Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Con người, vạn vật, chim muông, hoa lá, cỏ cây, lâu đài, phố thị, làng mạc... đều nương tựa trên mặt đất. Cũng vậy, chúng sanh hữu tình, các bậc trí tuệ, chư thánh nhơn, đức Phật... cũng do 10 nghiệp lành mà có sắc thân, tướng mạo, y báo, chánh báo sai khác, dị đồng... Tất cả phải nương tựa nơi 10 nghiệp lành vậy.
Mười nghiệp lành không
những ngăn giữ chúng sanh khỏi bị đọa lạc vào bốn con
đường đau khổ, mà còn mở cánh cửa thênh thang hạnh phúc an
vui của phước báu nhân thiên sang cả. Mười nghiệp lành thường quyết
định duyên lành, làm cho thông minh sáng láng, học
hành thành đạt, sự nghiệp hanh thông, gia đình ấm êm
và cả trí tuệ thông hiểu con đường xuất ly ba
cõi nữa.
Người Phật tử sau
khi thọ Tam qui, Ngũ giới, Bát quan trai giới thì
nên tu tập thêm thập thiện nghiệp để làm hành
trang, tư lương tối thắng cho mình giữa thế gian cát bụi,
lắm nghiệt ngã và nhiều khổ đau này.
Và thập thiện nghiệp ấy
là gì?
1.
Thân vĩnh viễn từ bỏ sự giết hại các loài hữu tình.
Tất thảy các loài hữu
tình, từ bò, bay, máy, cựa, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân cho
đến chúng sanh có cánh, không cánh, có vây, không vây... ở trên mặt đất,
dưới biển, ao hồ, sông rạch, trên hư không... chúng đều có sự sống, có thức
tánh, biết đau đớn - thì người Phật tử phải biết tôn
trọng, chẳng nên giết hại.
Tất cả các loài, các loại,
các giống chúng sanh ấy, do thấp sanh (ẩm ướt, ẩm thấp),
do bàng sanh (súc sanh) hay noãn sanh (trứng), chúng đều do
sự chi phối, tác động của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Khi
chúng trả hết ác nghiệp, chúng có thể trở lại thân người. Trái
lại, nếu không tạo trữ phước lành, cứ tà kiến, ngu
si, ác độc làm việc dữ; thì chúng ta cũng phải bị đọa vào
các cảnh giới đau khổ ấy. Để tránh khỏi sự khổ báo và
trả vay nhân quả, chúng ta chẳng nên sát sanh hại vật;
dù sinh mạng chúng nhỏ nhiệm thế nào.
Nói rộng hơn nữa, ngay chính
cây cối, thảo mộc là loài vô tri, vô giác, không có thức
tánh, chúng ta cũng không nên chặt phá bừa bãi; vì chúng cũng có
"sự sống" vậy.
Nếu biết vĩnh viễn từ
bỏ sự giết hại, người Phật tử sẽ tăng trưởng lòng từ;
và những trạng thái tâm ác độc, hung dữ lần hồi sẽ lắng
dịu. Tâm từ càng phát triển thì tâm sân, sát, hận, ưu sẽ không còn.
Và khi ấy, người Phật tử sẽ cảm nghe một năng lực từ
hòa, mát mẻ từ bên trong lan tỏa ra bên ngoài, thấm nhuần khắp
cả không gian, người, vật, cây, cỏ... lúc ấy là lúc mà nghiệp
lành thứ nhất đã thành tựu, đã tuyệt hảo, trọn vẹn, viên
mãn vậy.
2. Thân vĩnh
viễn từ bỏ trộm cắp của cải, tài sản của người khác.
Của cải, tài sản, cái
ăn, cái mặc, phương tiện, nhu cầu sinh sống của mọi người trên thế
gian; một phần do phước báu tạo trữ từ nhiều kiếp nên được thọ hưởng sung
mãn, dư dật trọn đời; còn đa phần là do lao tâm, lao lực, đổ mồ hôi, sôi
nước mắt; chịu khó làm ăn, trăm phương nghìn kế, thức
khuya dậy sớm, chăm chuyên cần mẫn, biết để dành, vun
quén, tiết kiệm... mới có được.
Cũng có thứ tài sản, của
cải, gia tài của một số người do làm ăn phi nghĩa, phi
nhân, bất chánh. Nhưng chúng hoạnh phát thì hoạnh tàn, sẽ đi kèm
theo định luật nhân quả trả vay ngay hiện tại hoặc kiếp
sau. Và sự báo ứng, tất nhiên, không thể chạy trốn đâu cho khỏi
được.
Như vậy, của cải, tài
sản xét theo mọi lẽ, người Phật tử tự biết, nếu khởi
tâm trộm cắp đã là ý nghĩ bất chánh, đã do lòng tham khởi động,
xúi giục, sai bảo. Là nô lệ của vô minh, ái dục và si
mê. Nếu không tỉnh thức, tự chủ, tự chế... thì lòng tham kia sẽ
che mờ tâm trí, bịt mắt lương tri, rồi nó sẽ dẫn chúng ta đến
chỗ tội tù, lao hình thống khổ. Các tội ác khác, đôi khi cũng từ
đó mà đồng loạt dấy sanh. Những mưu mô, thủ đoạn, ác độc,
lường gạt, giết người, gian dối, tham nhũng, hối lộ, san đoạt tài sản...
xảy ra hằng ngày hằng giờ trên thế gian, không là bài học máu
xương cho chúng ta suy gẫm hay sao? Và khi ấy, vòng trầm
luân bất định của những con đường đau khổ, một lần rơi
đọa, biết mấy triệu kiếp sau mới trở lại thân người? Chỉ cần
một tí liên tưởng, một chút tư duy, người Phật tử sẽ vĩnh
viễn không dám thò tay, nạy cửa, lấy cắp tài sản, của cải của
người, của xã hội. Không những hiện vật có giá trị mà những thứ
ít có giá trị hoặc không có giá trị gì mấy, người Phật
tử chơn chính cũng sẽ không lấy khi vật ấy chưa được cho, chưa được sở
hữu chủ bằng lòng, hoan hỷ cho.
Chỉ "không khởi
tâm" trộm cắp, từ bỏ vĩnh viễn không lấy cắp đã là một nghiệp
lành cao cả, sẽ đem đến an vui, an toàn cho mọi người xung
quanh và xã hội rồi. Khi ấy, những hiện vật trưng bày ở những
nơi công cộng như công viên, đường sá, vườn hoa, nhà mát, khu di
tích lịch sử, văn hóa... ở đâu đều nguyên vẹn ở đó, được tất thảy mọi
người bảo vệ và tôn trọng. Lúc ấy, nhà nhà không cần đóng
cửa, không ai cần thiết phải kín cổng, cao tường, rào chông mấy lớp. Các
loại ổ khóa không cần dùng. Của rơi dọc đường không ai
thèm lượm, nếu nhặt được người ta sẽ tìm cách hoàn lại cho khổ
chủ. Khung cảnh và không khí thanh bình tuyệt vời ấy quả
là thiên đường trần gian, mà con người không thể ước
mơ được hay sao?
3.
Thân vĩnh viễn từ bỏ tà dâm, tà hạnh.
Sự chung thủy vợ chồng là
nét đẹp văn hóa truyền thống của nền đạo đức và luân
lý Đông phương.
Gia đình là nền tảng của xã
hội. Gia đình được hạnh phúc, an vui thì xã hội mới được hạnh
phúc, an vui. Thật không thể quan niệm được khi một xã
hội văn minh, tiến bộ, thịnh mãn về vật chất, áo cơm - lại có thể
đem đến hạnh phúc cho mọi nhà, khi "mọi nhà" ấy: vợ chồng tự
do ngoại tình, tự do lăng nhăng, tự do bỏ vợ, bỏ chồng
để đi tư tình, thương yêu người khác!
Tục ngữ nói: "Thuận
vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn". Thuận là hòa thuận. Hòa
thuận là do thương yêu, hòa hợp, đùm bọc, chia sẻ ấm lạnh ngọt
bùi, vui buồn gian khổ có nhau, không bao giờ phụ rẫy, hắt hủi, bạc
tình, bạc nghĩa với nhau.
Đạo Phật là đạo xuất
ly thế gian nhưng mà không đoạn tuyệt thế gian; vẫn phân
biệt rõ ràng đâu là hạnh phúc thế gian đâu là hạnh
phúc siêu thế. Và đối với người cư sĩ, hạnh phúc gia
đình luôn được đức Phật nhắc nhở, dạy bảo. Lác đác
trong kinh điển, đức Phật thường giáo giới đến hàng tại
gia biết cách vun quén, xây dựng và bảo vệ hạnh
phúc gia đình mình. Những bổn phận của vợ đối với chồng, của chồng đối
với vợ, trong đó sự thương yêu và lòng chung thủy luôn được xem trọng
hàng đầu. Như vậy, khi muốn gia đình mình được hạnh phúc, an vui
thì ta không nên phá hoại hạnh phúc và an vui của gia
đình người khác.
Khi vợ chồng không
còn thương yêu, chung thủy; lại đem san sẻ tình yêu cho người khác; thì những
gấu ó, bất hòa, lời qua tiếng lại, "ông ăn chả, bà ăn nem" đưa đến
phân ly, tan nát là một viễn cảnh vô cùng đen tối. Con cái, từ
đó sẽ không có nơi nương tựa khi vợ chồng ly thân hoặc ly dị.
Chúng sẽ sinh ra hư hỏng, cướp của, giết người, xì-ke, ma tuý, hình lao, tù tội... thật
không mấy xa! Thiếu vòng tay mái ấm gia đình, chúng sẽ mất niềm
tin với đời, trái tim sẽ băng lạnh, nhân tính biến đổi...
4.
Khẩu vĩnh viễn từ bỏ lời nói dối.
Thế gian ai cũng ưa ăn
ngay nói thật. Lời nói chơn chánh, chân thực, biểu hiện đức
độ, sức mạnh nội tâm, đem đến sự tin tưởng, tin cậy, tín
cẩn ngọt ngào và dễ mến giữa cuộc đời này.
Những kẻ có nói không, không
nói có, bóp méo sự thật, xuyên tạc lẽ phải thường đem
đến nhiều nguy hại, khổ đau và bóng tối cho trần gian biết là ngần nào?
- Có lời nói dối
đưa đến chém giết, hận thù.
- Có lời nói dối
làm cho người ta tán gia, bại sản.
- Có lời nói dối
phá vỡ bình yên, hạnh phúc của người khác.
- Có lời nói dối
đưa kẻ khác đến tội tù, gia đình người ta phân ly, tan nát.
- Có lời nói dối chận
đứng sự tiến thân, danh vọng hoặc sự nghiệp của người
khác.
- Có lời nói dối
làm cho người ta tức uất thổ huyết mà chết.
- Có lời nói dối
đưa đến ganh ghét, đố kỵ, tỵ hiềm.
- Có lời nói dối
làm cho người thân, huynh đệ, bạn bè suốt đời không nhìn mặt
nhau...
Là người Phật tử, chỉ
có việc "từ bỏ vĩnh viễn lời nói dối" đã là tốt đẹp và
cao cả lắm rồi. Trên phương diện tương quan nhân quả, nghiệp
lành này mang đến cho cuộc đời sự bình yên; hoặc ít ra
là tạo được không khí trong lành, không bị ô nhiễm bởi những tác
hại do những lời nói dối gây ra.
Ôi! cuộc đời này sẽ dịu
dàng và tinh khiết dường bao khi xung quanh ta đều là
những người không biết nói dối, không bao giờ nói dối! Chư Bồ-tát, các bậc Thánh
nhân dù họ có lìa bỏ sanh mạng, bị hành thân hoại thể, bị sỉ
nhục đắng cay; chắc chắn không vì vậy mà nói dối hại
người! Vậy, không nói dối là phẩm chất cao thượng, là đức tính quí
báu mà ai cũng có sẵn trong chính mình; cần được bảo vệ, phát huy
và trưởng dưỡng cho đến độ viên mãn.
5.
Khẩu vĩnh viễn từ bỏ lời nói vu oan, vu cáo.
Lời nói dối đã độc
hại, nguy hiểm mà lời nói vu oan, vu cáo kẻ khác còn thâm
hiểm, độc ác hơn nhiều.
Lời nói dối, ban đầu,
có thể do tham sân điều động nhưng chỉ ở mức độ vừa phải. Lên đến cấp độ
vu oan, vu cáo thì tham sân ấy đã cương mãnh hơn nhiều. Đã trở
nên mù quáng lý trí, đã đánh mất nhân tính, đã rời xa đạo đức, luân
lý và lẽ phải ở đời. Tham sân ở đây đã trở nên tham độc và sân
độc, đã biến con người đầy đủ nhân tính, thiện lương thành các
loài rắn rít, bò cạp hoặc độc trùng ghê tởm khác.
Là người Phật tử chơn
chánh, không những phải giữ trọn nghiệp lành không nói dối mà
còn biết từ bỏ vĩnh viễn lời nói vu oan, vu cáo, giá họa,
đẩy người khác đến chỗ không tội mà thành tội, không làm mà thành làm, xô người
khác vào vực thẳm tội tù hoặc suốt đời bị đọa đày, oan
khuất, tối tăm, thống khổ.
6. Khẩu vĩnh
viễn từ bỏ lời nói cộc cằn, thô lỗ, chửi rủa, mắng
nhiếc, ác ngữ...
Tuy những lời
nói thuộc loại này không ác độc bằng hai cách nói trên nhưng
cũng chẳng hay ho, tốt đẹp gì, đều đem đến nguy hại cả.
Lời cộc cằn, thô lỗ, chửi
rủa, mắng nhiếc... biểu hiện một trạng thái tâm chưa được huấn
luyện. Ấy là cái tâm đang còn hoang dã, bản năng, thô xấu, thiếu văn
hoá, thiếu giáo dục, thiếu gia phong, lễ giáo nề nếp con
nhà! Những lời nói như thế ấy làm đau lòng người khác, thường
đưa đến sự xô xát, đánh đập tay chân hoặc đùi gậy, dao búa đến sứt đầu, bể trán
mà thôi.
Người có học thức, hiểu
biết, nội tâm đã được huấn luyện, có tu tập; thường dễ dàng
tránh xa những lời nói kiểu này. Là Phật tử chơn
chánh, ngôn ngữ nói ra phải dịu dàng, từ ái, khiêm tốn dễ
nghe. Người ta thường ví miệng thơm như hoa lan để nói đến người có lời
nói chân thật, ái từ là vậy.
7.
Khẩu vĩnh viễn từ bỏ lời nói nhảm nhí, vô ích, rỗng
không, phù phiếm...
Những cách nói như thế ấy quả
là làm mất thì giờ vô ích. Chỉ có kẻ ngồi lê đôi mách, ăn rỗi ở
thì, nội tâm trống rỗng, không có việc làm, không đọc
kinh sách, nhàn cư, thiểu học... mới rơi vào trường hợp này.
Người xưa nói: Một ngày
không đọc sách, một ngày hôi miệng! Thế còn những kẻ rỗng không, vô tích sự, giết thì
giờ trong những câu chuyện tục tĩu, nhảm
nhí thì nội tâm và trí óc họ chứa đựng những gì?!
Vậy, người Phật tử chơn
chánh có Tam qui, Ngũ giới, có tu tập và biết phát triển những nghiệp
lành, đừng nên coi những cách nói rỗng không, nhảm nhí... là chuyện nhỏ mọn!
Một hạt bụi tí ti rơi vào mắt cũng làm cho mắt phải bị nhức nhối, xốn
xang. Một chút dơ uế lấm lem vào tâm, khinh thường lâu ngày thì cái tâm kia
cũng trở nên đen đúa và xấu xa! Những giọt nước rỉ từng giọt lâu ngày cũng đầy
tràn sông hồ, ao biển... đúng như câu kinh Pháp cú số 121:
"- Nước rơi từng
giọt giọt thôi
Lâu ngày chầy tháng đến hồi
tràn lu
Chút chút việc ác, mặc dù
Ngày qua tháng lại, người
ngu ác đầy!"
Những lời nói rỗng
không, nhảm nhí, tục tĩu, vô ích... lâu ngày thành thói
quen, tích lũy thành nghiệp ác. Những lời nói bỡn cợt,
ba lơn, ba láp, ba xàm; ban đầu tưởng là vô hại, nhưng lâu dần
chúng trở thành cá tính khó rời; khiến ta thành kẻ không đứng đắn,
thiếu tư cách, mất phẩm chất thật là uổng phí vậy. Khi mà đã trở
thành như thế thì kẻ ấy dù có chân đứng, địa vị, danh vọng và sự
nghiệp gì trên cuộc đời cũng sẽ bị người coi khinh, khi rẻ, nhạo
báng, xem thường!
8.
Ý vĩnh viễn từ bỏ sự tham lam
Có những mong muốn, ước muốn bình
thường trong đời sống mà chẳng phải tham lam. Ví dụ đói muốn ăn,
khát muốn uống. Hoặc, ta mong muốn làm một điều gì, muốn thực hiện một
việc gì... Tất cả những mong muốn ấy, theo Abhidhamma, nó là
"chanda", là dục tâm sở; chỉ mới là ước muốn thuần
túy chưa quyết định thiện ác. Còn tham lam là
do tâm sở "lobha" hay "abhijjā", có trạng
thái dính mắc, có sự tham dự của tư tâm sở (cetanā) mới
tạo thành nghiệp. Do vậy, khi tâm tham khởi thì những tâm sở bất thiện đồng
khởi theo để tạo tác tất cả những việc xấu ác trên trần đời!
Lòng tham ấy sẽ được hiện khởi
từ các tâm trạng sau đây:
- Không bằng lòng,
không vừa ý, không thỏa mãn những sở hữu mà mình đang
có.
- Không bao giờ biết sống đời tri
túc, mà luôn cảm thấy thiếu thốn, muốn có thêm vật này, vật
kia... tương tự như tục ngữ: "đứng núi này trông núi nọ, được
voi đòi tiên".
- Luôn luôn dòm
ngó của cải, tài sản của kẻ khác.
- Luôn muốn vơ vét, chiếm
đoạt, cướp giật của cải tài sản của người.
Nói rộng hơn, nhưng cũng cô
đọng hơn là lòng tham được thỏa mãn lục trần: sắc đẹp, tiếng
hay, mùi thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái cùng những tham vọng về tinh
thần. Đấy là những tham vọng về quyền lực, danh vọng, sự
nghiệp, bá chủ, thần thông, phép lạ...
Lòng tham ấy đã tung rải biết
bao nhiêu bóng tối, đau khổ và tang thương cho nhân loại từ
xưa đến nay! Thế giới lục trần tươi đẹp và hào nhoáng ấy
là đóa hồng diễm kiều hương sắc nhưng lại đầy gai máu! Nó là vực thẳm chông
nhọn được trải bằng tấm thảm nhung êm. Nó là mồ chôn biết bao sa-môn, đạo
sĩ, đế vương, công hầu, khanh tướng, tỷ phú, triệu phú, anh
hùng, quân tử, mỹ nhân, vĩ nhân, danh nhân, thi sĩ, văn sĩ, nghệ
sĩ và cả những khoa học gia danh tiếng lẫy lừng... Lòng tham ma
vương không chừa một ai trên trần thế! Tham ít khổ ít, tham nhiều khổ nhiều,
đấy là định luật tất yếu! Là sức dội lại của quả bóng tuỳ thuộc lực
ném vào tường! Là sự bỏng cháy nhiều ít do các ngón tay hay bàn tay vọc lửa!
Vậy, người Phật tử chơn
chánh muốn chấm dứt các khổ đau, phiền não thì phải biết nghe
lời từ bi và trí tuệ của đức Đại Giác; phải biết vĩnh
viễn từ bỏ lòng tham này vì lợi ích cho mình và cho người.
Đây là nghiệp lành vừa có phước báu nhân thiên vừa gieo
duyên với cứu cánh giải thoát tối hậu.
9. Ý vĩnh
viễn từ bỏ sự sân hận (thù oán, oán hận, ác ý)
Tâm sân do chữ dosa. Theo
Abhidhamma, tâm sân không bao giờ khởi một mình, tuỳ theo cường độ, tính
chất của nó mà các tâm sở tương ứng cùng khởi theo. Ví dụ:
tật, xan, hối...
Theo cách hiểu thông thường,
sân mà còn hận nữa thì cường độ sân ấy đã tăng thêm một bậc, có thể thiêu huỷ,
đốt cháy các đối tượng. Lửa sân hận rất khủng khiếp, nó có thể tạo
nên các tội ác trên cuộc đời, nó có thể đốt cháy tất thảy mọi ruộng
vườn công đức, phước báu.
Người có trí, có căn bản giáo
pháp, có tu tuệ quán, có thể biết được sự hiện khởi của tâm sân ấy qua mấy
dạng sau đây:
- Sân bình thường, tức
là sân do phản ứng tự nhiên của tâm sinh lý; chưa có hại,
chưa tạo nghiệp.
Ví dụ: Thấy khó chịu khi
nghe một âm thanh quá lớn. Trời nóng thì cảm thấy bực bội.
Thấy điều ác, không ưa...
- Những điều trái ý, nghịch
lòng nếu cứ gặp mãi thì trạng thái sân này sẽ gia tăng, cứ âm ỉ
thiêu đốt ở trong lòng. Như vậy là từ sân bình thường (dosa), sân ấy
đã chuyển sang ưu (domanassa).
- Nếu ưu càng gia tăng,
mới nghĩ đến đối tượng đã không còn chịu nổi, muốn đập phá, muốn tiêu diệt đối
tượng. Trạng thái tâm lý này đã chuyển thành hận (pāṭigha).
Tuy nhiên, ưu và hận sẽ
không khởi một mình mà nó còn đi theo những tâm sở khác:
tật, xan, hối... để tạo thành nghiệp. Do vậy, sân hận sẽ gia
tăng cường độ rất nguy hiểm, càng lúc càng không thể kềm chế nổi.
Nó có thể hủy diệt nhân loại, thiêu cháy một làng, một xóm. Nó có thể tạo ngũ
nghịch đại tội. Nó có thể đưa chúng sanh vào hằng trăm loại địa
ngục đồng sôi, lửa đốt, dao đâm, vạc dầu... thật vô vàn thống khổ.
Biết sự nguy hại của sân
hận, người Phật tử chơn chánh nguyện phát triển nghiệp
lành này, bằng cách tỉnh niệm thường xuyên để thấy rõ sự dấy
khởi của nó và vĩnh viễn từ bỏ, loại trừ ưu và hận ra khỏi tâm.
Theo Abhidhamma, vô
sân đồng nghĩa với tâm từ vô lượng, nên sự an
lành và mát mẻ của nó đúng là môi trường
sinh thái tốt lành cho người, vật, chim muông, cây cỏ.
10.
Ý vĩnh viễn từ bỏ tà kiến (mê tính, phiến diện, nhận thức
sai lầm)
Tà kiến là thấy sai, thấy
lệch, thấy nghiêng, thấy một bên, thấy một phía, không thấy được cái chơn, cái
thực, cái toàn diện. Tuy nhiên, mới thấy tà như vậy cũng chưa phải tà
kiến. Người thấy tất cả cái tà ấy, còn chấp cái tà ấy là chánh, là sự thật;
rồi còn ra sức bảo vệ, phát triển quan điểm lệch lạc ấy nữa, mới chính
thật là tà kiến.
Những người học Phật thường
gọi danh những người chấp đoạn là đoạn kiến, chấp thường là thường kiến. Đoạn
kiến và thường kiến chính là tà kiến vậy.
Đoạn kiến là quan
niệm cho rằng chết là hết, không còn gì. Không có kiếp này, kiếp kia,
không có thiện ác, không có thiên đường, địa ngục, không
có nhân quả báo ứng. Và, đạo đức, luân lý trên thế
gian chỉ là trò u mê, ngốc nghếch! Vậy hãy hưởng thụ thân xác, làm
cho "cái ta" hiện giờ đây được sung sướng, cực lạc.
Hưởng thụ dục lạc ngũ trần chính là Niết-bàn vậy. Các
nhà đoạn kiến có quan niệm như vậy rồi dạy môn đệ, viết
sách để quảng bá tư tưởng ấy. Chủ nghĩa duy vật chất, chủ
nghĩa hư vô, chủ nghĩa hiện sinh rơi vào đoạn kiến này.
Thường kiến có quan
điểm cho rằng có một linh hồn, một tự ngã thường hằng bất
biến, không thay đổi, đầu thai từ kiếp này sang kiếp kia. Do vậy, kiếp
này làm vua thì kiếp sau cũng làm vua. Thương gia, tướng cướp, cùng
đinh hoặc đui, què, mẻ sứt... kiếp này thì kiếp sau cũng y
như thế. Làm thiện chẳng có tích sự gì, làm việc ác mà được sung sướng thì
cứ làm. Nhân, nghĩa, đạo đức, luân lý là con ngáo ộp dọa người
đó thôi. Chúng ta do Thượng đế đã cho giàu
sang thì sẽ giàu sang mãi mãi...
Như vậy, đoạn kiến và thường
kiến đã đầu độc thế gian, làm cho thế gian đổ nát, hoang
vu, điêu tàn, băng hoại. Nó thiêu huỷ, đốt cháy đạo đức, nhân
luân, nhân tính cùng các giá trị tinh thần thiêng
liêng, cao cả khác. Ngoài ra, rải rác trong kinh điển, còn có những
cái gọi là biên kiến, kiến kiết phược, kiến hoang vu, kiến sa mạc, kiến
điên đảo, kiến rừng rậm... đều là bà con họ hàng với tà kiến cả
vậy.
Người Phật tử phải
biết chuyển cái thấy sai thành cái thấy đúng, cái thấy nghiêng lệch bằng cái thấy
chính chơn, nghĩa là phải biết chuyển tà kiến thành chánh kiến.
Thế chánh kiến là
gì?
Chánh kiến là gọi tắt của
chánh tri kiến (thấy biết chơn chánh). Chánh tri kiến là gọi
tắt của chánh kiến, chánh văn, chánh giác, chánh tri.
Và "kiến, văn, giác,
tri" là thế nào?
- Mắt thấy sắc như thực,
nghĩa là sắc như thế nào phải thấy sắc như thế ấy. Thấy một cách khách
quan, trung thực, không xen lẫn tư tưởng, ý kiến, tình cảm
của mình vào: ấy được gọi là chánh kiến.
- Tai nghe âm
thanh như thực, nghĩa là âm thanh như thế nào phải nghe âm
thanh đúng như thế. Nghe một cách khách quan, trung thực, không xen
lẫn tư tưởng, ý niệm, tình cảm của mình vào: ấy được gọi là chánh
văn.
- Mũi ngửi hương như thực,
nghĩa là hương như thế nào phải biết hương như thế ấy, một cách khách
quan, trung thực, không xen lẫn tư tưởng, ý niệm, tình cảm
của mình vào: ấy được gọi là chánh giác.
- Lưỡi nếm vị như thực. Tương
tự như trên, được gọi là chánh giác.
- Thân xúc chạm như thực. Tương
tự như trên, được gọi là chánh giác.
- Ý biết pháp
như thực. Nghĩa là pháp nào thì phải biết cho đúng như thực với pháp ấy; đừng suy
diễn ra, đừng tưởng tượng thêm, đừng dịch giảng lung tung! Ngoài ra,
những thu góp tin tức từ các tiền trạm thông tin mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân như thế nào; khi vào đến ý phải phản ánh cho trung thực, không bị méo
mó, lệch lạc... thì được gọi là chánh tri, tức biết như chơn
như chánh vậy.
Kiến, văn, giác, tri là gọi
tắt của sự thấy, biết, cảm giác, tri giác của mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý đối với đối tượng lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Kiến, văn, giác, tri như thực
được gọi là chánh kiến.
Từ chánh kiến với
nghĩa rốt ráo, tinh tủy, căn bản này, người Phật tử sẽ
có được đức tin chơn chánh, không bị rơi vào các loại tà kiến phức
nhiễu, hỗn loạn đang vấy độc giữa cuộc đời; không bao giờ còn bị ru
ngủ, bị mê lẩn bởi các tôn giáo thần linh huyễn hoặc; những triết
thuyết, học thuyết cao đại, khoa trương nhưng thiển cận, rối rắm,
tơ vò; những mê tín nhân gian bậy bạ, mù quáng nữa.
Chánh kiến thuộc tuệ phần,
quan trọng nhất trong con đường Thánh đạo có 8 nhánh. Vậy chuyển tà
kiến thành chánh kiến đúng là nghiệp lành tối thượng,
cao cả nhất để đến nơi giải thoát, an vui, chân hạnh phúc.
Kết
luận,
Mười nghiệp lành như vậy
là thân có 3, khẩu có 4 và ý có 3. Nếu thân khẩu ý được điều tiết,
thu thúc, gìn giữ, bảo trọng, phát huy và tăng trưởng 10 nghiệp
lành này, được gọi là thân khẩu ý trọn lành hay tam nghiệp trọn
lành.
Lúc 10 nghiệp trọn lành là
người Phật tử vĩnh viễn đóng cửa Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc
sanh, A-tu-la, có thể mở cửa nhân thiên và thênh thang bước
vào đại lộ huy hoàng của an vui và hạnh phúc. Đời kiếp nào cũng
không còn rơi đọa vào các cảnh giới đau khổ, miền biên địa, chốn
man di mọi rợ hoặc các giống dòng, gia tộc ngoại đạo, tà kiến.
Trong các cõi trời và người, đi đâu họ cũng gặp Phật
pháp, thiện trí thức bằng hữu hoặc những duyên lành, phước
lành thù thắng và tối thượng.
Sau khi cuộc lang thang đã
mãn, tín, giới, văn, thí, tuệ đã đầy, ba-la-mật đã đủ; nếu muốn, họ dễ
dàng chứng quả Tứ Thánh và đắc Niết-bàn để thọ hưởng hạnh
phúc siêu thế.
Tất cả chúng
sanh trong 3 cõi, 6 đường đều phải biết nương nhờ 10 nghiệp
lành này như một kim chỉ nam vô giá quyết định phương
hướng cho hạnh phúc các kiếp sống. Thanh Văn Phật, Độc
Giác Phật cũng nương nhờ 10 nghiệp lành này mà đầy đủ
tâm, đầy đủ tuệ để tận lìa phiền não. Đức Đại Bồ Tát của chúng
ta cũng từ 10 nghiệp lành này mà thành tựu 8 minh và
15 hạnh, đắc quả Chánh Đẳng Giác vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét