TỤNG PHẨM II
1. Rồi Thế
Tôn gọi tôn giả Ananda: "Này Ananda, chúng ta hãy
đi đến Kotigàma"
-
"Xin vâng, bạch Thế Tôn". Tôn giả Ananda đáp ứng Thế
Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến
Kotigàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.
2. Thế
Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn
Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu
năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh
đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh
đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh
đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt
Đạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu
năm,Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông
hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông
hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông
hiểu; khi Khổ Diệt Đạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông
hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống
được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
3. Thế
Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
-
Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân
chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên
nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ
căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.
4.
Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này được
giảng cho chúng Tỷ-kheo:
-
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả
vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn
toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô
minh lậu.
5. Thế
Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn
giả Ananda:
-
Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.
-
Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).
6. Rồi Tôn
giả Ananda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một
bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở
cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh
chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh
chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh
chung tại Nàdika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh
chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga... Bạch Thế
Tôn, cư sĩ Nikata ... Bạch Thế Tôn, cư
sĩ Katissabha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuttha... Bạch Thế
Tôn, cư sĩ Santuttha..., Bạch Thế Tôn cư sĩ Bhadda...
Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nadika
đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?
7. Này
Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ,
chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết
sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không
còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta, diệt
trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng
quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa
sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda nữ cư sĩ Sujata diệt
trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định
không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này
Ananda cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa
sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời
này nữa. Này Ananda, cư sĩ Kalinga... Này Ananda cư sĩ Nikata...
Này Ananda, cư sĩ Katissabha... Này Ananda, cư sĩ Tuttha...
Này Ananda, cư sĩ Santuttha... Này Ananda, cư sĩ Bhadada...
Này Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa
sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời
này nữa. Này Ananda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita,
đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ
đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda,
hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại
Nàdika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân
si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa
sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh
chung tại Nadika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự
lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh
giác.
8. Này
Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh
chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như
Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền nhiễu Như
Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh
pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên
bố về mình như sau: "Đối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không
còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú.
Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ
đạt Chánh giác".
9. Này
Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt
pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Đối với
ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng
sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định
không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác". Này Ananda, vị
Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: "Thế
Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn". Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp:
"Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt
ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải
thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu". Vị ấy có chánh tín đối với chúng
Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu
hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu
hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu
hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức
là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được
nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp
tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh,
được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn
không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải
thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời
sau, hướng dẫn đến thiền định".
Này
Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt
pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Đối với
ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng
sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định
không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh giác".
10.
Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo:
-
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả
vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn
toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô
minh lậu.
11. Rồi Thế
Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn
giả Ananda:
-
Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.
-
Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn
Ambapàli.
12. Thế
Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh
giác. Đó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp
phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ...
đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh
giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời.
Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
13. Này
các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ
Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới,
ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang
áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống,
khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh
giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng.
Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
phải sống an trú chánh niệm tỉnh giác. Đó là lời dạy của Ta cho
các Ngươi.
14. Lúc
bấy giờ dâm nữ Ambapàli được nghe: "Thế Tôn đã đến Vesàli và ở tại
vườn xoài của ta". Dâm nữ Ambapàli liền cho thắng các cỗ
xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cổ xe thù thắng xuất
phát ra khỏi Vesàli và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ
còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh
lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết
pháp cho dâm nữ Ambapàli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ,
làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Dâm
nữ Ambapàli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn
khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng
cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được biết Thế
Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân
bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
15. Các
người Licchavi ở Vesàli được nghe: "Thế Tôn đến Vesàli hiện ở vườn
Ambapàli", liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất
phát ra khỏi Vesàli với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh,
màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị
Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng.
Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu
đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ
trang sức màu trắng.
16. Lúc
bấy giờ dâm nữ Ambapàli đánh xe va chạm với các thanh niên
Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng
xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapàli:
-
Này Ambapàli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên
Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng
xe chạm với gọng xe?
-
Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo
ngày mai đến dùng cơm.
-
Này Ambapàli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm
ngàn.
-
Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesàli cùng với các đất phụ thuộc, tôi
cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.
Các
vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:
- Chúng
ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị
cô thiếu nữ xoài này phổng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến
vườn Ambapàli.
17. Thế
Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo
nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam
thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng
Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên".
18. Các
vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống
xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi
xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi
một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Các
vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi,
khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn:
-
Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng
cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
-
Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapàli
rồi.
Các
vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: "Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài
này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phổng tay
trên... "
Rồi
những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức
Phật và từ biệt.
19. Lúc
bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn
của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo
tin Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn
sàng". Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát,
cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapàli, sau khi đến
liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapàli tự tay thân
hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vi thượng thủ, dùng
các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
Khi Thế
Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapàli lấy một ghế thấp
khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapàli
bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn
này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ".
Thế
Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli,
khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra
về.
20.
Trong thời gian Thế Tôn ở Vesàli, pháp thoại này được
giảng cho chúng Tỷ-kheo:
-
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả
vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi
ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn
toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô
minh lậu.
21. Rồi Thế
Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn
giả Ananda:
-
Này Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.
-
Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.
22. Thế
Tôn nói với các Tỷ-kheo:
-
Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung
quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn
Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.
-
Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Những Tỷ
Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa
mưa xung quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân
tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
23.
Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi
lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ
tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một
chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: "Thật không hợp lẽ nếu
Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta,
không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp
phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống".
Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy
trì mạng căn.
24. Rồi Thế
Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh
xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc
bấy giờ tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài
và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế
Tôn:
-
Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế
Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế
Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt
con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế
Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt
độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
25. Này
Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta
đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật
giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các
Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo sư còn nắm tay (còn
giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng:
"Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự
giáo huấn của Như Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di
giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng:
"Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự
giáo huấn của Ta" thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di
giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng
thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe
đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy
thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống
đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác
ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng
và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như
Lai được thoải mái.
26. Vậy
nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình
nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh
pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ
nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn
đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì
khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh
pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này
Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh
giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối
với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán
pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham
ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn
đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì
khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh
pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này
Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho
chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác,
dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những
vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học
hỏi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét