Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 3
TRÍ HUỆ
CHƯƠNG 26
TRUNG ĐẠO.
Cả hạnh phúc và khổ đau
đều không phải là trạng thái bình
an.
Đức Phật dạy chúng ta xả bỏ cả hai
thứ này.
Đây là sự
tu hành đúng. Đây là Trung Đạo.
Giáo lý của Phật là về việc bỏ ác, hành thiện. Rồi
khi sự ác đã được dứt trừ và sự thiện lành đã được thuần thục, chúng ta xả bỏ
cả hai. Trung Đạo là con đường vượt lên trên cả hai thứ này.
Tất cả sự giảng dạy của Phật đều có cùng một mục
tiêu – chỉ ra con đường thoát khổ. Ngài cho chúng ta Chánh Kiến. Nếu chúng ta
không hiểu biết đúng đắn, chúng ta không đạt đến sự bình an.
Khi tất cả chư Phật đắc Đạo, và thuyết giảng lần đầu
tiên, họ đều nói về hai điều cực đoan này: sự mê đắm trong dục lạc và sự mê đắm
trong khổ đau. Đây là hai thứ mê đắm mà những ai kẹt vào trong đó đều phải lên
xuống mãi, không bao giờ đạt đến sự bình an. Họ sẽ mãi lăn lộn trong vòng luân
hồi sinh tử.
Con người bị kẹt trong hai thái cực này, nên không
thể nhìn thấy Trung Đạo. Cả hạnh phúc và
khổ đau đều không phải là trạng thái bình an. Đức Phật dạy chúng ta xả bỏ cả
hai thứ này. Đây là sự tu hành đúng. Đây là Trung Đạo.
Trung Đạo không ám chỉ lời nói hay hành động của
chúng ta, mà ám chỉ tâm. Khi một cảm thọ mà chúng ta không thích nảy sinh, tâm
rối rắm, dao động – đây không phải là con đường đúng. Khi một cảm thọ mà chúng
ta thích nảy sinh, tâm liền chìm đắm trong dục lạc – con đường này cũng không
đúng.
Không ai trong chúng ta muốn đau khổ. Nhưng thật ra
hạnh phúc là một hình thức của đau khổ vi tế mà thôi. Bạn có thể so sánh hạnh
phúc và đau khổ với một con rắn độc. Đầu rắn là sự đau khổ, đuôi rắn là hạnh
phúc. Đầu rắn rất nguy hiểm, nó chứa nọc độc. Nếu bạn đụng vào, con rắn sẽ cắn
ngay. Nhưng đừng nói chi là đầu, dầu bạn nắm cái đuôi, nó vẫn quay lại cắn bạn
như thường, bởi vì cả đầu và đuôi đều thuộc về con rắn.
Cùng thế ấy, cả
hạnh phúc và đau khổ đếu bắt nguồn từ sự ham muốn. Cho nên khi bạn vui, tâm
bạn không an. Nó thật sự bất an! Vì sao thế? Khi chúng ta có được điều mình ưa
thích, chẳng hạn như tài sản, địa vị, danh tiếng, chúng ta vui lắm. Nhưng sau
đó tâm liền cảm thấy lo lắng bởi vì sợ mất đi điều này. Một ngày nào đó, chúng
ta có thể mất điều này, và rồi chúng ta đau khổ.
Do đó, ngay cả khi bạn hạnh phúc, sự đau khổ đã có ở
đó rồi, nếu bạn không tỉnh giác. Cũng giống như khi bạn nắm cái đuôi rắn – nếu
bạn không bỏ nó ra, nó sẽ cắn bạn. Cho nên, dầu đó là đầu rắn hay đuôi rắn, có
nghĩa là, dầu đó là điều thiện hay điều ác, chúng đều không chắc chắn và luôn
thay đổi.
Cốt tủy của Phật Pháp là sự bình an, và sự bình an
đó phát sinh từ cái biết xác thực về bản chất của vạn vật. Nếu xem xét kỹ,
chúng ta sẽ thấy rằng sự bình an không phải là hạnh phúc lẫn khổ đau. Cả hai
thứ này đều không phải là chân lý.
Tâm của
con người, cái tâm mà Đức Phật muốn chúng ta khảo sát là một thứ mà chúng ta
chỉ có thể nhận biết qua những động thái của nó. Cái tâm
Nguyên Thủy thì không thể xem xét được, không thể biết được. Trong trạng thái
tự nhiên, tâm không dao động, không lung lay. Khi hạnh phúc phát sinh, tâm này
dao động; nó mê đắm trong cảm thọ đó. Khi tâm dao động như thế, sự dính mắc và
ràng buộc phát sinh.
Đức Phật vạch ra cho chúng ta toàn bộ con đường tu
hành, nhưng hoặc là chúng ta chưa tu, hoặc chúng ta chỉ tu trên miệng. Tâm và
lời nói của chúng ta chưa hợp nhất, chúng ta chỉ lý luận suông. Nhưng Phật Pháp
không phải là thứ để bàn luận hay suy đoán. Phật Pháp thật sự là kiến thức rốt
ráo về chân lý của thực tại. Nếu bạn biết chân lý này, bạn sẽ không cần sự
giảng dạy nào cả. Nếu bạn không biết nó, thì dầu cho bạn có nghe nói về nó bao
nhiêu lần, bạn cũng không thật sự hiểu. Cho nên Đức Phật mới nói, “Bậc Giác Ngộ chỉ vạch ra con đường”. Ngài
không thể tu hành cho bạn, bởi vì chân lý là một thứ không thể diễn đạt hay
chia sẻ bằng lời.
Tất cả giáo lý chỉ là những sự so sánh, những phương
tiện để giúp tâm nhận ra chân lý. Nếu chúng ta không nhìn thấy chân lý, chúng
ta đau khổ. Ví dụ, chúng ta thường dùng từ pháp
hữu vi (1) khi nói đến thân thể. Ai cũng có thể nói từ này,
nhưng vấn đề là chúng ta không biết sự thật về những pháp hữu vi này, và vì thế
chúng ta bám giữ chúng. Bởi vì chúng ta không biết sự thật về thân thể, chúng
ta đau khổ.
Sau đây là một ví dụ. Giả sử một buổi sáng, bạn đang
đi bộ tới chỗ làm thì có một người mắng nhiếc hay nhục mạ bạn từ phía bên kia
đường. Bạn cảm thấy bực tức và bị xúc phạm. Người đàn ông đó cứ lải nhải chửi
rủa bạn suốt. Nghe những lời sỉ nhục này, bạn rất tức giận. Và dầu đã về đến
nhà, bạn vẫn còn ấm ức và muốn trả thù.
Vài ngày sau, có người đến gặp bạn và nói, “Nè, người
đàn ông chửi rủa bạn hôm đó là một thằng điên! Hắn điên như thế đã nhiều năm
nay rồi! Hắn chửi rủa mọi người. Không ai để tâm đến lời nói của hắn cả”. Nghe
thấy thế, bạn liền cảm thấy nhẹ nhõm. Cảm giác tức giận và bị xúc phạm đè nén
mấy hôm nay đều tan biến hết. Tại sao? Bởi vì bây giờ bạn đã biết được sự thật.
Trước kia bạn cứ tưởng người đàn ông kia là một người bình thường, nên bạn mới
tức giận. Sự hiểu lầm này đã khiến cho bạn khổ sở vô cùng. Khi bạn vừa biết sự
thật, mọi thứ đều thay đổi: “Ồ, té ra hắn là một thằng điên! Hèn gì!”
Bây giờ hiểu ra, bạn cảm thấy nhẹ nhõm, và bạn có
thể buông bỏ. Nếu bạn không biết sự thật, bạn bị dính mắc ngay tại đó. Khi nào
bạn còn cho rằng người sỉ nhục bạn là một người bình thường, bạn giận đếu độ
muốn giết hắn. Nhưng khi bạn biết được sự thật, bạn thấy nhẹ hẳn. Đây là sự
hiểu biết chân lý. Một người chứng ngộ có kinh nghiệm tương tự. Khi sự tham ái,
thù hận và si mê tan biến, chúng tan biến cùng một cách đó. Chừng nào chúng ta
không biết những thứ này, chúng ta nghĩ, “Làm sao đây? Tôi tham lam và sân si
quá”.
Đây không phải là sự hiểu biết đúng đắn. Cũng giống
như khi chúng ta nghĩ rằng người điên là một người tỉnh táo. Rồi khi biết rằng
hắn là một người điên, chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Không ai chỉ cho bạn thấy
điều này. Chỉ khi tâm tự nó nhìn thấy, nó mới có thể dứt trừ sự ràng buộc.
Nó cũng như cái thân thể mà chúng ta gọi là pháp hữu
vi này. Mặc dầu Đức Phật đã giải thích rằng nó không có thực chất, chúng ta vẫn
ngoan cố bám chặt vào nó. Nếu thân thể có thể nói chuyện, nó sẽ nói với chúng
ta cả ngày, “Bạn không phải chủ nhân của tôi, bạn biết chứ”.
Ví dụ, các giác quan – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân –
luôn thay đổi, nhưng chúng không bao giờ hỏi ý chúng ta, dầu chỉ một lần! Khi
chúng ta nhức đầu hay đau bụng, thân thể đâu có xin phép chúng ta trước, nó cứ
làm, theo lề lối tự nhiên của chúng. Rõ ràng thân thể không cho phép bất cứ
người nào làm chủ nhân của nó, nó không có chủ nhân. Đức Phật mô tả nó như một
thứ không có thực thể.
Chúng ta không hiểu Đạo, nên chúng ta không hiểu
pháp hữu vi này. Chúng ta xem chúng là chính mình, thuộc về mình hay thuộc về
người nào khác. Một khi có sự hiện hữu, thì có sinh. Một khi có sinh, thì có
già, có bệnh và chết – cả một rừng đau khổ phát sinh.
Đây là Mười Hai Nhân Duyên(2). Vô minh
sinh ra hành (hành động có ý chí), và hành sinh ra thức (tâm thức), và cứ thế…
Tất cả những thứ này chỉ là những sự kiện trong tâm (tâm pháp). Khi chúng ta
tiếp cận những thứ chúng ta không thích, nếu không có chánh niệm, vô minh sẽ ở
đó. Đau khổ phát sinh ngay lập tức. Nhưng tâm đi ngang qua những biến đổi này
quá nhanh, nên sự nhận biết của chúng ta không theo kịp. Cũng giống như bạn rơi
từ trên cây xuống. Trước khi bạn biết chuyện gì xảy ra – bịch! – bạn đã đụng mặt đất. Thật ra bạn đã rơi ngang qua nhiều
cành cây trong lúc rơi xuống, nhưng bạn không đếm kịp. Bạn chỉ rơi xuống … bịch!
Mười Hai Nhân Duyên cũng vậy. Chúng ta nói vô minh
sinh hành, hành sinh thức, thức sinh danh sắc, danh sắc sinh lục căn, lục căn
sinh lục trần, lục trần sinh tham ái, tham ái sinh giữ thủ, thủ sinh sở hữu,
hữu dẫn tới sự sinh và sinh dẫn tới già, bệnh, và chết, và đủ thứ đau khổ. Tuy
vậy, trên thực tế, khi bạn tiếp cận một thứ gì bạn không thích, bạn cảm thấy
đau khổ ngay lập tức! Cảm giác đau khổ đó, thật ra, là kết quả của cả chuỗi
nhân duyên sinh khởi này. Đây là tại sao Đức Phật muốn các đệ tử của Ngài khảo
sát và biết rõ tâm của họ.
Khi con người sinh ra, họ không có danh tánh – một
khi họ sinh ra, chúng ta mới đặt tên cho họ. Đây là quy ước thế gian. Chúng ta
đặt tên cho mỗi một người để tiện việc giao tiếp và nhận dạng. Kinh điển cũng
vậy. Chúng ta đặt tên cho mỗi một thứ để tiện cho việc nghiên cứu và truyền
đạt. Tất cả đều là pháp hữu vi. Chúng là những thứ do nhân duyên mà sanh ra (bị
điều kiện hóa). Chúng đều vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã. Chúng không ổn
định. Chúng ta không hiểu biết điều này, cho nên chúng ta có quan niệm sai lạc.
Quan niệm sai lạc này cho rằng các pháp hữu vi là chúng ta, của chúng ta, hay
nói cách khác, hạnh phúc và khổ đau là chúng ta. Suy nghĩ như thế là không hiểu
bản chất thật của sự việc. Sự thật thì chúng ta không thể ép những thứ này diễn
ra theo ý muốn của mình. Chúng chỉ đi theo tự nhiên.
Lấy ví dụ sau đây: giả sử bạn ngồi giữa một xa lộ và
xe cộ đang chạy về phía bạn. Bạn không thể nổi nóng với những chiếc xe trên
đường mà la hét, “Ê, đừng lái về phía này! Đừng lái về phía kia!” Đó là xa lộ.
Bạn không thể nói chuyện kiểu đó. Vậy thì bạn làm gì bây giờ? Bạn rời khỏi xa
lộ! Bạn tránh khỏi đường xe chạy. Con đường là nơi để xe chạy. Nếu bạn không
muốn có xe chạy ở đó, bạn chỉ thất vọng thôi.
Các pháp hữu vi cũng vậy. Chúng ta nói rằng chúng
quấy nhiễu chúng ta. Chẳng hạn như khi chúng ta đang ngồi thiền và nghe tiếng
động. Chúng ta nghĩ, “Ồ, tiếng động đó phiền nhiễu quá”. Nếu chúng ta nghĩ rằng
tiếng động làm phiền chúng ta, chúng ta sẽ đau khổ. Nhưng nếu chúng ta khảo sát
kỹ hơn, chúng ta sẽ để tiếng động ở đó. Chúng ta sẽ thấy rằng tiếng động là một
thứ và chúng ta là một thứ khác. Những ai cho rằng tiếng động quấy rối họ, kẻ
đó không nhìn thấy chính mình. Họ thật sự không nhìn thấy gì cả! Một khi bạn
nhìn thấy chính bạn, tâm sẽ an ổn. Tiếng động chỉ là tiếng động. Bạn dính mắc
vào nó làm gì? Thật ra, bạn mới là người quấy rối tiếng động.
Đây mới là chánh kiến. Bạn nhìn thấy cả hai mặt, cho
nên bạn bình an. Nếu chỉ nhìn thấy một mặt, bạn sẽ đau khổ. Khi bạn nhìn thấy
cả hai mặt, đó là khi bạn đi theo Trung Đạo. Đây là sự tu hành đúng cách. Đây
gọi là “điều chỉnh sự hiểu biết của chúng ta”.
Cùng thế ấy, bản chất của pháp hữu vi là vô thường
và sinh diệt, nhưng chúng ta muốn nắm giữ chúng. Chúng ta muốn chúng là thật.
Chúng ta muốn tìm thấy sự thật bên trong những thứ không thật. Bất cứ ai, khi
nhìn thấy điều này và bám vào các pháp hữu vi, xem chúng như chính họ, kẻ đó sẽ
đau khổ.
Sự tu hành không nằm nơi một tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa
di, hay một người tại gia nào khác. Nó chỉ là sự điều chỉnh cái biết của bạn. Nếu sự hiểu biết của bạn đúng, bạn
sẽ bình an, sự bình an đó cũng giống nhau với mỗi chúng ta, con đường cũng
giống nhau, phương pháp cũng giống nhau.
Do đó, Đức Phật không phân biệt giữa người tại gia
và người xuất gia. Ngài dạy tất cả mọi người tu hành để hiểu biết sự thật về
các pháp hữu vi. Khi chúng ta biết sự thật này, chúng ta buông bỏ các pháp hữu
vi. Nếu chúng ta biết sự thật, sẽ không còn sự trở thành và sinh ra. Sự sinh
không có cách nào xảy ra, bởi vì chúng ta đã biết rõ bản chất của các pháp hữu
vi. Nếu chúng ta hiểu biết chân lý một cách rốt ráo, sự bình an phát sinh. Có
hay không nó cũng giống như nhau. Được và mất cũng đồng như nhau. Đức Phật muốn
chúng ta hiểu điều này. Đây là sự bình an – bình an là vượt lên cả sự hạnh phúc
lẫn đau khổ.
Chúng ta phải thấy là không có lý do để sinh ra –
không có lý do nào cả. Sinh và diệt phát sinh từ sự dính mắc vào và bám giữ các
pháp hữu vi. Khi chúng ta có được điều chúng ta thích, chúng ta vui sướng. Nếu
không có sự dính mắc vào cảm giác vui sướng đó, thì không có “sự sinh ra”. Cho
nên, nếu chúng ta có được một điều gì đó, chúng ta không sinh vào sự vui sướng.
Nếu chúng ta mất nó, chúng ta không sinh vào sự đau khổ. Đây là sự không sinh
và không diệt.
Đây là sự tu hành đúng. Nếu bạn không đạt được những
điều này, nếu bạn không đạt được Trung Đạo, bạn sẽ không thể vượt lên trên khổ
đau.
-------------------------------------------------
(1)
Pháp hữu vi là những sự vật do nhân duyên mà sanh ra, được tạo tác nên, và bị
thay đổi.
(2)
Mười Hai Nhân Duyên là chuỗi nhân duyên sinh khởi bắt đầu từ Vô Minh (xem Thập Nhị
Nhân Duyên)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét