bỏ chúng nó. Khi mũi ngửi mùi, buông bỏ nó.
Cứ để nó ở đó! Khi có sự xúc chạm của thân thể, buông bỏ cảm giác thích hay
không thích theo sau đó, cứ để nó quay về nơi nó phát sinh. Với các tâm thái
cũng vậy. Tất cả những thứ này – cứ để chúng đi qua. Đây là nhận biết. Bất kể là hạnh phúc hay khổ
đau, nó đều như nhau. Đây là thiền.
Chúng ta thiền để làm cho tâm bình an, để rồi trí huệ có thể
phát sinh. Điều này đòi hỏi chúng ta tu hành với thân và tâm để có thể nhìn
thấy và biết những cảm giác phát sinh từ sắc, thanh, hương, vị, xúc, ý. Nói tóm lại, nó chỉ
là vấn đề của hạnh phúc và khổ đau. Hạnh phúc là một cảm giác thoải mái trong
tâm. Đau khổ là một cảm giác khó chịu trong tâm. Đức Phật dạy chúng ta tách rời
khỏi những cảm xúc này. Tâm là cái biết. Cảm xúc là những tính chất hạnh phúc
và đau khổ, thích và không thích. Khi tâm mê đắm trong những thứ này, chúng ta
nói rằng nó dính mắc, hay nó xem sự hạnh phúc và đau khổ này là đáng để nắm
bắt. Sự nắm bắt là động thái của tâm, và sự hạnh phúc và đau khổ là một cảm
xúc.
Khi Đức Phật dạy chúng
ta tách rời khỏi cảm xúc, Ngài không có ý bảo chúng ta ném chúng đi nơi khác. Ý
Ngài là, tâm phải biết hạnh phúc và đau khổ. Khi bạn nhập định, chẳng hạn, và
tâm vô cùng bình an, rồi hạnh phúc phát sinh, nhưng nó không ảnh hưởng chúng
ta; đau khổ phát sinh, nhưng cũng không ảnh hưởng chúng ta. Đây là ý nghĩa của
việc tách rời tâm khỏi cảm xúc. Chúng ta có thể so sánh điều này với dầu và
nước trong một cái ly, dầu và nước không trộn lẫn. Bạn cố ý trộn lẫn chúng,
nhưng dầu vẫn là dầu, nước vẫn là nước, bởi vì chúng có tỉ trọng khác nhau.
Tâm, trong trạng thái
tự nhiên, thì không vui không buồn. Khi cảm xúc đi vào tâm, hạnh phúc và đau
khổ nảy sinh. Nếu chúng ta có chánh niệm, chúng ta biết cảm giác thoải mái cũng
chỉ là cảm giác thảo mái. Cái tâm giác ngộ sẽ không nhặt nó lên. Hạnh phúc ở
đó, nhưng nó ở “bên ngoài” tâm, không bị chôn chặt ở trong tâm. Tâm biết rõ cảm
xúc đó.
Nếu chúng ta tách rời
tâm khỏi sự khổ, có phải là chúng ta không khổ đau, chúng ta không kinh nghiệm
đau khổ nữa? Không phải. Chúng ta kinh nghiệm nó, nhưng chúng ta biết rằng tâm
chỉ là tâm, cảm xúc chỉ là cảm xúc. Chúng ta không dính mắc vào cảm xúc hay
mang nó theo bên mình. Đức Phật tách rời những thứ này xuyên qua sự hiểu biết,
Ngài không dính mắc vào đó, cho nên chúng ta nói Ngài đã dứt trừ khổ đau. Và
Ngài cũng biết rằng, hạnh phúc cũng như thuốc độc. Ngài không cho nó là mình. Hạnh
phúc thật sự xuyên qua sự hiểu biết, nhưng Ngài không dính mắc vào đó. Ngài
tách rời khỏi sự hạnh phúc và khổ đau.
Khi chúng ta nói rằng
Đức Phật và những Bậc Giác Ngộ đã diệt trừ tất cả phiền não, điều đó không có
nghĩa là họ diệt trừ chúng. Họ không thực sự diệt trừ phiền não, nhưng bởi vì
họ biết bản chất của chúng, họ xả bỏ chúng. Kẻ ngu thì nắm bắt chúng, nhưng Bậc
Giác Ngộ nhận ra rằng những phiền não trong tâm là độc dược, nên họ quét chúng
ra ngoài, họ quét tất cả những thứ làm cho họ đau khổ. Kẻ nào không biết điều
này sẽ xem hạnh phúc là tốt và nắm giữ chúng, nhưng Đức Phật nhìn thấy bản chất
của chúng và Ngài giũ bỏ chúng.
Cả hạnh phúc lẫn đau
khổ đều không ổn định và thỏa mãn. Chúng sinh rồi diệt. Khi Đức Phật thấy điều
này, Chánh Kiến phát sinh, con đường tu hành trở nên rõ ràng. Bất kể là cảm xúc
hay tư tưởng nào phát sinh trong tâm, Ngài đều biết rằng đó là vở tuồng bất tận
của hạnh phúc và khổ đau. Ngài không dính mắc vào chúng.
Khi vừa đắc Đạo, Đức
Phật thuyết một bài về sự mê đắm trong dục lạc và mê đắm trong đau khổ. “Hởi chư tăng! Mê đắm trong dục lạc là con
đường buông thả, mê đắm trong đau khổ là con đường gò bó”. Đây là những thứ
đã quấy nhiễu sự tu hành của Ngài cho đến khi Ngài giác ngộ, bởi vì lúc đầu
Ngài chưa buông bỏ chúng. Khi Ngài biết chúng và buông bỏ chúng, nhờ thế Ngài
đã có thể tuyên giảng bài pháp đầu tiên.
Bạn không nên đi con
đường của hạnh phúc hay khổ đau. Hãy biết rõ chúng. Biết chân lý của sự khổ,
chúng ta sẽ biết nguyên nhân của sự khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường dẫn đến
sự chấm dứt khổ. Và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ là thiền định. Nói tóm
lại, chúng ta phải có chánh niệm.
Chánh niệm là nhận
biết, tức là có sự hiện diện của tâm. Tôi đang nghĩ gì lúc này? Tôi đang làm
gì? Tôi đang mang những gì với mình? Chúng ta quan sát như vậy, chúng ta biết
mình đang sống như thế nào. Tu hành như thế, trí huệ sẽ phát sinh. Chúng ta
luôn xem xét và khảo sát, trong mọi tư thế. Khi một cảm thọ mà chúng ta ưa
thích phát sinh trong tâm, chúng ta chỉ nhận biết nó là thế, nhưng chúng ta
không nắm giữ nó như thể một thứ gì chắc chắn. Khi khổ đau phát sinh, chúng ta
cũng biết nó, và chúng ta biết rằng chìm đắm trong đau khổ không phải là con
đường của một thiền giả.
Đây là sự tách rời tâm
khỏi cảm xúc. Nếu chúng ta khôn ngoan, chúng ta không dính mắc, chúng ta để sự
việc ở đó. Chúng ta trở thành “người biết”. Tâm và cảm xúc thì như dầu và nước.
Chúng ở cùng một cái ly, nhưng không hòa lẫn. Nếu đau đớn hay bệnh hoạn, chúng
ta vẫn biết rằng cảm xúc chỉ là cảm xúc, tâm là tâm. Chúng ta biết những trạng thái vui sướng và đau khổ, nhưng chúng ta
không đồng hóa mình với chúng. Chúng ta chỉ ở lại với sự bình an: Sự bình an
vượt lên cả sự hạnh phúc và đau khổ.
Bạn phải sống như thế
đó, nghĩ là , không vui, không buồn. Bạn chỉ ở lại với cái biết. Bạn không mang
sự việc đi theo mình.
Chừng nào chúng ta còn
chưa khai ngộ, tất cả những thứ này có thể hơi khó nuốt, nhưng điều đó không
quan trọng. Cứ hướng tới mục tiêu này. Tâm là tâm. Nó tiếp cận sự hạnh phúc và
khổ đau, nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy tâm và cảm xúc là như vậy, không có gì
hơn. Chúng tách biệt, không trộn lẫn. Nếu chúng trộn lẫn với nhau, chúng ta
không thể biết chúng. Cũng giống như trong một căn nhà, người ở trong đó và căn
nhà liên quan với nhau nhưng tách biệt.
Nếu căn nhà có gì nguy hiểm, chúng ta sẽ lo lắng và cảm thấy muốn bảo vệ
cho nó. Nhưng nếu căn nhà phát cháy, chúng ta chạy ra ngoài. Cùng thế ấy, khi
một cảm giác đau khổ phát sinh, chúng ta ra khỏi đó. Khi chúng ta biết căn nhà
phừng phực lửa, chúng ta chạy ra ngoài. Căn nhà là một thứ, người ở trong đó là
một thứ khác. Họ là hai thứ tách biệt.
Chúng ta tách rời tâm
và cảm xúc như thế đó, nhưng thật ra chúng vốn đã tách rời. Chúng ta chỉ cần
nhận biết bản chất tách biệt này đúng với thực tại. Nếu chúng ta không nhìn
thấy là chúng tách biệt, đó là bởi vì chúng ta còn dính mắc vào chúng.
Cho nên, Đức Phật bảo
chúng ta thiền. Thiền rất quan trọng. Chỉ biết với đầu óc thôi thì không đủ.
Kiến thức phát sinh từ sự thực hành với cái tâm bình an và kiến thức đến từ lý
thuyết khác nhau rất xa. Kiến thức về tâm đến từ sự học hỏi không phải là kiến
thức thật.
Nếu chúng ta thật sự
hiểu, thì sự xả bỏ tự động xảy ra. Chúng ta biết bản chất của sự việc và không
đánh mất chính mình. Nếu chúng ta bệnh, chúng ta không chìm đắm trong đó. Có
người nói, “Suốt năm nay, tôi bệnh hoài, nên không thể thiền”. Đây là những lời
nói thốt ra từ miệng một kẻ ngu. Một người bị bệnh hay gần chết càng phải tinh
tấn trong sự tu hành của mình. Bạn nói là bạn không có thời giờ để thiền. Bạn
bệnh, bạn khổ, và rồi bạn cảm thấy mình không thể thiền. Nếu bạn nghĩ như thế,
trở ngại sẽ càng lớn hơn. Đức Phật không dạy như thế. Ngài nói rằng chính đây
là nơi để tu hành. Khi chúng ta bệnh hay sắp chết, đó là lúc chúng ta thực sự
hiểu biết thực tại.
Có người nói rằng họ
không thể thiền vì họ quá bận rộn. Đôi lúc vài giáo viên đến gặp tôi. Họ nói là
họ có quá nhiều trách nhiệm, nên không có thời gian để thiền. Tôi hỏi họ, “Khi
bạn dạy học, bạn có thời gian để thở không?” Họ trả lời là có. “Vậy làm sao bạn
có thời giờ để thở nếu bạn quá bề bộn và rối rắm?”
Thật ra sự tu hành này
là về tâm và những cảm xúc của nó. Nó không phải là một thứ mà bạn phải chạy
đua hay đấu tranh để đạt được. Sự hít thở tiếp diễn khi bạn đang làm việc.
Thiên nhiên chăm sóc những tiến trình tự nhiên – tất cả những gì chúng ta cần
làm là cố gắn tỉnh thức. Cứ cố gắn mãi, đi vào trong tâm để nhìn thấy rõ ràng.
Thiền là như thế đó.
Nếu chúng ta có sự
hiện diện của tâm, thì bất kể công việc chúng ta đang làm là gì, nó sẽ là thứ
công cụ có thể giúp chúng ta nhận biết liên tục cái đúng và sai. Chúng ta có
rất nhiều thời gian để thiền. Chúng ta chỉ không biết tu hành là gì mà thôi.
Khi ngủ chúng ta thở, khi ăn chúng ta thở. Ở đâu chúng ta cũng thở. Cho nên ở
đâu, chúng ta cũng có thời gian để thiền.
Sự tỉnh giác là một
yếu tố tinh thần, không phải là yếu tố vât chất. Cho nên chúng ta chỉ cần có sự
hiện diện của tâm, và rồi chúng ta sẽ luôn biết đâu là sai, đâu là đúng. Dầu là
đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta vẫn đều có rất nhiều thời gian. Chúng ta chỉ là
không biết cách sử dụng nó. Hãy cố gắn suy ngẫm về điều này.
Khi chúng ta biết,
chúng ta sẽ là một người khéo điều phục tâm. Khi chúng ta khéo đối phó với các
cảm xúc, chúng ta khéo léo đối với thế gian. Chúng ta trở thành “người biết thế
gian” – đây là một trong chín phẩm chất của Phật. Đức Phật là một người biết rõ
thế gian với những chướng ngại của nó. Ngài biết rằng những cái phiền toái và
những cái không phiền toái đều ở ngay nơi đây. Thế giới này quá rối rắm – làm
sao Đức Phật có thể biết nó? Chúng ta nên hiểu rằng giáo pháp mà Đức Phật dạy
không vượt quá khả năng của chúng ta. Trong tất cả tư thế, chúng ta nên có sự
hiện diện của tâm và sự nhận biết chính mình – và khi đến lúc để ngồi thiền,
chúng ta ngồi thiền.
Chúng ta ngồi thiền để
thiết lập sự bình an, chứ không phải để vui chơi. Thiền minh sát tự nó là thiền
chỉ. Nhưng có người nói, “Bây giờ chúng ta chỉ thiền, rồi sau đó chúng ta sẽ
thiền minh sát”. Đừng tách rời chúng như thế! Sự tĩnh lặng là cơ sở để phát
triển trí huệ. Trí huệ là kết quả của sự tĩnh lặng. Nói rằng chúng ta thiền
chỉ, rồi sau sẽ thiền minh sát – bạn không thể làm như thế! Bạn chỉ có thể tách
rời chúng trong sách vở. Cũng như với con dao, có lưỡi dao và có lưng dao; bạn
không thể tách rời chúng. Sự tĩnh lặng dẫn đến sự phát sinh trí huệ cũng như
thế đó.
Đức hạnh là cha mẹ của Pháp. Lúc đầu, chúng ta phải có đức hạnh.
Đức hạnh là sự bình an. Điều này có nghĩa là lời nói và hành động phải trong
sạch. Khi chúng ta không làm sai, chúng ta không bị kích động. Khi chúng ta
không bị kích động, sự bình an và điềm tĩnh phát sinh.
Cho nên chúng ta nói
rằng giới, định, huệ là Đạo mà các vị Thánh Nhân đã đi để đạt đến sự giác ngộ.
Sự thật thì ba thứ này là một: giới luật là thiền định, và thiền định là giới
luật; thiền định là trí huệ, và trí huệ là thiền định. Cũng giống như một trái
xoài. Khi nó là hoa, chúng ta gọi nó là hoa. Khi nó trở thành trái, ta gọi nó
là trái xoài. Khi nó chín, ta gọi nó là một trái xoài chín. Nó luôn là một trái
xoài, nhưng nó liên tục thay đổi. Chúng ta có thể gọi nó bằng những cái tên khác
nhau hay cùng một tên. Trái xoài từ lúc là một nụ hoa, trưởng thành rồi chín.
Bất kể người ta gọi nó là gì không thành vấn đề. Một khi nó sinh ra, nó lớn
lên, già đi, và rồi đi đâu? Chúng ta nên quán chiếu điều này.
Có người không muốn
già. Khi họ già, họ buồn khổ. Những người này không nên ăn xoài chín! Tại sao
chúng ta muốn xoài chín? Nếu chúng không chín kịp thời, chúng ta ép chúng chín
một cách giả tạo, không phải sao? Nhưng khi chúng ta già, chúng ta tiếc nuối.
Có người khác, họ sợ già và sợ chết. Nếu họ cảm thấy như thế, họ không nên ăn
xoài chín. Chỉ việc ăn hoa xoài thôi! Nếu chúng ta nhìn thấy điều này, chúng ta
có thể ngộ Đạo. Mọi thứ sáng tỏ, và chúng ta bình an. Hãy tu hành như thế.
Bạn nên suy ngẫm về
những điều tôi vừa nói. Nếu có gì không đúng, hãy thứ lỗi cho tôi. Bạn sẽ biết
nó là đúng hay sai nếu bạn tu hành và tự mình nhìn thấy. Bất cứ thứ gì sai, vất
nó đi. Nếu nó đúng, hãy sử dụng nó. Nhưng thật ra, chúng ta tu hành là để có
thể buông bỏ cả cái sai lẫn cái đúng. Cuối cùng chúng ta sẽ vứt bỏ tất cả. Nếu
nó đúng, bỏ nó đi; nếu nó sai, bỏ nó đi! Thường thì nếu nó đúng chúng ta dính
mắc vào cái đúng; nếu nó sai, chúng ta cho rằng nó là sai, và rồi tranh cãi
nhau. Nhưng Đạo là một nơi không có gì cả - không có gì hết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét