Thích Nhật Từ
Kinh “Lời dạy cuối cùng của đức
Phật” được biên soạn với dụng ý thay thế thời Kinh Công
phu Khuya trong các chùa Phật giáo Bắc tông, vốn nhấn mạnh đến
“thần chú” như phương tiện thanh tịnh hóa thân tâm. Kinh
này còn được gọi là Kinh di chúc của Phật trước lúc Ngài qua đời tại
rừng Ta-la song thọ, Kushinagar.
Bài kinh được xem là tinh hoa tâm linh của người xuất gia, như ngón tay chỉ mặt trăng và như chiếc bè đưa sang bờ giải thoát. Ứng dụng Kinh này trong đời sống có khả năng chuyển hóa phàm tình thành thánh trí. Thực tập kinh này có khả năng giúp hành giả đi đúng chánh đạo, với kết quả an lạc, hạnh phúc bây giờ và tại đây. (Thích Nhật Từ)
*
Chính tôi được nghe như vầy: Lần chuyển bánh xe chánh pháp đầu
tiên, Đức Thế Tôn độ tôn giả Kiều-Trần-Như và lần thuyết
pháp sau cùng, Ngài độ tôn giả Tu-Bạt-Đà-La. Những người có
thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Vào đêm cuối trước ngày
Niết-bàn vô dư, giữa rừng Sa-la, dưới cây song thọ, không gian thật vắng
lặng, yên tĩnh, Đức Phật đã nhắn nhủ những điều cốt lõi của chánh
pháp như sau. O
*
1. Này các đệ tử,
sau khi Như Lai qua đời, các vị phải trân trọng, cung kính giới
luật như kẻ nghèo hèn được giàu có, như kẻ đui mù được sáng mắt. Phải
biết rằng giới luật là bậc Thầy tối thượng. Dẫu có sống thêm ở
đời bao nhiêu năm nữa, Như Lai cũng không ngoài mục đích răn
dạy các vị về giới luật ấy thôi. O
Người giữ giới thì không được kinh doanh, thương
mại, xây dựng nhà cửa, cày cấy ruộng vườn, đầu tư nông nghiệp, thuê
người giúp việc, theo kiểu thế tục. Không được chặt đốn cây cối, đào đất,
móc hang, điều chế dược liệu, đoán quẻ tốt xấu, xem sao đoán
mạng, nghiên cứu địa lý, tìm tòi hưng suy, hay coi lịch
đoán số. O
Các vị nên sống tiết chế thân mạng, ăn uống điều
độ, duy trì nếp sống thanh cao, giải thoát. Không tham
dự chính trị, lãnh sứ mạng liên lạc, thông tin. Không được luyện
bùa chú, chế linh dược, giao hảo người quyền quý, kết
thân kẻ ngạo mạn. Cần phải giữ tâm chân thật,
sống chánh niệm và tỉnh thức trong từng phút giây, mong cầu đạo quả giải
thoát. Không được che dấu lỗi lầm, bày điều mê hoặc để thu
hút quần chúng. Phải sống ít muốn, biết đủ đối với bốn phẩm vật cúng
dường. Sống vừa đủ để hành đạo, không cất chứa tài sản và
tiền bạc. O
Như Lai vừa nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới
luật đó là căn bản, là gốc rễ của giải thoát. Nhờ giữ giới trang
nghiêm, thiền định và trí tuệ phát sanh, có thể tiêu
diệt sự đau khổ. Thế nên các vị hãy giữ gìn giới luật một
cách trọn vẹn. Người giữ giới thanh tịnh sẽ nuôi lớn pháp
lành. Người thiếu mất giới thì không thể phát sinh công đức. O
*
2. Này các đệ tử,
các vị phải chế ngự năm giác quan không để chúng dong ruổi
theo trần cảnh, dục lạc. Người tu phải như chú mục đồng cầm
roi chăn, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người. Một khi các vị buông
lung năm giác quan, không những các vị không chế ngự được
năm thứ dục lạc, mà các vị cũng không thể dừng được vòng cương toả
của phóng túng, như con ngựa chứng nếu không dây cương, nó sẽ
lao xuống hầm hố. Nạn khổ của giặc cướp chỉ có một đời, trong khi nạn
giặc giác quan làm chúng sanh đau khổ nhiều
kiếp. Tai họa của nó vô cùng nguy hiểm. Các vị phải cẩn
thận. O
Thế nên, người có trí cần phải chế ngự các giác
quan chứ không phục tùng nó; giữ gìn chúng như là canh chừng
giặc cướp, không để chúng hoành hành, thao túng.
Này các đệ tử, trong các giác quan của con
người, ý là quan trọng nhất. Các vị phải thận trọng chế ngự tâm
ý mình. Tâm ý rất đáng sợ, nguy hiểm còn hơn thú dữ, rắn độc,
thậm chí nguy hại hơn cả nạn hỏa hoạn. Cũng như có người mải mê cầm giữ chén
mật trên tay và quên đi hầm hố trên đường, sẽ bị vấp ngã. Cũng như voi say
mà không có móc sắt; như khỉ vượn gặp được cây rừng tha hồ mà
chuyền nhảy, muốn chế ngự chúng thì thật là khó. Vì vậy các
vị siêng năng chế ngự tâm mình, để giữ gìn tất cả các pháp
thiện. Khi tâm được chế ngự một chỗ thì không việc gì không thành. O
*
3. Này các đệ tử,
khi thọ dụng phẩm vật cúng dường, các vị nên quan niệm như
uống thuốc. Ngon không ham, dở không chê. Ăn uống chỉ để cho
khỏi đói khát. Như ong hút mật trong hoa, chỉ lấy mùi vị, không
làm tổn thương hương sắc. Người xuất gia cũng vậy: thọ
dụng sự cúng dường để đủ sức khoẻ tu tập, không
được ham cầu quá nhiều, làm tổn thất tín tâm của tín thí.
Hãy như người trí biết lượng sức kéo và chịu đựng của trâu, không nên
dùng trâu quá sức, đến nỗi kiệt lực. O
*
4. Này các đệ tử,
ban ngày thì nỗ lực tu tập pháp lành, không để thời gian trôi
qua uổng phí. Đầu hôm, cuối đêm cũng không luống bỏ. Giữa đêm tụng
niệm, tu trì. Đừng vì chuyện ngủ nghỉ mà để cuộc đời trôi qua vô
ích. Hãy tâm niệm rằng ngọn lửa vô thường đang đốt
cháy thế gian, để tự tinh tấn độ mình, khắc phục sự lười biếng,
ngủ nghỉ. Giặc phiền não luôn rình rập giết các vị, còn nguy hiểm
hơn kẻ thù, làm sao các vị có thể mặc tình ngủ nghỉ mà không cảnh
giác ! Phiền não ngủ trong tâm người cũng như rắn độc nằm
trong nhà, phải dùng móc sắt giới hạnh mà lôi kéo nó ra gấp. Rắn
độc ra rồi ta mới an tâm ngủ nghỉ. Rắn độc chưa ra mà
mải mê ngủ nghỉ thì thật là người không biết hổ thẹn. O
Này các đệ tử, sự hổ thẹn là trang sức đẹp nhất
trong mọi trang sức. Sự hổ thẹn có khả năng chế ngự mọi
thứ bất thiện và phi pháp của con người. Thế nên hãy
sống với tâm niệm hổ thẹn, đừng bao giờ lãng quên đức tính ấy. Mất
tâm hổ thẹn là mất tất cả công đức. Có hổ thẹn là có
tất cả thiện pháp. Không hổ thẹn thì có khác chi loài cầm
thú. O
*
5. Này các đệ tử,
nếu có ai xúc phạm, thương tổn thân thể các vị, các vị
nên kiềm chế tâm mình, đừng để lửa sân hận thiêu đốt. Lại
phải giữ lời ăn, tiếng nói, đừng buông lời ác độc để trả đũa ai.
Tâm sân hận trỗi dạy sẽ làm băng hoại đạo nghiệp, cháy
hết công đức tu tập. Đức tánh của kham nhẫn thì giữ
giới và khổ hạnh cũng không thể sánh bằng. Thực hành đức
nhẫn mới xứng danh là bậc Thượng Nhân có sức mạnh. Người nào
chưa có thể chịu đựng sự nhục mạ một cách hoan hỷ, như
uống cam lộ, thì chưa thể xứng danh là người vào đạo có trí. Sự sân
hận sẽ thiêu hủy tất cả pháp lành, nó nguy hiểm hơn lửa dữ. Các
vị phải canh phòng cẩn mật, đừng cho sân hận xâm nhập.
Trong các loại giặc cướp công đức thì sân hận là
nguy hiểm bậc nhất. Người thế gian sống thọ hưởng dục lạc,
thiếu phương pháp chế ngự, nếu có sân hận còn có thể tha
thứ được. Người xuất gia hành đạo loại bỏ mọi thứ vui
của đời mà không loại bỏ được sân hận thì thật đáng
trách, cũng giống như bầu trời quang đãng mà có sấm sét nổi
lên là điều không thích hợp. O
*
6. Này các đệ tử,
các vị hãy tự xoa đầu mình và ghi nhớ rằng: các vị đã bỏ tất cả các mỹ phẩm và
trang sức của thế gian, khoác trên mình chiếc áo cà-sa hoại sắc, sống
bằng cách khất thực. Khi nào tâm lý kiêu mạn, cao ngạo nổi lên
thì lập tức chế ngự nó. Kiêu ngạo là tánh xấu mà thế
nhân còn không nên có, huống chi là người xuất gia vì đạo giải
thoát, sống bằng khất thực hay sao! O
*
7. Này các đệ tử, tâm
lý dua nịnh trái ngược hoàn toàn với đạo giải thoát.
Thế nên, các vị hãy huấn luyện tâm cho thật chất trực. Nên biết
rằng: Dua nịnh là điều dối trá mà người xuất gia không
nên có. Phải làm cho tâm ý đoan chánh, phát huy đức tánh trung trực. Đó
là con đường vào đạo. O
*
8. Này các đệ tử,
các vị nên biết rằng người nào tham muốn nhiều thì nhu cầu lợi dưỡng
cũng nhiều, do vậy mà đau khổ càng tăng. Người ít muốn thì không
ham cầu, không đắm nhiễm nên không có tệ hại ấy. Chỉ với lợi ích ấy
thôi cũng đủ để các vị phải trau dồi, thực tập, huống là khi hạnh này còn
có công năng phát triển các công đức ! Người ít muốn thì
không lấy lòng người bằng cách dua nịnh, lòn cúi và cũng không
bị các giác quan sai sử, thao túng. Hành giả ít muốn,
tâm ý được thanh thản, không còn những ưu tư, phiền muộn, gặp
việc thì đủ nghị lực để ứng phó, không việc gì không làm được.
Nói chung, sống hạnh ít muốn tất gần Niết-bàn. O
*
9. Này các đệ tử,
nếu các vị muốn giải thoát mọi đau khổ thì nên thường
xuyên tu tập quán biết đủ. Pháp biết đủ là cơ sở của sự an lạc, hạnh
phúc và sung mãn. Người biết đủ dẫu nằm trên đất vẫn thấy an lạc.
Người không biết đủ dẫu sống ở thiên đường vẫn chưa thấy toại
nguyện. Không biết đủ tuy giàu mà rất nghèo. Biết đủ thì tuy nghèo nhưng
rất giàu có. Người không biết đủ là kẻ nô lệ của năm thứ dục
lạc thấp kém và còn là tấm bia đời đáng thương xót đối
với hành giả biết đủ. O
*
10. Này các đệ tử,
muốn đạt đạo tịch tịnh, vô vi, an lạc, các vị phải xa lìa những
chốn huyên náo, sống một mình ở những nơi an nhàn, thanh
vắng. Người ở chỗ yên tĩnh thì trời Đế-thích và chư Thiên đều kính
trọng. Vì thế, các vị nên xa lìa hội chúng, sống đơn độc thư
thái và cắt đứt gốc rễ đau khổ bằng tư duy trí tuệ.
Người thích hội chúng thì bị hội chúng nhiễu loạn, như
cây cổ thụ mà có nhiều chim tụ tập thì có thể bị hư
cành. Thế gian trói buộc con người trong đau khổ cũng
giống như con voi già bị sa lầy, khó mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu
thoát, các vị cần ghi tâm. O
*
11. Này các đệ tử, nỗ
lực tinh tấn thì không việc gì khó khăn. Thế nên các vị phải siêng
năng, tinh tấn như giọt nước thường nhỏ có thể xuyên thủng đá.
Người tu hành mà biếng nhác thì khác nào như người cọ cây
lấy lửa, cây chưa kịp nóng đã nghỉ, dầu tha thiết được lửa, lửa cũng không vì
thế mà có được. Hãy siêng năng tinh tấn không dừng. O
*
12. Này các đệ tử, thực
ra cầu cạnh thiện tri thức hay người trợ lực không
bằng tự mình đề cao chánh niệm, tỉnh thức. Có chánh niệm thì
giặc phiền não không thể xâm nhập được.
Thế nên các vị phải sống trong sự nhiếp niệm. Mất chánh
niệm là đồng nghĩa với mất công đức. Có được chánh
niệm bền vững thì dù sống trong môi trường ngũ dục cũng
chẳng hề gì, như người chiến sĩ vào trận có mặc áo giáp thì không còn sợ gì
nữa. O
*
13. Này các đệ tử,
nhiếp phục được tâm ý là làm cho tâm an trụ vào định. Tâm trụ thiền
định thì sẽ thấu triệt được trạng thái sinh diệt, chuyển
biến của thế giới. Các vị phải tinh tấn tu tập thiền định. Tâm
định thì trạng thái chao động, tán loạn sẽ tiêu mất
cũng như người biết cách giữ nước thì phải bảo vệ tốt đê điều. Cũng
vậy, muốn có nước trí tuệ, các vị phải khéo tu tập thiền định,
không để cho rỉ chảy. O
*
14. Này các đệ tử,
có trí tuệ thì không có tham trước, luôn luôn tự tỉnh thức và
tự dò xét, nhờ đó người ấy có khả năng giải thoát trong giáo
pháp của Như Lai. Nếu không có trí tuệ thì không
xứng danh là bậc xuất gia. Trí tuệ là chiếc thuyền vững
chắc vượt qua biển sanh tử, là ngọn đèn sáng chói
trong hắc ám vô minh, là dược liệu thần y của mọi bịnh tật và là lưỡi
búa bén chặt đứt cây phiền não. Vì thế, các vị cần trau dồi tuệ giác “văn,
tư, tu” để tăng trưởng lợi ích. Người có trí tuệ soi chiếu
thì dẫu là mắt thịt vẫn là người chánh kiến, thấy rõ bản
chất mọi vật. O
15. Này các đệ tử, hý
luận chỉ làm cho tâm trí rối loạn. Người xuất gia mà
sống hý luận thì không thể đạt được tuệ giác giải
thoát. Vì thế các vị phải nhanh chóng từ bỏ vĩnh viễn tâm lý hý
luận, vô ích. Diệt trừ các hý luận tạp loạn mới
có thể đạt được an lạc tịch diệt. O
*
16. Này các đệ tử,
hãy thường xuyên nhớ đến các công đức để từ bỏ tất
cả mọi phóng dật, như là tránh xa bọn giặc cướp tài sản thánh. Thể
hiện lòng đại bi, Như Lai đã tuyên nói chánh pháp lợi
ích rốt ráo. Về phần mình, các vị hãy nỗ lực tinh tấn thường
xuyên, đừng để cuộc đời trôi qua vô ích, sau này ăn năn, hối
hận đã muộn. Như Lai như là vị lương y, rõ biết bịnh lý,
cho toa thuốc hợp bịnh trạng từng người. Uống hay không uống không phải là lỗi
của lương y. Như Lai lại cũng như người chỉ đường, chỉ rõ
đâu là con đường nên đi và hướng đến giải thoát. Biết rõ đường
lành mà không chịu cất bước lên đường không phải là lỗi của vị
đạo sư! O
*
17. Này các đệ tử,
đối với bốn chân lý thánh, nếu có chỗ nào chưa thấu đáo, thì nên thưa
hỏi, Như Lai sẽ chỉ bày cho các con.” Thế Tôn khuyên nhắc
ba lần như vậy, bốn chúng đều im lặng, không ai còn thắc mắc. O
Lúc ấy, tôn giả A-nậu-lâu-đà bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn, dù cho mặt trăng có thể trở nên
nóng, mặt trời có trở nên lạnh, nhưng Bốn Chân Lý Thánh
mà Như Lai đã dạy không thể nào thay đổi được. Khổ đế là
thực trạng đau khổ của cuộc đời: sanh là khổ, già là khổ, bệnh
là khổ, chết là khổ, thù ghét mà phải gặp mặt là khổ, thương yêu mà
phải chia lìa là khổ, chấp vào năm nhóm nhân thể là khổ. Diệt đế là trạng
thái hết sạch mọi đau khổ và nguyên nhân đau khổ,
là an lạc, Niết-bàn. Đạo đế là con đường dẫn đến an
lạc, là tám chánh đạo, là trung đạo, không có con đường nào
khác. Bạch Thế Tôn, cả bốn chúng đều không còn thắc mắc gì về
bốn chân lý cao thượng nầy nữa. O
*
18. Lúc bấy giờ trong
chúng, hàng đệ tử hữu học phải đối diện sự kiện Đức
Phật sẽ vô dư Niết-bàn, đều bi cảm, đau xót.
Hàng đệ tử mới vào đạo nghe những lời dạy cuối cùng đều
được hóa độ, như trong đêm tối nhờ có ánh sáng, nên thấy đường đi. Các
hàng đệ tử vô học đã dứt sạch các phiền não, vượt ra
khỏi sanh tử, vẫn không ngăn được sự ngậm ngùi: “Tại sao Đức Thế
Tôn vô dư Niết-bàn quá sớm ! Lúc đó, Đức Phật vì
thương bốn chúng nên dạy thêm rằng: O
- Này các đệ tử, chớ có thảm sầu, đau xót.
Dẫu Như Lai có sống thêm ở đời một kiếp nữa, rồi cũng phải đến ngày
Niết-bàn. Hội ngộ mà không chia tay; kết hợp mà không tan rã là điều
không thể có được. O
Đối với Như Lai, kinh nghiệm và pháp thức lợi
mình, lợi người, Như Lai đều đã tuyên bố. Thật chẳng có lợi
ích gì, nếu Như Lai sống lâu nơi đời mà các vị không thực
hành chánh pháp. Những chúng sanh đáng độ, Như Lai đã
độ hết. Những chúng sanh chưa được độ, Như Lai cũng đã
tạo nhân duyên để họ được hóa độ. Từ nay trở đi, đệ tử của Như
Lai hãy noi theo truyền thống chánh pháp mà thực hành.
Đó là cách làm cho pháp thân Như Lai thường còn, và mãi mãi bất
diệt ở thế gian. Như Lai vô dư Niết-bàn hay không,
việc đó không quan trọng. O
Này các đệ tử, các vị nên nhận thức rằng mọi
vật thể, hiện tượng trên thế gian này đều chuyển
biến, vô thường, có kết hợp thì phải có tan rã, chẳng có gì
để quyến luyến, thương tâm. Cuộc đời là như thế, các vị
phải nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát. Dùng ánh sáng
trí tuệ để tiêu diệt bóng tối si mê. Đời là một sự vận
hành không kiên định. Như Lai vô dư Niết-bàn như bỏ đi
một căn bệnh dữ. Đó là năm nhóm nhân tính, mang tính tội lỗi,
tạm gọi là thân, vì thế, nó phải chịu sự chi phối không thương
tiếc của già, bệnh và chết. Bậc tuệ trí khi thoát khỏi nó
có cảm tưởng như là dẹp xong được bọn cướp. Như vậy, chết không đáng
để hoan hỷ, an lạc hay sao ? O
Này các đệ tử, các vị phải tha thiết tìm kiếm con
đường giải thoát. Toàn thể thế giới từ những vật thể
đang vận động cho đến các vật thể không vận động cũng
đều không thường còn, và không có thực thể, rồi phải đến lúc hoại
diệt.
Thôi, các vị hãy yên lặng, đừng nói thêm lời nào nữa ! Đã đến
lúc Như Lai vô dư Niết-bàn. Đó là những lời dạy cuối cùng của Như
Lai. O
Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3
lần, xá 3 xá) OOO
Thích
Nhật Từ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét