3 thg 10, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 10 - BÀI 3

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 10

ĐỂ ĐÂY LÀ LẦN CUỐI

BÀI 3

HỌC CÁCH CHẾT

Câu chuyện cuối cùng trong cuốn sách tôi đọc là về một con giun quá dính mắc đến đống phân nơi nó sống đến nổi không sẳn lòng từ bỏ, kể cả khi nó được hứa hẹn một nơi như trên thiên đường.  Nhiều người thích ở yên trong đống phân của họ. Bạn lôi họ ra ngoài một chút, và rồi họ lại quyết định bò vào trong.

Sự buông bỏ có vẻ đẹp và sự an bình lớn, nhưng do hầu hết mọi người chưa hiểu về khổ, họ không nhận ra điều này. Hạnh phúc đích thực được tìm thấy trong sự buông bỏ: ít của cải, không có nhiều mối quan hệ, không bị gánh nặng, không bị trói buộc. Đa số mọi người nghĩ như vậy là khổ. Nhưng bậc giác ngộ lại nói sự sa đà vào dục lạc thế gian mới thực sự là khổ. Nhiều người ngụp lặn trong dục lạc và cho đó là hạnh phúc. Tôi đã từng như vậy, đã làm vậy, và tôi biết thế nào là khổ. Nhưng mọi người cho rằng họ cần tự mình trải nghiệm, vậy là họ đưa tay vào lửa và tất nhiên, bị lửa đốt cháy. Rồi họ nhận ra Đức Phật đã đúng. Nhưng quá muộn, lúc này họ đã bị ràng buộc quá chặt vào thế gian.

Vậy hãy sáng suốt đưa cuộc sống của bạn đi đúng đường. Đừng cứ chạy theo người khác; hãy tự mình tìm hiểu con đường đích thực tới hạnh phúc và tự do, rồi đi theo nó. Quyết định của bạn sẽ tác động đến bạn không chỉ hôm nay, mà mười, hai mươi năm hay cả quảng đời còn lại. Hãy tự hỏi: mình đã chuẩn bị gì cho tuổi già, bệnh tật, và cái chết chưa? Sự chuẩn bị này không phải chỉ nói tới vấn đề vật chất, mà tất cả về các nguồn lực tâm linh. Bạn có khả năng nhận ra rằng bị bệnh và già yếu chẳng qua là điều tự nhiên của cơ thể không? Bạn cần học cách chết - chết đi với thế gian, với của cải, chết đi với mọi ham muốn trong đời. Nghĩa là, bạn học cách buông bỏ mọi thứ. Nếu bạn có khả năng học cách chết. Vậy bạn đang đi đúng đường.

Trong kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana Sutta), Đức Phật hỏi các đệ tử, năm uẩn - tức sắc, thọ, tưởng, hành, thức - là thường hay vô thường. Các chúng đệ tử đáp chúng vô thường. Đức Phật lại hỏi một thứ vô thường là vui hay khổ. Họ đáp là khổ. Ngài hỏi, liệu có thích hợp không khi coi khổ ấy là của tôi, hay cái tôi? Các đệ tử đáp không. Nếu hiểu rằng các uẩn là khổ, bạn nhận ra năm uẩn của một người đã là quá nhiều, ngay lúc đó, bạn có động cơ lớn lao để tu tập.

Một khi hiểu tuổi già, bệnh tật và cái chết, bạn hiểu rằng mình có một vấn đề, vấn đề ấy cần được giải quyết. Rắc rối ở chỗ, hầu hết mội người không hành động cho đến khi vấn đề xuất hiện ngay trước mặt họ. Chỉ khi đã già; chỉ khi thực sự bị bệnh họ mới quan tâm đến bệnh tật; chỉ khi sắp chết họ mới nghĩ đến cái chết. Họ chẳng khác gì một đứa trẻ, đáng lẽ phải học tập nhiều tháng trước thì lại học tất cả mọi thứ vào đêm trước khi thi. Về tuổi già, bệnh tật và cái chết cũng vậy: hãy làm bài tập ngay lúc này, khi bạn còn trẻ, khỏe, đầy sức sống.


2 thg 10, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 10 - BÀI 2

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 10

ĐỂ ĐÂY LÀ LẦN CUỐI

BÀI 2

SUY NGẪM VỀ TUỔI GIÀ, BỆNH TẬT VÀ CÁI CHẾT

Một trong những cách khiến bạn mở mắt trước Phật pháp là thấy được bức tranh toàn cảnh, hiểu được cuộc đời thực sự là gì. Nếu thực hiện điều ấy một cách thích đáng, nó sẽ đưa bạn tới buông xả. Bạo lực luôn gây đau khổ cho bất cứ ai; bạn có thể tự nhiên ở vào chỗ không phù hợp. Đã có nhiều hoàn cảnh, cái chết với tôi đó là một khả năng hoàn toàn xảy ra; nó là lời nhắc nhở quan trọng về những điều không chắc chắn trong cuộc sống này.

Ngay cả khi bạn sống ở một nơi không chiến tranh và bạo lực, hãy nhớ, bản chất của cơ thể là bệnh tật có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Có thể ngay lúc này bạn bị ung thư mà chưa phát hiện ra. Bạn đã sẵn sàng đối diện với điều đó chưa? Nếu lúc này bạn chưa bị bệnh, sớm hay muộn rồi cũng sẽ bị - nếu bạn có thể sống lâu đến lúc đó. Đây là thực tế bạn nên suy ngẫm.

Sự suy ngẫm cho bạn thấy được cả những hạn chế lẫn cơ hội của cuộc sống. Khi hiểu được những hạn chế của mình – là tuổi già, bệnh tật và cái chết - điều gì cần làm sẽ trở nên rõ ràng. Để thấy sự hạn chế của mình, hãy nhìn vào bản chất của cơ thể: nó rất mong manh, với một chuỗi các vấn đề xảy ra bất tận mà không thể tránh được. Vậy thay vì cứ đồng nhất mình với cơ thể đó, chìm đắm trong nó, quan tâm thái quá đến nó, bạn làm khác đi, không sa vào mớ hỗn độn này một lần nữa. Đó là cơ hội.

Mê lầm có khuynh hướng làm chúng ta quên mất việc tận dụng cơ hội để giải thoát. Hầu hết mọi người bị mắc kẹt trong ảo tưởng, tự làm khổ mình và đầu độc sức khoẻ của mình. Nếu bạn khoẻ mạnh hoặc chỉ là những bệnh nhẹ, bạn nghĩ đó là bình thường; nếu bạn còn trẻ, bạn nghĩ mình được vui sướng như thế mãi. Trừ khi chủ ý suy ngẫm về bản chất thật sự của cơ thể, bạn dễ quên rằng các hành động của mình đều mang lại hậu quả, và bạn làm đủ thứ điều ngu ngốc. Trong cuộc sống, vui thú đến trước, nếu không cẩn thận, bạn sẽ trả giá đắt về sau.

Không những thế, mọi thứ đẹp đẽ - dù là một bông hoa, một cơ thể, hay một quang cảnh – đều héo tàn và cuối cùng trở nên xấu xí và băng hoại. Lúc này bạn sẽ thấy quá trình vận động của vô thường, mọi thứ hư hại, sụp đổ và biến mất. Một khi hiểu rằng mọi thứ đẹp đẽ ban đầu sẽ phải trả giá về sau, bạn sẽ đạt được sự buông bỏ - đối với toàn bộ trải nghiệm mà giác quan mang lại: đối với cơ thể, đối với các mối quan hệ, đối với sự đến và đi, đối với vạn vật. Kể cả trái đất xinh đẹp này rồi cũng có một ngày bị mặt trời nuốt chửng, chẳng còn lại gì – nó sẽ xoá sạch tất cả di sản mà con người tạo ra, không còn dấu tích nào của loài người, không còn nữa gì cả. Mọi thứ biến mất, kể cả Phật pháp. Đây là một tiến trình tự nhiên của vũ trụ mà khoa học đã chứng mình được.

Nỗi khổ và cái chết của người thân là một lời nhắc nhở hiệu lực về bản chất của cuộc sống. Lần cuối tôi gặp mẹ mình là khi bà đang bệnh Alzheimer, chứng mất trí nhớ không hồi phục. Bà bị đưa đi khỏi tôi - Tôi thấy cơ thể bà, nhưng tâm trí bà không còn ở đó nữa. Rồi khi cha tôi qua đời. Tôi bị đánh thức vào nữa đêm, mẹ tôi nói rằng không thể làm cho ông ấy dậy được. Tôi lay ông, nhưng đó là cái xác đã chết. Ông là cha tôi, người tôi rất yêu thương. Ngay cả lúc ấy tôi biết cái chết chẳng qua là vậy, tôi đã nhìn thấy cái chết sát bên mình như thế. Có lẽ do hiểu biết về cái chết nên tôi không quá dính mắc đến cơ thể, và hành thiền của tôi cũng suông sẻ.

Khi hiểu về cái chết trở nên rõ ràng, bạn có tầm nhìn mới, thực tế hơn với cuộc sống. Đa số mọi người không suy nghĩ như vậy, họ có khuynh hướng lãng tránh về cái chết, họ cho nó là điều gì đó xa xôi, họ sẽ xử lý nó khi nó tới. Nhưng chính những người ấy lại không thể chấp nhận sự thật khi nó tới.

Tuổi già là lúc hầu hết mọi người nhìn lại, xem mình đã sống cuộc đời như thế nào. Với tôi, việc nhìn lại không hề khiến tôi khó chịu, bởi tôi đã sống một cuộc đời thanh tĩnh, rèn luyện tâm, có được an bình, hạnh phúc từ việc phụng sự người khác. Tôi tin chắc rằng mình là một người chuẩn bị tốt cho tuổi già. Tôi nhìn lại và nghĩ: “Đúng vậy, mình đã sử dụng thời gian một cách sáng suốt”. Giả dụ nếu đã sống một cuộc sống đầy ham muốn, hẳn tôi đã không có cảm giác yên ổn và tĩnh tâm vì đã làm điều gì đó. Rồi giống như một giấc mơ cứ lập đi lập lại ngày nào, sẽ có ngày tôi thức dậy và nghĩ: “Mình đã làm gì thế này? Sao mình đã phí thời gian lâu như vậy?” Quán chiếu về tuổi già, bệnh tật và cái chết cho chúng ta có một cái nhìn khác về cuộc sống, bởi thế chúng ta nên thực hiện điều ấy một cách sâu sắc hơn, thường xuyên hơn. Khi bạn đang hành thiền, hãy quán chiếu về cái chết như: “Mình sẽ chết, đó là điều chắc chắn”. Ngay cả bạn là một thiền giả nhiều kinh nghiệm, đừng đánh giá thấp tác động của sự quán chiếu về cái chết. Nếu chưa phải là người nhập lưu, sự suy ngẫm và quán chiếu như vậy có khả năng chuyển hóa cách bạn nhìn nhận cuộc đời. Thay vì dính mắc vào các giác quan, bạn có được niết bàn đối với nó; thay vì thèm khát, bạn tự nhiên chối bỏ nó.


1 thg 10, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 10 - BÀI 1

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 10

ĐỂ ĐÂY LÀ LẦN CUỐI

“Ta phải chịu tuổi già; ta không tránh được tuổi già. Ta phải chịu bệnh tật; ta không tránh được bệnh tật. Ta phải chịu cái chết; ta không tránh được cái chết. Ta phải xa lìa mọi thứ yêu quý và dễ chịu…” - điều này nên được cả người nam lẫn người nữ, người tại gia lẫn xuất gia suy ngẫm.

Tuổi già, bênh tật và cái chết đợi sẳn chúng ta. Bạn càng trẻ và khỏe mạnh, suy ngẫm này càng quan trọng, bởi lẽ hầu hết mọi người thấy khó mà hình dung về những thực tế ấy. Sự thật là, đến tuổi năm mươi, bạn bắt đầu suy sụp, sang tuổi sáu mươi bạn thật sự đang xuống dốc. Đến tuổi bảy mươi, bạn đang ngồi trong phòng chờ, trên đường ra đi.

BÀI 1

BẠN NHƯ MỘT CON BÒ ĐANG BỊ DẪN TỚI LÒ MỔ

Tôi đã ngoài sáu mươi tuổi. Dẫu vậy, tôi có cảm giác chỉ như mới hôm qua, khi tôi hai mươi tuổi, vui vẻ, chẳng lo gì về sức khỏe của mình. Đời người quả thực trôi rất nhanh. Chẳng bao lâu, tôi sẽ thức dậy và thấy mình ngoài bảy mươi. Suy ngẫm như vậy cho ta cái nhìn bao quát hơn. Nếu chỉ nghĩ tới ở đây và lúc này, chúng ta quên mất bức tranh toàn cảnh, và hành xử như kẻ say rượu.

Hồi trẻ, tôi có một giấc mơ lặp đi lặp lại rất sống động. Trong giấc mơ ấy, tôi thấy mình đang sống trong một căn nhà tồi tàn, và một sáng thức dậy, tôi nhận ra điều gì đã xảy ra: trong nhiều năm trời tôi đã lãng phí thời gian, và giờ đây tôi đã già mất rồi. Với nhận thức ấy, một cảm giác mãnh liệt về buông xả nảy sinh - một cảm giác chán ghét những gì mình đang làm. Giống như câu chuyện trong kinh về một người mù, mua được một miếng vải cũ rách bẩn thỉu từ một kẻ lừa gạt, kẻ ấy nói rằng đó là một miếng vải trắng sạch sẽ. Chỉ khi có thể nhìn được trở lại, người ấy mới nhận ra sai lầm của mình.

Một trong những câu chuyện ưa thích của tôi trong các bản văn Pali không thuộc kinh tạng là câu chuyện trong Biên niên sử Mahavamsa về người em của vua A-dục (Asoka). Giống như hầu hết những người ham thích dục lạc, người em của đức vua thèm khát quyền lực và theo đuổi ham muốn ấy dù cho trả giá bất cứ thứ gì. Người em luôn hy vọng có một ngày lật đổ người anh để trở thành vua. Nhưng đức vua vốn là Phật tử thuần thành, thấy em không hiểu cũng không quan tâm đến Phật pháp, nên quyết định dạy cho em mình một bài học. Có một ngày, khi đi tắm, ngài đã để tất cả y phục hoàng đế của mình bên ngoài nhà tắm. Ngài sắp xếp để một cận thần đưa người em đi ngang qua chỗ đặt y phục. Khi họ đi ngang qua nhà tắm, người cận thần nói với người em của A-dục: “Nhìn xem, đó là y phục của nhà vua - hẳn ngài đang tắm. Sẽ có ngày ông trở thành vua, sao ông không mặc thử xem?” Em của vua A-dục đáp: “Ta không thể; thế là phạm luật và sẽ chịu tội tử hình”. Người cận thần thôi thúc: “Không, không sao đâu, ông có thể thử; sẽ không ai biết”. Người em làm theo, và ngay lập tức A-dục ra khỏi phòng tắm và nói: “Ngươi đang làm gì vậy? Đó là tội tử hình! Dù ngươi là em ta, ta vẫn phải áp dụng luật pháp một cách công bằng. Ta xin lỗi, em trai, nhưng ngươi sẽ bị xử tử”.

A-dục tiếp: “Tuy nhiên, vì ngươi quá ham muốn làm vua như vậy, ta ban cho ngươi một ân huệ. Ngươi có thể được làm vua trong bảy ngày, được thụ hưởng mọi thú vui của một vị vua. Nhưng ngươi không thể thay đổi bản án và sau bảy ngày ta sẽ xử tử ngươi”.

Và thời hạn bảy ngày đã đến, nhà vua đem người em ra pháp trường, đao phủ chờ sẵn. A-dục hỏi người em: “Ngươi có vui không trong bảy ngày vừa qua?” Người em đáp: “Tôi vui sao được khi biết trong vài ngày nữa mình sẽ chết! Thậm chí tôi còn không thể ngủ được, nói gì tới vui”. Trước khi trả tự do cho người em, vua A-dục giảng giải bài học: “Dù là bảy ngày, bảy tháng, bảy năm hay bảy mươi năm, sao ngươi có thể thiếu suy nghĩ mà đắm chìm trong dục lạc khi biết rằng cái chết đang đợi chờ mình?” Đây là một bài học có tác động lớn với tất cả chúng ta. Như kinh nói, bạn giống như con bò đang bị đưa tới lò mổ, bước dần tới cái chết của chính mình mà không cách gì thay đổi được. Những suy nghĩ như vậy sẽ làm bạn thức tỉnh.


9 thg 9, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 9 (gộp bài)

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 9

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT

Khi Đức Phật có bài thuyết pháp đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, tôn giả Kiều Trần Như (Anna Kondanna) đã chứng đắc quả vị Nhập lưu (stream-winner). Trọng tâm chủ yếu của kinh này là giải thích phạm vi của khổ, hay như Đức Phật nói: “Khổ nên được hiểu rõ”. Trong năm người lắng nghe bài pháp ấy, chỉ có Kiều Trần Như thấu đạt trọn vẹn. Biết đầy đủ về khổ là một điều khó - chúng ta, một cách tự nhiên, cưỡng lại thực tế này. Do vậy, tôi cho rằng sẽ dễ thành tựu nhập lưu hơn bằng cách tập trung vào vô ngã và nguồn gốc của con người chúng ta nghĩ “tôi” là.

BÀI 1

MỌI THỨ ĐỀU TÙY THUỘC

Trong kinh Chính Tri Kiến (Sammaditthi Sutta), Tôn giả Xá-Lợi-Phất (Sariputta) tìm ra cách giảng giải ý nghĩa của vô ngã. Dựa trên khuôn khổ Bốn Chân Lý cao quý, ngài đi qua mọi khía cạnh có thể có của thân và tâm, cho thấy làm thế nào từng khía cạnh ấy hoàn toàn tùy thuộc vào một nguyên nhân, và giải thích làm thế nào để từ bỏ nguyên nhân ấy. Tính chất tùy thuộc sâu xa này có nghĩa là mọi thứ đều có nhân duyên: không có cái ngã thường hằng nào, cũng không có thứ gì khác thường hằng. Khi thấy được mọi thứ đều có nguyên nhân hay một nguồn kích hoạt, một cơ sở để từ đó chúng khởi lên, bạn cũng thấy một khi nguyên nhân bị diệt trừ, bản thân sự vật ấy biến mất.

Cũng trong kinh trên, Xá-Lợi-Phất giải thích tính chất duyên khởi, cho thấy bằng cách nào ngay cả tâm thức cũng có một nguyên nhân, và nếu không có nguyên nhân ấy, sẽ không có tâm thức. Đây là một tuyên bố mạnh mẽ, bởi trên thực tế tất cả mọi người - ngoại trừ những vị thánh - đều cho rằng tâm thức, hay người biết, là “cái tôi”. Và do đồng nhất với “cái tôi”, họ bám chấp nó, không rời bỏ nó.

BÀI 2

TÍNH CHẤT VÔ NGÃ CỦA NĂM CĂN

Khi hành thiền, bạn có thể thấy mình thiếu năng lực buông bỏ. Tại sao bạn không thể lờ đi một cơn ngứa hay cái đầu gối đau? Tại sao bạn không thể xả bỏ âm thanh? Tại sao bạn không thể dừng tâm trí bất an? Tại sao bạn không thể xả bỏ quá khứ hay tương lai? Thay vì cố trở nên tĩnh lặng, hãy hiểu tại sao bạn không tĩnh lặng. Cái gì là nguyên nhân bất an, nó đến từ đâu? Hãy nhớ đây là con đường của Đức Phật, con đường nhận thức. Bạn sẽ không có năng lực buông xả bằng sức mạnh ý chí; mà chỉ bằng cách hiểu sự vệc, tìm về nguồn gốc của chúng, bạn mới có thể buông bỏ chúng. Điều gì gây nên sự bất an? Tất nhiên có nhiều kiểu nguyên nhân, nhưng nếu tiếp tục đào sâu hơn để tìm hiểu, bạn sẽ thấy rốt cuộc mọi thứ đều quy về một nguyên nhân, đó là cảm giác có một “cái tôi”, cảm giác về cái tôi không thay đổi.

Chúng ta không thể buông bỏ vì đang bám chấp vào thân và tâm: chúng ta nghĩ mình sở hữu chúng. Chúng ta cũng không sẳn lòng bỏ chúng đi. Hãy nghĩ xem, buông bỏ thứ gì đó không thuộc về mình thì dễ dàng như thế nào. Nếu thứ gì đó không liên quan đến bạn và nó đi mất, thì chỉ vậy thôi - nó đi mất. Nếu bạn không sở hữu ý thức, nếu bạn không nghĩ ý thức là tài sản quan trọng nhất của mình, bạn sẽ không bận tâm khi ý thức bắt đầu tan biến trong thiền định. Nếu nhĩ thức tan biến đi và bạn không nghe thấy gì, bạn không có khuynh hướng báo động cho tâm trí để bật thính giác lên, bạn đơn giản không quan tâm; bạn đã xả bỏ nó. Khi các bộ phận trên cơ thể biến mất khiến bạn không thể cảm thấy chúng, bạn cũng không quan tâm. Bạn không bật các giác quan lên, bởi bạn gần như sẳn sàng hiện hữu khi không có chúng.

Ban đầu, điều này có nghĩa là nằm ngoài vùng dễ chịu của bạn, bởi lẽ sự trải nghiệm thông qua các giác quan như thông thường không còn với bạn nữa. Nhưng bạn sẵn lòng đi tới đó  bởi có lòng tin, bởi bắt đầu hiểu rằng các giác quan không thuộc về bạn. Càng hiểu rằng năm thức, tức nhận thức thông qua các giác quan, không phải là mình, bạn càng bớt lo lắng về chúng. Nhưng nếu vẫn nghĩ mình sở hữu những món này, chúng ta sẽ sử dụng chúng để tạo dựng cảm giác về nhân dạng của mình. Chúng ta nghĩ mình tồn tại thông qua các hoạt động, các trải nghiệm giác quan cho ta cảm giác về sự tồn tại. Phải có lòng tin và một chút kiên nhẫn mới trừ bỏ được lớp vỏ bên ngoài do năm căn tạo thành. Khi các thức bắt đầu tan đi, toàn bộ nhận thức của chúng ta thay đổi: chúng ta không còn sống trên thế gian. “Sống trên thế gian” không có nghĩa là thực hiện các hoạt động hằng ngày, mà nó có nghĩa là sống trong cảnh giới của năm giác quan: nhìn, cảm nhận, lo lắng, hay bận tâm đến bất kỳ đối tượng nào của giác quan.

Tôi nhấn mạnh điều này bởi lẽ, nếu bạn thấy mình không phải là năm thức, rằng chúng không liên quan tới bạn, vậy rõ ràng chúng không chịu sự kiểm soát của bạn. Quá nhiều người dành cả đời cố gắng để không thấy những thứ xấu xí, không muốn nghe những lời gay gắt, hoặc không có trải nghiệm đau thương. Họ sẽ làm hầu như mọi việc để tránh các đau đớn cơ thể - nhưng họ không bao giờ thành công. Họ không làm được vì những trải nghiệm khó chịu là do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nghiệp. Nguyên nhân gây ra tuổi già, bệnh tật và cái chết là do đã sinh ra ở đời. Bạn đã được sinh ra, vậy nên bạn mắc kẹt: bạn sẽ trải qua đau đớn, tuổi già, bệnh tật, trở nên yếu ớt và chết. Do không thể thoát được những thứ này, bạn cần chấp nhận chúng và buông bỏ sự vật lộn.

Khi hiểu rằng các giác quan không liên quan đến mình, tự nhiên bạn không còn quan tâm về chúng, bạn để chúng biến mất, kể cả những nhức mỏi và đau đớn. Làm sao đang bị đau khủng khiếp mà vẫn cười được? Nếu các giác quan không dính tới bạn, vậy cơn đau cũng thế. Và nếu cơn đau không dính tới bạn, vậy nó không quan trọng với bạn, và bạn có thể bỏ mặc nó. Bạn chỉ chú ý đến điều gì bạn cho là quan trọng.

Thật thú vị khi tìm hiểu xem điều gì mọi người cho là quan trọng. Khi người ta xem bóng đá hay một bộ phim trên tivi khi họ đang ăn, họ ăn những cái gọi là “bữa tối tivi”, nhưng thậm chí họ không cảm thấy hương vị của thức ăn. Chúng đơn giản không quan trọng với họ: trận bóng đá hay bộ phim mới là điều quan trọng. Thậm chí họ không biết mình đang ăn gì. Liệu bạn có thể đang ăn mà quán sát hơi thở với sự tập trung như vậy không, đến nỗi không biết mình đang ăn gì không? Liệu bạn có thể suy ngẫm về Tam Pháp Ấn, tức ba tính chất vô thườngkhổ, vô ngã đến mức không để ý đến hương vị của thức ăn không? Lý do bạn để ý đến điều gì đó vì nghĩ nó quan trọng. Và lý do nó quan trọng với bạn là bởi các trải nghiệm giác quan tạo dựng một cảm giác về “cái tôi”, một cảm giác về nhân dạng, một cảm giác về sự tồn tại. Nhưng trong tu tập Phật giáo, bạn đang đi theo hướng ngược lại. Khi suy ngẫm và hiểu những lời dạy của Đức Phật trong kinh Chính Tri Kiến (Sammaditthi Sutta) hay kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhana Sutta), bạn nhìn nhận sự vật theo một cách khác. Năm giác quan không liên quan gì đến bạn - chúng được kích hoạt do các nguyên nhân, nghĩa là chúng có thể được tắt đi khi các nguyên nhân ấy diệt trừ. Khi chúng tắt đi, đó chẳng phải điều gì to tát - bạn không cần bận tâm. Bạn không kích khởi chúng lại; bạn xả bỏ chúng.

Nếu năm giác quan biến mất trong một thời gian dài, bạn có thể nhập các giai đoạn thiền. Công thức trong tiếng Pali để đạt sơ thiền có câu vivicc’eva kamehi, nghĩa là xa lìa, tách biệt, rời khỏi hoạt động của năm căn. Bạn không thể cảm thấy cơ thể bởi trong suốt thời gian ở trạng thái sơ thiền, năm căm tách rời khỏi tâm. Bạn thấy năm căn không phải là mình, đây là một tri kiến quan trọng, bắt đầu xác nhận lời dạy của Đức Phật về vô ngã. Nếu vẫn chưa thực chứng trạng thái thiền ấy, nếu chưa xả bỏ được đến mức ấy, hãy tự hỏi tại sao. Nguyên nhân nào khiến bạn bận tâm tới cơ thể, tới âm thanh, cảm giác, tưởng tượng, mơ mộng, những đối thoại bên trong? Hãy nhắc bản thân nhớ rằng tất cả những thứ này đều nằm trong cảnh giới của năm căn, bởi vậy không liên quan gì đến bạn. Do các nguyên nhân mà nhận thức thông qua các giác quan còn tiếp tục, mà một trong các nguyên nhân chính là sự quan tâm, dính mắc vào nó - hay nói cách khác, sự trói buộc. Vậy hãy cắt đứt và xả bỏ nó.

Hãy nhớ sự trói buộc giống như sợi dây: một đầu là những gì bạn đang dính mắc vào, và đầu kia là đối tượng của sự dính mắc. Thường khi nói về trói buộc, chúng ta thường nói mình bị trói buộc vào một đối tượng nào đó nhưng quên mất cái gì đang bị trói buộc vào những đối tượng ấy. Điều gì ở đầu dây kia? Nó là sự đồng nhất của bạn với sự việc. Vấn đề là “cái tôi” bên trong: tôi cần ngủ, tôi cần làm gì đó, tôi cần nghe nhạc - tôi cần… Nếu thiền của bạn không đủ sâu, đó là bởi “cái tôi” đang bám lấy năm thức.

Sự thành công trong thiền không chỉ là vấn đề quán sát hơi thở hết giờ này đến giờ khác, tìm ra một nơi yên tĩnh, kiểm soát nhiệt độ trong phòng. Các điều kiện vật lý có thể hoàn hảo, nhưng thế không đủ - một thứ khác vẫn còn thiếu. Đó là gì? Thứ khác đó chính là nhận thức sâu sắc rằng năm căn không liên quan gì đến bạn. Nếu thấy chúng không phải là việc của bạn, bạn không còn vướn bận với chúng, và rồi bạn từ bỏ chúng, thấy chúng tan đi. Khi chúng tan đi, bạn có được một tri kiến quan trọng: phúc lạc của thiền khởi lên bởi toàn bộ khổ - mà ở đây là năm thức - đã biến mất.

BÀI 3

BUÔNG BỎ Ý THỨC

Bước tiếp theo - mà đây là bước quan trọng, vì nhiều người bị kẹt trong giai đoạn này - đó là nhìn nhận tâm (citta) chỉ như nó là. Giống như năm thức trước, nguyên nhân của thức thứ sáu - tức ý thức - là danh sắc (namarupa). Đây là điều Xá-Lợi-Phất mô tả trong ẩn dụ về hai bó cỏ tranh đặt tựa vào nhau. Danh sắc và ý thức dựa vào nhau: nếu lấy một thứ đi, bạn cũng lấy mất chỗ dựa của thứ kia, nên nó cũng biến mất. Ý thức không thể hoàn toàn tự nó hiện diện, không nhận biết điều gì. Nếu danh sắc biến mất, ý thức cũng mất theo. Khi đi vào các trạng thái thiền sâu, bạn bắt đầu thấy những phần ý thức mất dần. Một khi thực chứng điều này, bạn sẽ không kẹt lại ở sơ thiền vì biết rằng ngay cả ý thức cũng không liên quan tới mình.

Trong kinh Chính Tri Kiến (Sammaditthi Sutta), Xá-Lợi-Phất nói rằng thức bao bồm sáu loại, nó có nguyên nhân, và nó có diệt trừ. Ngài cũng nói con đường dẫn tới sự diệt trừ của thức là Bát Chánh Đạo. Vì vậy, sự kết thúc của khổ bao hàm sự kết thúc của ý thức. Chỉ ra như vậy, Xá-Lợi-Phất đang thực sự khẳng định toàn bộ ý nghĩa của Pháp. Mất đi cảm giác về bàn tay là một chuyện, giống như người phụ nữ trong câu chuyện tôi vừa kể đã trải nghiệm nhiều năm trước; nhưng mất đi ý thức là một chuyện khác - nó thật sự thấu tận cốt tủy. Như Đức Phật nói, đây là một phần của diệt khổ. Nó khiến cho chúng ta chú ý đến sự thâm thúy trong lời dạy của Ngài.

Và không chỉ ý thức chấm dứt, cả cảm giác và tất cả những nhân tố duyên khởi khác nữa. Đức Phật nói, nếu bạn tu tập Bát Chánh Đạo, nó dẫn tới sự chấm dứt của mọi cảm xúc, mọi đau đớn, dễ chịu, và thậm chí cả cảm giác bình thường hay sự bình thản. Mục đích của Phật giáo rõ ràng là không phải để đạt được một trạng thái phúc lạc hay thư thái nào đó mãi mãi, mà là Đại Bát Niết Bàn (parinibbana), niết bàn tối thượng. Bạn có thể cho rằng điều này xem ra quá nhiều, nhưng vấn đề là ở chỗ, bạn không đánh mất thứ gì cả; vì ngay từ đầu đã chẳng có “cái tôi” nào để sở hữu một thứ gì. Toàn bộ ảo tưởng về “cái tôi” ấy, giờ đây được thấy chỉ là quá trình của nhân quả. Bạn đang trải nghiệm với tâm sáng tỏ nhất có thể, rằng ở đây không có người nào cả, và phúc lạc tuôn trào trên con đường tới niết bàn của bạn.

BÀI 4

KHỔ LÀ VẤN ĐỀ

Đức Phật đã từng nói: “Khổ phải được thấu hiểu trọn vẹn”. Hầu hết mọi người cho rằng chấm dứt ý thức là một kiểu tự sát tinh thần. Nhưng mấu chốt là ở chỗ, nếu không làm vậy, bạn chịu khổ chẳng khác nào trong địa ngục. Bạn có một lựa chọn: có thể tiếp tục khổ, hoặc thành tựu niết bàn. Khi hiểu bốn chân lý cao quý và nỗi khổ cố hữu của sự tồn tại, bạn thấy rằng niết bàn thực sự là lựa chọn duy nhất.

Khi sự thèm khát bộc lộ, khổ nảy sinh. Khổ là một vấn đề mà bạn cảm thấy buộc phải làm điều gì đó, nó khiến bạn dịch chuyển từ chỗ này đến chỗ kia. Khổ điều khiển thế gian chạy lòng vòng - nếu bạn không khổ, nếu hoàn toàn mãn nguyện, bạn đã không cần dịch chuyển. Điều đó lý giải tại sao càng hài lòng và hạnh phúc, bạn càng tĩnh lặng. Lý do các trạng thái thiền lại là những trạng thái tĩnh lặng như vậy là bởi có sự an lạc lớn đến mức không có nhu cầu dịch chuyển, không có nhu cầu tìm hạnh phúc ở đâu khác. Mức độ dịch chuyển về cơ thể hoặc tinh thần chính là dấu hiệu cho thấy bạn đang chịu khổ như thế nào. Nếu càng khổ, bạn càng bất an. Nếu không có hay rất ít khổ, bạn có thể ngồi hàng giờ, an bình và tĩnh lặng. Tại sao? Vì khi không có vấn đề thì không có gì để làm.

Vậy khổ là thứ khiến bạn tiếp tục đi từ chỗ này tới chỗ kia, từ tái sinh này tới tái sinh khác, cố gắng làm một thứ gì đó. Cố gắng tìm ra một giải pháp cho khổ chính là ý nghĩa của cuộc sống, nhưng sự chấp dứt khổ không thể tìm được trong thế gian hay luân hồi. Không có cõi trời hay cõi an lạc nào bạn có thể sống hạnh phúc mãi mãi; và nếu suy nghĩ thấu đáo, bạn sẽ thấy một cõi vui sướng như vậy về bản chất là không thể tồn tại. Hãy lấy những thỏa mãn cao nhất trong đời làm ví dụ: nếu lúc nào cũng chìm đắm trong nó, sau một thời gian bạn trở nên chán. Nó chỉ là một thứ lặp đi lặp lại. Bạn không thể lúc nào cũng chỉ có vui, vì bất kỳ niềm vui nào cũng phụ thuộc vào thứ đến trước nó. Nếu xem xét kỹ vui là gì, bạn sẽ thấy nó chỉ là sự ngừng lại của hai thời khổ. Lý do bạn vui sướng tận hưởng thức ăn ngon là vì trước đó chưa ăn một thời gian, và sau đó không ăn. Nếu cứ tiếp tục nhồi nhét thức ăn ấy hai mươi bốn giờ mỗi ngày, liệu bạn còn dám nghĩ đến việc thưởng thức món ăn đó nữa không? Một cõi trời chỉ có vui vẻ kéo dài mãi đơn giản không thể tồn tại, bởi bạn chỉ cảm nhận được niềm vui khi đã trải qua khổ trước đó. Nói cách khác, không bao giờ có sự hài lòng hoàn toàn và bất biến trong thế gian này.

Nếu bạn hỏi mọi người liệu họ có thật sự hài lòng không, đừng vội tin câu trả lời của họ. Hãy quan sát để thấy họ đã thật sự tìm được sự diệt khổ chưa, hay chỉ đang tạm trốn tránh nó một lúc? Tôi gặp những người bệnh, những người sắp chết, những người gặp đủ thứ vấn đề bạn có thể hình dung ra. Tôi cũng gặp những người hạnh phúc, nhưng tôi biết, đó chẳng qua chỉ là sự tạm dừng giữa hai thời khổ. Dù cuộc đời họ có vui vẻ bao nhiêu, thì cuối cùng, họ cũng sẽ mắc bệnh, đau đớn và chết. Một số người có tuổi thơ hạnh phúc, nhưng lớn lên có thể sẽ rất khổ sở. Những người có tuổi thơ như địa ngục, và trong kiếp sống tiếp theo họ có thể gặp lại những bậc cha mẹ tồi tệ như thế, thậm chí còn tệ hơn. Kiểu suy ngẫm này có lẽ đủ để khiến bạn sợ tái sinh. Bạn thông minh, tạo thiện nghiệp trong đời này không có nghĩa trong tương lai sẽ được giải thoát khỏi khổ. Ai cũng có một kho chứa khổng lồ cả nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu; tương lai luôn không có gì chắc chắn.

Một trong những lời dạy của Đức Phật mà tôi ưa thích là ẩn dụ về cây gậy. Lần đầu tiên đọc, tôi gần như rùng mình vì sợ. Ẩn dụ này nói rằng nghiệp chín muồi lúc lâm chung cũng không chắc chắn, y như đầu nào của cây gậy sẽ tiếp đất trước nếu nó bị quăng lên không trung. Một cây gậy có thể có đầu nặng đầu nhẹ, và đầu nặng có khả năng tiếp đất trước hơn. Nhưng dù đầu nặng có nặng thế nào thì luôn có khả năng đầu nhẹ sẽ chạm đất trước. Tương tự, dù bạn tạo ra rất nhiều nghiệp tốt bằng cách rộng lượng, giữ giới, nhân từ, thanh tịnh và hành thiền, luôn có khả năng nghiệp xấu sẽ chín muồi lúc lâm chung. Mỗi người đều lưu giữ các nghiệp xấu - nếu không phải đời này cũng từ những kiếp trước. Ngay cả nếu nghiệp xấu không chín muồi lúc bạn qua đời lần này, chừng nào còn ở trong luân hồi, cuối cùng bạn vẫn phải nếm lấy cái khổ không kể xiết ở lần tiếp theo - trong địa ngục, trong cảnh giới súc sinh, và trong hoàn cảnh khó khăn nếu làm người. Bạn chỉ an toàn nếu thấu tỏ vô ngã và trở thành người nhập lưu.

BÀI 5

CẢM GIÁC VỀ "CÁI TÔI" LÀ VẤN ĐỀ GỐC RỄ

Luân hồi thật đáng sợ. Bạn không có thời gian để lãng phí đâu, đừng làm việc tào lao. Nếu bạn đã bắt đầu buông bỏ mà lại có ý định trở lại các tham luyến thế gian, đó là một điều hoàn toàn điên rồ. Thứ duy nhất nên làm là tiếp tục tu tập và chỉnh đốn lại hành động. Không chỉ là việc đạt được thiền định hay trở nên tĩnh lặng, mặc dù đó cũng là một phần cốt yếu. Vấn đề thực sự là thấy được và hiểu được con người bên trong này là ai, hay đúng hơn, nó là thứ gì. Cái gì luôn tạo ra sự kích động, luôn đến và đi? Cái gì thất vọng? Cái gì suy nghĩ? Cái gì bực bội, cái gì giận dữ? Cái gì là nguồn gốc của vấn đề này? Hãy liên tục nhìn theo hướng người trải nghiệm: cái gÌ cảm thấy đau đớn hay dễ chịu? Ý muốn đến từ đâu khi “tôi” chọn thứ gì đó? Khi tâm xáo động và tìm kiếm thứ gì đó, thực ra cái gì đang tìm kiếm? Bạn càng sử dụng tĩnh lặng đã trau dồi trong thiền định để tìm hiểu quá trình ấy, nó càng trở nên rõ ràng hơn.

Hãy cẩn thận, đừng nhìn ra đâu đó ngoài kia thay vì nhìn vào trong này, vào những gì bạn đang dính mắc, vào cái gì đang có sự dính mắc. Hãy nhìn vào nơi những thứ này bắt nguồn, cụ thể, tập trung vào các mối quan hệ nhân quả. Ý nghĩ đến từ đâu? Quán sát liên tục và bạn sẽ thấy, chúng đến từ cảm giác về nhân dạng bản thân và ham muốn của bạn nhằm hỗ trợ, tạo dựng nhân dạng ấy, một cảm giác về "cái tôi" hiện hữu. Không phải là “Tôi suy nghĩ, nên tôi tồn tại”, mà ngược lại: bạn muốn tồn tại, nên bạn suy nghĩ. Bạn dịch chuyển để tạo ra thế giới, tạo ra nhân dạng của mình. Rồi bạn chìm đắm vào nó.

Khi bạn tạo ra thứ gì đó, ban đầu nó đẹp đẽ; nhưng giống như trong câu chuyện cổ tích, mọi tạo tác cuối cùng quay ra chống lại người tạo ra chúng. Tôi đã làm rất nhiều để xây dựng tu viện Bodhinyana, và cũng có thể nói nó là tạo tác của tôi. Nhưng nếu tôi không cẩn thận, tạo tác này kết cục có thể chi phối tôi: tôi sẽ ngày đêm lo nghĩ về tu viện. Nếu bạn tìm được người bạn đời, ban đầu bạn nghĩ bạn sở hữu người ấy, nhưng sau một thời gian, bạn phát hiện người ấy sở hữu bạn. Khi bạn đã đánh mất quyền năng và tự do, tạo tác của bạn sẽ dần dần bào mòn bạn. Vậy nên thay vì tạo ra, thay vì muốn tồn tại, hãy khát khao sự tĩnh lặng. Khi bạn trở nên lắng dịu và bình an, tâm cũng trở nên phẳng lặng, không va đập, không vấn đề, không khổ, không có nhu cầu tạo dựng một cảm giác nhân dạng cho bản thân. Bạn làm mọi thứ lắng xuống bằng cách tĩnh lặng sự tạo tác. Khi sự thèm khát, ham muốn và chọn lựa đã tan đi, sự hiện hữu về "cái tôi" cũng biến mất.

BÀI 6

NẾU MUỐN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC, HÃY BIẾN MẤT

Khi tu tập theo con đường này, bạn đang biến mất từ từ. Nếu hiểu ý tưởng về sự tiêu tan và biến mất, hay nói cách khác, sự tĩnh lặng và an bình, bạn đang bắt hiểu về anatta, Vô ngã. Đó là bởi bạn càng lắng dịu thì càng ít tồn tại, càng ít có cảm giác về “cái tôi”. Điều này có vẻ lạ lùng, nhưng thật ra rất đẹp đẽ. Trên thực tế nó là hạnh phúc đích thực duy nhất có ở đó, bởi lẽ càng buông bỏ cảm giác về một “cái tôi”, bạn càng giải thoát khỏi khổ dưới mọi hình tướng của nó. Và chính sự nghiêng về giải thoát khỏi khổ sẽ dẫn bạn tiến xa hơn trên chặn đường đạo pháp. Nó có thể mất nhiều năm hoặc chỉ vài năm, nhưng cuối cùng, duy nhất có ý nghĩa để làm là kiên nhẫn đi trên con đường, tìm sự giải thoát trong hạnh phúc, có được bởi những gì biến mất.

Trong đời sống tu sĩ, một phần của sự biến mất ấy là không có bất kỳ dấu hiệu nào để tách biệt các tu sĩ. Chúng tôi có khuynh hướng giữ im lặng. Tại sao mọi người nói chuyện? Họ nói chuyện để có thể bắt đầu bằng danh xưng “Tôi…”. Khi yên lặng, chúng ta biến mất, tan vào hậu cảnh cho đến khi hầu như không còn ai biết ta ở đó, kể cả bản thân ta. Càng biến mất, bạn càng hạnh phúc; càng tiêu tan, bạn càng trải nghiệm niềm vui; càng ít tồn tại, bạn càng cảm thấy nhiều phúc lạc. Điều này khiến cho bạn biết Pháp rốt cục là gì. Nhưng lời nói chẳng thấm vào đâu so với mức độ sâu xa mà khi trải ngiệm mang lại.

BÀI 7

TĨNH HÓA HOÀN TOÀN Ý MUỐN

Cuối cùng bạn sẽ tĩnh lặng tới mức tâm bất động, bạn trải nghiệm phúc lạc do không bị quấy rầy bởi ý muốn. Từ những trải nghiệm ấy, đặc biệt giai đoạn nhị thiền, bạn thấy rõ rằng điều chúng ta gọi là “ý muốn” hay “chọn lựa” là một kẻ hành hạ bạn, đốt cháy bạn. Nhưng hầu hết mọi người cứ ôm ấp ý muốn: Họ muốn được chọn lựa, họ muốn làm theo những đam mê thích thú của mình. Họ không nhận ra mình đang bị cảm giác về “cái tôi” lừa dối.

Khi tọa thiền trong hang đá, trong túp lều hay trong căn phòng, không ham muốn bất cứ điều gì, cảm giác ấy thật tuyệt vời. Nếu có ai đó hỏi bạn cần gì không, bạn cũng không quan tâm. Hãy tưởng tượng bạn có một vị thần trong cái chai, ban cho bạn ba điều ước - bất kỳ điều ước nào bạn có thể nghĩ ra - và một cách hoàn toàn thật lòng, bạn nói: “Không, cảm ơn”. Nếu chuyện xảy ra như vậy, bạn đã thoát khỏi ham muốn. Sự giải thoát ấy là một trạng thái tâm đẹp đẽ. Trong một kỳ an cư, có thể bạn đã từng thấy mình tọa thiền trong phòng hoặc thiền hành trên đường, không muốn ở bất kỳ đâu khác trên thế gian này. Cảm giác ấy thật tuyệt vời! Vẻ đẹp ấy là kết quả của tự do. Bạn không muốn đi bất cứ đâu; bạn không cần bất kỳ thứ gì; không có gì thiếu cả. Khi ham muốn biến mất, một trạng thái yên bình sinh ra.

Bạn hiểu rằng, ham muốn và kết quả của nó - sự tác ý - là một phần trong sự biểu lộ của khổ. Ý muốn là kẻ tra tấn, nó bào mòn trí não, nó đưa bạn đi tới đi lui, xoay qua xoay lại. Đôi lúc mọi người cố gắng dừng ý muốn, cố gắng dừng suy nghĩ. Nhưng chính hành động cố gắng dừng ấy cũng thúc đẩy thêm ý muốn. Đè nén ý muốn chỉ gây kích động, ngăn cản không cho sự tĩnh lặng đích thực xảy ra.

Bạn phải chịu đựng thực hiện nghĩa vụ của mình trên đời. Nhưng nếu bạn càng có thể không làm gì, không có trách nhiệm gì, sẽ càng tốt hơn. Có thể bạn xem như vậy là lười biếng, nhưng chừng nào vẫn đang làm mọi việc, bạn sẽ không thực sự biết “lười biếng” nghĩa là gì. Sự “lười biếng” thực sự, sự nghỉ ngơi thực sự, không phải là cơ thể bạn nằm xuống và hưởng thụ, mà là tâm nằm xuống, không làm gì, không tạo ra gì - tâm đã được làm cho tĩnh lặng và dừng lại. Khi thực chứng điều đó, bạn biết “lười biếng” thực sự chính là sự tĩnh lặng của tâm, là các trạng thái thiền sâu kéo dài, trong ấy mọi thứ bất động. Đây là trạng thái đáng kinh ngạc, khi 99% cảm giác về cái tôi đã biến mất, Khi có sự tĩnh lặng vững chắc như đá, không lay chuyển. Sau đấy, khi xuất thiền, bạn nhận ra ý muốn đã tĩnh lặng, bởi chỉ khi ý muốn đã lặng hoàn toàn mới có sự bất động. Khi không có chuyển động, ở đó có một trạng thái phúc lạc khó tin - thật tự do. Bạn đã hiểu rằng, sự tác ý là kẻ tra tấn, ngăn cản hạnh phúc và an lạc.

BÀI 8

TRẢI NGHIỆM TRỌN VẸN VÔ NGÃ

Có hai thành trì ảo tưởng về “cái tôi”: cho rằng mình là “người làm” và cho rằng mình là “người biết”. Hầu hết mọi người cho rằng “biết” và “làm” là nơi họ đưa ra sự kiểm soát hoàn toàn với bản thân và đời sống. Nhưng khi tu tập, bạn bắt đầu thấy việc cố gắng kiểm soát mọi thứ cũng chỉ gây thêm khó khăn và đau khổ. Sau một thời gian, bạn nhận ra không có hy vọng tìm được sự hài lòng nào bằng con đường kiểm soát mọi thứ theo như ý muốn.

Nếu bắt đầu hiểu rõ những lời dạy trong kinh văn, bạn chuyển sang một hướng khác. Ý muốn từ đó bắt đầu biến mất, và bạn cảm thấy thú vị. Thực chứng ngày càng sâu thêm; bạn tĩnh lặng hơn, thêm nhiều thứ tan đi. Bạn đang đi trên con đường của Đức Phật đã đi. Khi có nhiều thứ biến mất, bạn hiểu rằng ngay từ đầu mình đã không thể sở hữu chúng. Bạn hiểu ham muốn là khổ, không phải con đường thoát khổ; bạn cũng hiểu cố gắng kiểm soát cuộc đời là nguyên nhân dẫn đến khổ. Bạn buông xả kiểm soát, bản ngã tan đi, cảm giác về “cái tôi” biến mất, mọi thứ trở nên tĩnh lặng, và bạn tan biến. Cuối cùng là an lạc. Khi ấy bạn đã hiểu thế nào là vô ngã.

Nếu đã thật sự hiểu vô ngã, bạn có thể gọi mình là người nhập lưu, một người đang đi trên con đường giải thoát. Một khi thấy rõ điều đó, bạn không bao giờ quên, và hiểu biết ấy chỉ lối cho mọi quá trình thân và tâm. Bạn biết rằng ý muốn không liên quan tới bạn, năm thức và ý thức cũng vậy. Bạn không còn ham muốn trải nghiệm điều này điều khác, có được thứ này thứ kia trong đời sống.

Chúng ta hay hiểu sai về bản chất thật của cuộc sống. Đức Phật dạy, những gì người bình thường nói là hạnh phúc, thì bậc giác ngộ nói là khổ; những gì bậc giác ngộ nói là hạnh phúc, người bình thường lại nói là khổ! Hạnh phúc của bậc giác ngộ là sự an bình, tĩnh lặng và đoạn diệt mọi phiền não. Hãy xem đời sống trong tu viện: bạn dậy sớm, ăn một hoặc hai bữa mỗi ngày, không xem phim ảnh. Khi ai đó hỏi tại sao tu sĩ làm những điều này, câu trả lời chính xác là: vì nó hạnh phúc. Người bình thường thấy ai đó dành hai, ba tuần hoặc cả đời sống một mình trong một túp lều nơi rừng núi, không nói chuyện với người khác, người ta gọi đó là sự giam hãm đơn độc trong ngục tù, nói là sự trừng phạt. Nhưng cái họ nói ngục tù ấy chính là sự phúc lạc của người giác ngộ. Nếu bạn thực sự có trí huệ của một người nhập lưu, bạn sẽ có cách nhìn hoàn toàn khác: cách nhìn của Đức Phật.

Khi đã thấy sự thèm khát chẳng qua là do cảm giác về một nhân dạng, một “cái tôi” được tạo ra, bạn không còn thấy khó tĩnh hóa ý muốn nữa. Ý muốn được tĩnh hóa, an lạc khởi lên. Đức Phật nói chỉ vài người trên thế gian có thể hiểu sự an định hoàn toàn các hành - bạn phải là người nhập lưu mới hiểu. Vậy hãy ẩn dật, ngồi và không nghĩ gì, xả bỏ ham muốn, giữ sự tĩnh lặng. Khi ở một mình, không có gì nhiều để nhận thức, không có gì nhiều để ham muốn, không cần đòi hỏi, một người hầu như không để lại dấu chân trên đời.

Hãy buông bỏ thế gian - đừng để nó ràng buộc, từ đó chính bạn cũng được giải thoát. Nếu xả bỏ, bạn có thể tĩnh lặng và an lạc ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Đây là con đường thực chứng vô ngã, con đường xả bỏ mọi thứ, con đường chấm dứt khổ và ra khỏi luân hồi.

Đi khắp thế gian để mưu cầu hạnh phúc là điều vô nghĩa. Rồi đến lúc cơ thể bạn hoàn toàn biến mất. Khi có một nhật thức trọn vẹn và bao trùm rằng mình thực sự chỉ là sự trống rỗng, bạn từ bỏ sự dính mắc đến mọi thứ ở thế gian, kể cả ý nghĩ và ham muốn. Không có gì ở đó, không có gì tái sinh. Hạt giống tái sinh đã bị trừ bỏ, không có gì mới được tạo ra. Đây là trải nghiệm niết bàn, là giải thoát và bình an tối hậu.

8 thg 9, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 9 - BÀI 8

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 9

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT

BÀI 8

TRẢI NGHIỆM TRỌN VẸN VÔ NGÃ

Có hai thành trì ảo tưởng về “cái tôi”: cho rằng mình là “người làm” và cho rằng mình là “người biết”. Hầu hết mọi người cho rằng “biết” và “làm” là nơi họ đưa ra sự kiểm soát hoàn toàn với bản thân và đời sống. Nhưng khi tu tập, bạn bắt đầu thấy việc cố gắng kiểm soát mọi thứ cũng chỉ gây thêm khó khăn và đau khổ. Sau một thời gian, bạn nhận ra không có hy vọng tìm được sự hài lòng nào bằng con đường kiểm soát mọi thứ theo như ý muốn.

Nếu bắt đầu hiểu rõ những lời dạy trong kinh văn, bạn chuyển sang một hướng khác. Ý muốn từ đó bắt đầu biến mất, và bạn cảm thấy thú vị. Thực chứng ngày càng sâu thêm; bạn tĩnh lặng hơn, thêm nhiều thứ tan đi. Bạn đang đi trên con đường của Đức Phật đã đi. Khi có nhiều thứ biến mất, bạn hiểu rằng ngay từ đầu mình đã không thể sở hữu chúng. Bạn hiểu ham muốn là khổ, không phải con đường thoát khổ; bạn cũng hiểu cố gắng kiểm soát cuộc đời là nguyên nhân dẫn đến khổ. Bạn buông xả kiểm soát, bản ngã tan đi, cảm giác về “cái tôi” biến mất, mọi thứ trở nên tĩnh lặng, và bạn tan biến. Cuối cùng là an lạc. Khi ấy bạn đã hiểu thế nào là vô ngã.

Nếu đã thật sự hiểu vô ngã, bạn có thể gọi mình là người nhập lưu, một người đang đi trên con đường giải thoát. Một khi thấy rõ điều đó, bạn không bao giờ quên, và hiểu biết ấy chỉ lối cho mọi quá trình thân và tâm. Bạn biết rằng ý muốn không liên quan tới bạn, năm thức và ý thức cũng vậy. Bạn không còn ham muốn trải nghiệm điều này điều khác, có được thứ này thứ kia trong đời sống.

Chúng ta hay hiểu sai về bản chất thật của cuộc sống. Đức Phật dạy, những gì người bình thường nói là hạnh phúc, thì bậc giác ngộ nói là khổ; những gì bậc giác ngộ nói là hạnh phúc, người bình thường lại nói là khổ! Hạnh phúc của bậc giác ngộ là sự an bình, tĩnh lặng và đoạn diệt mọi phiền não. Hãy xem đời sống trong tu viện: bạn dậy sớm, ăn một hoặc hai bữa mỗi ngày, không xem phim ảnh. Khi ai đó hỏi tại sao tu sĩ làm những điều này, câu trả lời chính xác là: vì nó hạnh phúc. Người bình thường thấy ai đó dành hai, ba tuần hoặc cả đời sống một mình trong một túp lều nơi rừng núi, không nói chuyện với người khác, người ta gọi đó là sự giam hãm đơn độc trong ngục tù, nói là sự trừng phạt. Nhưng cái họ nói ngục tù ấy chính là sự phúc lạc của người giác ngộ. Nếu bạn thực sự có trí huệ của một người nhập lưu, bạn sẽ có cách nhìn hoàn toàn khác: cách nhìn của Đức Phật.

Khi đã thấy sự thèm khát chẳng qua là do cảm giác về một nhân dạng, một “cái tôi” được tạo ra, bạn không còn thấy khó tĩnh hóa ý muốn nữa. Ý muốn được tĩnh hóa, an lạc khởi lên. Đức Phật nói chỉ vài người trên thế gian có thể hiểu sự an định hoàn toàn các hành - bạn phải là người nhập lưu mới hiểu. Vậy hãy ẩn dật, ngồi và không nghĩ gì, xả bỏ ham muốn, giữ sự tĩnh lặng. Khi ở một mình, không có gì nhiều để nhận thức, không có gì nhiều để ham muốn, không cần đòi hỏi, một người hầu như không để lại dấu chân trên đời.

Hãy buông bỏ thế gian - đừng để nó ràng buộc, từ đó chính bạn cũng được giải thoát. Nếu xả bỏ, bạn có thể tĩnh lặng và an lạc ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Đây là con đường thực chứng vô ngã, con đường xả bỏ mọi thứ, con đường chấm dứt khổ và ra khỏi luân hồi.

Đi khắp thế gian để mưu cầu hạnh phúc là điều vô nghĩa. Rồi đến lúc cơ thể bạn hoàn toàn biến mất. Khi có một nhật thức trọn vẹn và bao trùm rằng mình thực sự chỉ là sự trống rỗng, bạn từ bỏ sự dính mắc đến mọi thứ ở thế gian, kể cả ý nghĩ và ham muốn. Không có gì ở đó, không có gì tái sinh. Hạt giống tái sinh đã bị trừ bỏ, không có gì mới được tạo ra. Đây là trải nghiệm niết bàn, là giải thoát và bình an tối hậu.


7 thg 9, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 9 - BÀI 7

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 9

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT

BÀI 7

TĨNH HÓA HOÀN TOÀN Ý MUỐN

Cuối cùng bạn sẽ tĩnh lặng tới mức tâm bất động, bạn trải nghiệm phúc lạc do không bị quấy rầy bởi ý muốn. Từ những trải nghiệm ấy, đặc biệt giai đoạn nhị thiền, bạn thấy rõ rằng điều chúng ta gọi là “ý muốn” hay “chọn lựa” là một kẻ hành hạ bạn, đốt cháy bạn. Nhưng hầu hết mọi người cứ ôm ấp ý muốn: Họ muốn được chọn lựa, họ muốn làm theo những đam mê thích thú của mình. Họ không nhận ra mình đang bị cảm giác về “cái tôi” lừa dối.

Khi tọa thiền trong hang đá, trong túp lều hay trong căn phòng, không ham muốn bất cứ điều gì, cảm giác ấy thật tuyệt vời. Nếu có ai đó hỏi bạn cần gì không, bạn cũng không quan tâm. Hãy tưởng tượng bạn có một vị thần trong cái chai, ban cho bạn ba điều ước - bất kỳ điều ước nào bạn có thể nghĩ ra - và một cách hoàn toàn thật lòng, bạn nói: “Không, cảm ơn”. Nếu chuyện xảy ra như vậy, bạn đã thoát khỏi ham muốn. Sự giải thoát ấy là một trạng thái tâm đẹp đẽ. Trong một kỳ an cư, có thể bạn đã từng thấy mình tọa thiền trong phòng hoặc thiền hành trên đường, không muốn ở bất kỳ đâu khác trên thế gian này. Cảm giác ấy thật tuyệt vời! Vẻ đẹp ấy là kết quả của tự do. Bạn không muốn đi bất cứ đâu; bạn không cần bất kỳ thứ gì; không có gì thiếu cả. Khi ham muốn biến mất, một trạng thái yên bình sinh ra.

Bạn hiểu rằng, ham muốn và kết quả của nó - sự tác ý - là một phần trong sự biểu lộ của khổ. Ý muốn là kẻ tra tấn, nó bào mòn trí não, nó đưa bạn đi tới đi lui, xoay qua xoay lại. Đôi lúc mọi người cố gắng dừng ý muốn, cố gắng dừng suy nghĩ. Nhưng chính hành động cố gắng dừng ấy cũng thúc đẩy thêm ý muốn. Đè nén ý muốn chỉ gây kích động, ngăn cản không cho sự tĩnh lặng đích thực xảy ra.

Bạn phải chịu đựng thực hiện nghĩa vụ của mình trên đời. Nhưng nếu bạn càng có thể không làm gì, không có trách nhiệm gì, sẽ càng tốt hơn. Có thể bạn xem như vậy là lười biếng, nhưng chừng nào vẫn đang làm mọi việc, bạn sẽ không thực sự biết “lười biếng” nghĩa là gì. Sự “lười biếng” thực sự, sự nghỉ ngơi thực sự, không phải là cơ thể bạn nằm xuống và hưởng thụ, mà là tâm nằm xuống, không làm gì, không tạo ra gì - tâm đã được làm cho tĩnh lặng và dừng lại. Khi thực chứng điều đó, bạn biết “lười biếng” thực sự chính là sự tĩnh lặng của tâm, là các trạng thái thiền sâu kéo dài, trong ấy mọi thứ bất động. Đây là trạng thái đáng kinh ngạc, khi 99% cảm giác về cái tôi đã biến mất, Khi có sự tĩnh lặng vững chắc như đá, không lay chuyển. Sau đấy, khi xuất thiền, bạn nhận ra ý muốn đã tĩnh lặng, bởi chỉ khi ý muốn đã lặng hoàn toàn mới có sự bất động. Khi không có chuyển động, ở đó có một trạng thái phúc lạc khó tin - thật tự do. Bạn đã hiểu rằng, sự tác ý là kẻ tra tấn, ngăn cản hạnh phúc và an lạc.


Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***