Lê Sỹ Minh Tùng
Washington - Mùa Phật Đản PL 2559, DL 2015
BÁT CHÁNH ĐẠO
Đức
Phật từ bỏ tất cả cốt là để đi tìm chân lý cứu khổ,
một con đường giải thoát trước tiên là cho chính Ngài, sau là mang một tâm tư hoài bảo vĩ đại muốn cứu rỗi cho tất cả
mọi chúng sinh. Ngài đã ra đi, bỏ lại tất cả, viễn
ly mọi ràng buộc thế tình, trở thành một nhà tu
khổ hạnh và phải tranh đấu với những hoàn cảnh khắc
nghiệt để mong tìm thấy được ánh sáng chân lý. Sau 49 ngày
đêm thiền định dưới cội Bồ-đề, Ngài đã tìm ra con
đường giải thoát, có được thanh tịnh Niết bàn và giác
ngộ viên mãn. Ban đầu Ngài có khuynh hướng giữ im lặng,
không muốn đem giáo pháp Ngài vừa thực chứng dưới cội
Bồ-đề giảng giải lại cho thế gian: “Nếu Ta đem con
đường Đạo Pháp ra để thuyết giảng mà chẳng có ai hiểu được
thì [việc ấy] chỉ mang lại thất vọng và nhọc nhằn cho Ta..." (Trung
A Hàm). Thật vậy, "những ai chỉ biết tìm lạc
thú trong dục vọng, nấp mình sau tấm màn của u mê thì sẽ
không thể nào tỏ thấy được Sự thật" (Trung A Hàm).
Có
lẽ lúc đó Ngài muốn theo đuổi con đường của một vị Độc giác
Phật. Sau cùng thì Đức Phật quyết định sẽ truyền dạy lại những gì Ngài thật chứng
cho chúng sinh để cùng có giải thoát Niết
bàn và đạt đến cứu cánh tột đỉnh là giải thoát ra
khỏi biển sinh tử trầm luân. Vì thế đạo Phật mới gọi là
đạo giải thoát. Giải là cởi mở nghĩa là cởi mở những trói
buộc để thoát ra khỏi mọi hình thức đau khổ của cuộc
đời.
Nhưng
làm thế nào để ”Chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người”?
Sứ
mệnh cao cả Đức Phật muốn thực hiện là phải hóa
độ chúng sinh. Những người đệ tử đầu tiên đã thấu hiểu giáo lý của Ngài rồi sau đó
truyền rộng đến tất cả mọi người. Ngài thiết lập Tỳ
kheo (nam phái) trước rồi Tỳ kheo ni (nữ phái) sau.
Trước hết, Đức Phật muốn đem giáo lý ấy truyền cho hai
vị thiền sư Alara Kalama và Uddaka Ramaputta đã
dạy cho Ngài thiền vô sắc lúc ban đầu tuy nhiên hai vị ấy đã qua đời.
Như lời nguyện xưa là “Ai thành đạo trước thì tìm độ cho nhau” cho nên Đức Phật liền tìm đến vườn Lộc uyển (Deer Park) để thuyết pháp cho năm người bạn đồng tu khổ hạnh với Ngài trước kia. Đó là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bê, Thập Lực, Ma Ha Nam, và Bạc Đề. Đức Phật trên đường đến vườn Nai bằng bước chân thanh thoát xuất trần với dáng vẻ ngời ngời Trí Tuệ và bằng ánh nhìn trong sáng Từ Bi qua chiếc áo rách nhiều năm tháng phất phơ trong gió sớm, mưa chiều. Ngài thong dong bước với bình bát trong đôi tay vàng óng ả, với mái đầu tóc xoắn điểm phong sương.
Bài thuyết
pháp đầu tiên, Đức Phật nói về chân lý Tứ Diệu Đế mà
đầu đề bài kinh là Dhamacakkappavattana, có nghĩa là “Chuyển bánh
xe Pháp”. Trong bài kinh nầy, Đức Phật mở đầu
bằng lời khuyên các tu sĩ không nên theo hai cực
đoan: cực đoan thứ nhất là đam mê thú
vui nhục dục thế gian, thực ra đó chỉ là những cái vui tầm
thường, nhất thời và ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh.
Còn cực đoan thứ hai là khổ
hạnh, ép xác chỉ làm mệt mỏi tinh thần và
mê mờ trí tuệ. Vì thế cả hai đều có hại và vô ích. Con
đường mà Đức Phật muốn nói ở đây chính là con đường trung
đạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt và
sau cùng sẽ được giải thoát. Con đường giải thoát nầy chính
là Bát Chánh Đạo.
Đức
Phật thuyết giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân lần đầu tiên
vào ngày rằm tháng sáu. Ngài Đại đức Kiều Trần Như (Koṇḍanna) chứng
đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu đầu tiên trong giáo
pháp của Đức Phật. Đức Phật cho phép Ngài xuất
gia thọ Tỳ-khưu đầu tiên. Ngay khi ấy, Tam Bảo: Phật
Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo trọn vẹn đầu tiên xuất
hiện trên thế gian.
Trong
nhóm năm Tỳ-khưu, Ngài Koṇḍanna (Kiều Trần Như) trở
thành bậc Thánh Nhập Lưu, còn lại bốn vị Tỳ-khưu khác, Đức
Phật còn phải giảng dạy.
Một
buổi sáng, Đức Phật không ngự đi khất thực, ở lại trong khu rừng
để giảng dạy Ngài Vappa và Ngài Bhaddiya, còn ba vị
Tỳ-khưu: Ngài Koṇḍanna, Ngài Mahānāma và Ngài Assaji đi khất thực, đem về dâng vật thực đến Đức
Phật, phần vật thực còn lại phân chia đều cho năm Tỳ-khưu độ trong
ngày. Ngày ấy Ngài Vappa trở
thành bậc Thánh Nhập Lưu và được Đức Phật cho
phép thọ Tỳ-khưu cũng theo cách Ehi-bhikkhūpasampadā (Các
ông hãy đến với Như Lai)
Ngày
tiếp theo, Đức Phật dạy Ngài Bhaddiya và Ngài
Mahānāma, còn Ngài Koṇḍanna, Ngài Vappa và
Ngài Assaji đi khất thực đem về dâng vật thực
đến Đức Phật, phần vật thực còn lại chia đều cho năm Tỳ-khưu. Ngày ấy, Ngài Bhaddiya trở
thành bậc Thánh Nhập Lưu và được Đức Phật cho
phép thọ Tỳ-khưu theo cách Ehi-bhikkhūpasampadā.
Ngày
tiếp theo, Đức Phật dạy Ngài Mahānāma và Ngài
Assaji, còn Ngài Koṇḍanna, NgàiVappa và Ngài Bhaddiya đi khất thực đem về dâng vật thực
đến Đức Phật, phần vật thực còn lại chia đều cho năm vị Tỳ-khưu.
Ngày
kế tiếp, Ngài Mahānāma trở
thành bậc Thánh Nhập Lưu và được Đức Phật cho
phép thọ Tỳ-khưu theo cách Ehi-bhikkhūpasampadā.
Ngày
kế tiếp, Đức Phật dạy Ngài Assaji, còn bốn vị Tỳ-khưu
đi khất thực đem về dâng vật thực đến Đức Phật, phần còn lại
chia đều đến năm vị Tỳ-khưu. Ngày ấy, Ngài Assaji trở thành bậc Thánh Nhập
Lưu và được Đức Phật cho phép thọ Tỳ-khưu theo cách Ehi-bhikkhūpasampadā.
Như
vậy nhóm năm Tỳ-khưu đều trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, mới là
bậc Thánh thứ nhất trong Phật giáo.
Với tâm
nguyện dìu dắt, nâng đỡ nhóm năm Tỳ-khưu lên bậc Thánh A la
hán, Đức Phật thuyết bài kinh Vô Ngã Tướng
(Anattalakkhaṇasutta).
Đây
là nói về chân lý vô ngã (không có cái Tôi).
Trong đó, Đức Phật đã khẳng định rằng: “Tất cả mọi hiện
tượng trong thế gian này đều không ngừng tác tạo. Vì là
do nhân duyên, nhân này quả nọ, mà thành chớ không có một vật thể nào tự
chúng có được nên tất cả mọi hiện tượng đó không có thực thể,
không có tự tánh tức là Vô Ngã”. Con người chúng
ta cũng thế, không có cái gì gọi là Cái Tôi hay Cái Của Tôi tức là Vô
Ngã. Đức Phật gọi Cái Tôi chỉ là một ảo giác do tâm
thức biến hiện. Sự sai lầm là con người luôn đồng
hóa ngũ uẩn (thân, tâm) là Tôi cho nên họ luôn bám chặt
vào nó như là một cá thể vững bền. Nói một cách tổng
quát, thân thể con người gồm có hai phần là thân xác
và tâm linh. Phần thân xác có hình dáng nên gọi là sắc
uẩn và phần tâm linh gồm có thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Tuy nhiên, trong kinh
Nikayà, ngũ uẩn thường được gọi là “ngũ thủ uẩn” nghĩa là năm đối
tượng của sự chấp thủ, của tâm tham ái. Vì thế ngũ
uẩn là nguyên nhân của biết bao nỗi khổ niềm đau mà con
người gánh chịu trải qua bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Ngược
lại đối với người giác ngộ thì ngũ uẩn lại là phương
tiện giúp họ giải thoát. Vì vậy, Phật và ta không hai, không
khác, không thể tìm Phật ngoài tấm thân ngũ uẩn này được. Sự bám
víu vào “Cái Tôi” chính là nguyên nhân đem lại biết bao nỗi khổ
đau trong kiếp sống này và mãi mãi về sau. Bởi vì: “Chư
Pháp tùng bổn lai, Thường tự tịch diệt tướng” nghĩa là tất cả
các pháp từ xưa đến nay, tánh chúng thường vắng lặng, không
hạnh phúc và cũng chẳng có khổ đau. Vì thế khi nói khổ đau hay hạnh
phúc là có sự hiện diện của bản ngã trong đó nghĩa là
tôi khổ hay tôi hạnh phúc rồi. Thí dụ cành hoa tự nó không
đẹp, không xấu, không thơm, không thúi cho nên người trí nhìn cành hoa là cành
hoa thì tâm an lạc. Ngược lại, nếu cho cành hoa là đẹp thì trong tâm đã có
sự so sánh, phân biệt. Tại vì mình cho nó đẹp, mình nghĩ nó
đẹp…tức là có tự ngã. Thế thì đau khổ là không được như
ý mình muốn còn hạnh phúc là thỏa mãn được ý
muốn của mình. Nói cách khác thỏa mãn được Cái Tôi thì gọi
là hạnh phúc, ngược lại không thỏa mãn được Cái Tôi thì gọi
là đau khổ chớ trên thế gian này không có cái gì là khổ đau
hay hạnh phúc cả. Do đó khi không còn sống
với bản ngã, người đó trở về sống với thực tánh pháp thì
gọi là giải thoát thế thôi.
Thật
vậy, sau khi nghe Đức Phật thuyết bài kinh Vô
Ngã Tướng xong, nhóm năm Tỳ-khưu đều chứng ngộ chân lý Tứ
Thánh Đế, chứng đắc từ Nhất Lai Thánh Đạo - Nhất
Lai Thánh Quả, Bất Lai Thánh Đạo - Bất Lai Thánh
Quả cho đến A la hán Thánh Đạo – A la hán Thánh
Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh A la hán cao
thượng trong Phật giáo, diệt đoạn tuyệt hoàn
toàn mọi phiền não, mọi tham ái, mọi ác pháp không còn
dư sót.
Như
vậy, Đức Phật có năm vị Thánh A la hán đã xuất
hiện trên thế gian này.
Khi thành
lập Tăng đoàn, Đức Phật gọi tất cả người xuất gia là
“Tỳ khưu” (Bhikkhu) tức là khất sĩ. Khất sĩ không nhất
thiết chỉ là người khất thực mà phải là người thấy được sự nguy
hiểm của tham ái trong luân hồi. Khất sĩ là người thật
sự buông bỏ vì thế từ Đức Phật đến 1,250 vị A la
hán khác đều là khất sĩ và họ chỉ có duy nhất tam y
nhất bát. Cuộc sống của người giác ngộ rất đơn giản, thanh
thản và được thể hiện bằng:
Một bát cơm ngàn nhà
Thân
chơi muôn dặm xa
Mắt
xanh xem trần thế
Mây
trắng hỏi đường qua.
Vậy thế nào là Bát chánh đạo?
Bát chánh đạo là con đường chân
chính có tám nhánh, giúp chúng sinh hướng đến một
đời sống đạo đức nhân bản, có cuộc sống cao thượng và hạnh
phúc. Cao hơn nữa, thực hành rốt ráo Bát chánh đạo sẽ
đưa hành giả đến đời sống an lạc, thanh
tịnh, giải thoát Niết bàn. Cũng Bát chánh đạo đó mà những
bậc Thánh giả nương theo để có giải thoát giác ngộ thì
gọi là Bát Thánh đạo.
Trong
tám nhánh của Bát chánh đạo, tất cả đều liên hệ với nhau, bồi
đắp cho nhau rất mật thiết. Nhánh nào cũng làm nhân và đồng
thời làm quả cho bảy nhánh kia vì thế tuy có tám nhánh nhưng tựu trung
cũng quyện tròn thành một, đó là một con đường giải thoát.
1) Chánh
kiến (Complete or Perfect Vision or Right View): Kiến là cái nhìn, cái
thấy và chánh là ngay thẳng. Chánh kiến dựa theo định nghĩa
thông thường của cuộc đời là cái thấy biết đúng
đắn về thực tại, về vạn pháp, về những gì đang xảy ra bên trong
và bên ngoài thân, tâm của mình. Sự thấy biết chính xác hay sai lệch ảnh
hưởng rất lớn đến cách sống vì thấy biết sai lầm sẽ
làm cho suy nghĩ và hành động sai lệch theo.
Tuy
nhiên, muốn thấy biết thật đúng đắn về mình và những gì chung quanh
mình thì cái thấy biết đó bây giờ phải thâm sâu hơn rất nhiều, cái
thấy biết mà người bình thường không bao giờ biết đến, nghĩ đến. Cái thấy
biết chẳng những thay đổi cuộc sống con người trở thành hạnh
phúc và an lạc nhiều hơn trong khuôn khổ của nền tảng đạo
đức nhân bản mà có thể đưa họ đến giải thoát, tự
tại viên mãn. Chánh kiến mà Đức Phật muốn nói ở đây
là cái thấy biết đúng, chân thật về đạo đức của cuộc sống,
về vô thường, vô ngã, về nhân duyên, về Niết bàn và về
khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con
đường thoát khổ.
Nhân
duyên là mối tương quan mật thiết cho sự hình thành và sự sống
còn của nhân sinh vạn vật bởi vì cái này có vì cái kia có, cái
này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Tất cả mọi
vật thể trong thế gian này là do sự kết tập bởi biết
bao nhân duyên (trùng trùng duyên khởi) cho nên chúng không có tự thể (tự tánh) vì thế tất cả
đều là vô ngã. Muốn hiểu vô ngã hay không có tự
tánh thì trước hết phải hiểu thế nào là ngã hay tự tánh. Ngã
là bản chất để tự nó có thể phát triển và sinh tồn mà không
cần đến sự giúp đỡ bởi những nhân duyên khác. Nếu hạt lúa có
ngã thì tự nó lớn lên rồi trở thành cây lúa, nhưng hạt lúa không thể
tự nó phát triển được nếu không có những trợ duyên như đất,
nước, phân bón, ánh sáng…vì thế tự tánh của hạt lúa là vô
ngã hay nói một cách khác là hạt lúa không có tự tánh. Bất
cứ vạn pháp nào trên thế gian nầy mà muốn sinh
tồn hay phát triển được đều cần phải có trợ duyên. Cái xe
là sự tổng hợp của biết bao sắt, kim loại, plastic và công phu của
bao nhiêu người thợ…Cái nhà chúng ta đang ở là do cây, gỗ, gạch, ngói
và công thợ tạo thành mà chính cây, gỗ, gạch, ngói không thể tồn
tại bởi chính nó cho nên toàn bộ cái nhà không thể nào tồn
tại được vì thế cái nhà cũng là vô ngã nghĩa là cái nhà
nầy một ngày nào đó sẽ trở về với cát bụi vì phải chịu ảnh
hưởng bởi luật vô thường sinh, trụ, dị, diệt.
Con
người thì cũng thế, thân, tâm có được là do sự kết
tập và vận hành của ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) vậy thử xem thân, tâm có vô ngã không?
- Sắc
uẩn là sự tập hợp của đất, nước, gió, lửa mà trong đó có hàng triệu, hàng tỷ
tỷ nguyên tố biến đổi từng sát na. Muốn phát triển hay muốn bảo tồn sự sống thì thân
cần ngoại duyên như thức ăn, nước uống, nắng ấm... cho nên thân là vô ngã. Trong Tương Ưng Bộ
kinh (Samyutta Nikàya), Đức Phật dạy rằng: “Nầy chư Tỳ Khưu,
sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ
không phải là tự ngã. Cái gì không phải tự ngã ắt không phải là của ta,
không phải là ta, không phải là tự ngã của ta. Khi sắc thật sự sanh khởi,
ta phải phân biện nó với Chánh Kiến như vậy”.
- Thọ
uẩn là nhóm những cảm thọ do sáu căn tiếp xúc với sáu
trần. Gặp thuận duyên thì cảm thấy lòng hân
hoan vui sướng, gặp nghịch cảnh thì lo lắng, buồn
phiền, đau khổ. Nhưng có vui, có buồn cũng do sáu căn tiếp
xúc với sáu trần mà phát sinh ra cảm thọ, chớ cảm
thọ không tự nó có được vì thế thọ uẩn là vô ngã.
- Tưởng
uẩn là nhóm nhớ về quá khứ, mơ ước những chuyện tương lai, nhưng muốn có
những ký ức, kinh nghiệm để nhớ đó thì cần có ngoại
duyên đã xảy ra hoặc đang xảy ra trong tiềm thức cho
nên tưởng uẩn cũng là vô ngã.
- Hành
uẩn là nhóm tác ý khiến cho thân, khẩu, ý thực hành mà tạo
ra thân, khẩu, ý nghiệp. Khi con người có những tư
tưởng xấu ác, lời nói hung dữ hay hành động tàn ác thì trong tâm
phải có tác ý bất thiện đó. Ngược lại nếu chúng ta có
những tư tưởng tốt, lời nói hài hòa, hành động nhân
ái thì đây là những tác ý thiện. Nói chung tập hợp của tất cả
“tác ý” thiện hay bất thiện được thể hiện bằng tư
tưởng, lời nói hay hành động thì gọi chung là hành uẩn. Nhưng
sự tác ý là do tâm duyên với đối tượng bên ngoài cho
nên hành uẩn là vô ngã.
- Thức
uẩn là nhóm nhận thức từ những đối tượng bên ngoài do sáu
căn tiếp xúc với sáu trần tạo thành sáu cái tâm nhận thức tức là sáu
thức. Vì là do duyên từ bên ngoài nên thức uẫn cũng là vô ngã.
Thân,
tâm là do sắc, thọ, tưởng, hành, thức cấu tạo mà thành, nhưng mỗi uẩn
là vô ngã cho nên toàn khối ngũ uẩn là vô
ngã nghĩa là thân, tâm của chúng ta là vô
ngã mà Bát Nhã Tâm Kinh gọi là Ngũ uẩn giai không.
Do
đó, nếu chấp Thân là Ta, chấp Thọ là Ta, chấp Tưởng là Ta, chấp Hành
là Ta, chấp Thức là Ta thì một người mà bây giờ có tới năm cái Ta hay sao? Ngay
cả sắc uẩn là vô ngã thì làm gì có cái Ta trong đó vì
thế Đức Phật dạy rằng “Ai cho rằng sắc uẩn là Ta, là
Của Ta, là tự ngã Của Ta thì chắc chắn gặt hái đau
khổ, thất vọng, sầu muộn, vấp ngã và tai nạn”.
Các uẩn còn lại cũng thế. Thế thì thân, và tâm là vô ngã cho nên
không có gì gọi là Ta hay là cái của Ta. Nhưng vì còn sống trong vô
minh bất giác nên chúng ta thường ngộ nhận cho
rằng đây là thân của Tôi và tư tưởng, ý nghĩ hay lời
nói cũng là của Tôi. Khi vui thì cho rằng Tôi vui và khi đau
khổ thì nói là Tôi đau khổ. Thật ra tôi đâu có vui hay tôi làm gì
biết đau khổ mà chỉ có cái cảm giác vui hay cái đau khổ, nhưng tuyệt
đối không có người vui hay người đau khổ trong đó. Vì ngũ
uẩn luôn vận chuyển không ngừng từ trong ra ngoài rồi từ ngoài vào trong,
từ sinh lý đến tâm lý cho nên sắc, thọ, tưởng, hành,
thức hoạt động liên tục. Cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt
vì cái kia diệt cho nên toàn bộ sắc, thọ, tưởng, hành, thức sinh
diệt liên tục tạo ra những cảm giác vui buồn,
những biến đổi trong thân và tâm…mà chúng ta lầm
lẫn ngộ nhận những cảm thọ đó là Tôi hay là của
Tôi… Thí dụ có người đánh vào mặt thì chúng ta kêu “Tôi đau
quá” hay có người khen thì chúng ta hãnh diện là “Tôi sung
sướng quá”. Thật ra nếu bị đánh thì thân đau, thân bị chảy máu chớ đâu có dính
dáng gì đến Tôi. Bởi vì sau đó thân hết đau thì nói “Tôi không còn đau”.
Nếu thật sự có cái Tôi thì chỉ một cái Tôi duy nhất hoặc là “Tôi đau
quá” hoặc là “Tôi sung sướng quá” nhưng cái Tôi cứ tuần
tự thay hình biến dạng theo hiện tượng thì làm sao gọi đó là cái
Tôi được. Sự biến đổi liên tục theo thời gian đó chỉ
là sự vận hành của ngũ uẩn chớ không phải là Tôi hay là cái
của Tôi. Thế thường khi chúng ta làm chủ được một cái gì
thì cố nắm giữ rồi vội cho đó là của Tôi. Chưa có thì cố sức tìm cầu để có và
có một thì muốn có mười và cứ thế cái của Tôi cứ tăng trưởng cho
nên bản ngã cũng phải tăng trưởng theo. Con
người là một hợp thể cấu thành bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức tồn
tại trong thế gian này chỉ khi nào các hợp thể khác ở
chung quanh cùng tồn tại bởi vì tất cả các pháp đều nương tựa
vào nhau mà tồn tại. Vì thế cái Tôi chỉ là ảo giác trong tâm
của con người chớ không có thật vì các pháp luôn luôn biến đổi,
không bao giờ cố định. Cái tôi đã không có thì làm gì có cái của Tôi, tài
sản của Tôi, công danh của Tôi, những người thương
yêu của Tôi…mà phải khổ công gầy dựng và giữ gìn. Con
người thì không chấp nhận như thế, họ cho thế gian là
thật, thân này thật, những gì họ tác tạo là vĩnh viễn thuộc về họ cho
nên Đức Phật gọi họ là những người chạy theo ảo ảnh, nắm
bắt ảo ảnh để chuốc khổ vào thân. Cũng do si mê chấp
ngã cho nên không có cái Tôi mà vẫn tìm cho Tôi, giữ cho Tôi. Không có cái
của Tôi mà con người vẫn cố nắm giữ, bám níu, chấp chặt, ôm khư khư
vào lòng của cải thế gian thì làm sao tránh khỏi lo lắng, buồn
rầu và đau khổ.
Sau
cùng thực hành Chánh kiến rốt ráo là thấu hiểu
rõ ràng “Bốn Sự Thật” tức là chân lý Tứ Diệu Đế. Trọng
tâm của giáo lý Phật Đà nằm trong Tứ Diệu
Đế (Cattàri Ariyasaccani) (Four Noble Truths) mà Đức Phật tuyên
dương ngay trong bài thuyết pháp đầu tiên (Chuyển Pháp luân) cho
năm người bạn tu khổ hạnh cũ ở vườn Lộc uyển, gần thành
Ba-la-nại (Benarès). Giáo Pháp (Dhamma) là thực tướng,
là phương tiện để giải thoát ra khỏi mọi hình
thức khổ đau. Trong Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara
Nikaya), Đức Phật dạy rằng: "Dầu chư Phật có thị
hiện trên thế gian hay không, nầy các Tỳ Khưu, có một sự
kiện, một nguyên tắc nhất định, một định luật thiên nhiên, là
tất cả các vật cấu tạo đều Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha)
và tất cả đều không có gì trường cửu (Vô ngã, Anatta). Như
Lai đã chứng ngộ và thấu triệt điều ấy. Như
Lai quảng bá, truyền dạy, tuyên bố, xác định, phân
tách và chỉ dẫn rành mạch rằng tất cả các vật cấu
tạo (hữu lậu) đều vô thường, khổ và vô ngã". Và sau
cùng Đức Phật đã khẳng định trong Trung Bộ kinh (Majjhima
Nikaya) rằng: "Như Lai chỉ dạy một điều: đau khổ và
sự chấm dứt mọi đau khổ".
- Sự
thật thứ nhất là khổ (Khổ Đế) (The Noble Truth of the reality of
Dukkha) Đạo Phật là đạo như thật, không bi quan,
không lạc quan, không siêu hình ảo tưởng mà hiện
thực. Đức Phật không phủ nhận có hạnh phúc trong cuộc sống
từ vật chất đến tinh thần cho mọi tầng lớp trong xã
hội, nhưng rất tiếc không có niềm vui hay hạnh phúc nào vĩnh
viễn ở mãi với chúng ta, nó đến rồi ra đi bởi vì có duyên
sinh thì có duyên diệt nhanh chóng cho nên cuộc sống con người luôn
mãi khổ công nhọc kế đi tìm từ hạnh phúc này đến hạnh
phúc khác. Thế thì cái mà chúng ta gọi là hạnh
phúc phải chăng đó là khổ đau cũng ví như viên thuốc bọc
đường, khi chất ngọt tan mất thì vị đắng sẽ hiện ra. Ông hoàng
bà chúa có nỗi khổ theo lối vua chúa, ngược lại người nghèo khó cũng
phải cưu mang những nỗi khổ trong cuộc đời chẳng kém gì.
Trong cuộc sống, không nhất thiết phải khóc lóc mới là đau
đớn tột cùng, nhưng sẽ có lúc, sự câm lặng thầm kín mới gọi là đau. Đau
đến nỗi, chạm nơi nào cũng thấy nhói.
Vậy Đức
Phật nói những khổ gì?
Ngôn
ngữ Đức Phật dùng để thuyết pháp không phải là tiếng Pali
mà là tiếng Magadhi (Ma-kiệt-đà). Thật ra ngôn ngữ Ấn
Độ rất phức tạp ngay cả bây giờ cũng đã có gần trên 15 loại được
chính phủ Ấn công nhận. Đó là Sanskrit, Urdu, Bengali, Hindi…trong khi đó
Pali không phải là ngôn ngữ thuộc nhóm Indic mà thuộc về thổ
ngữ của vùng Trung Ấn. Giới thượng lưu và thành
phần vua chúa Ấn Độ nói tiếng Sanskrit trong khi đó
các thành phần dân chúng nói tiếng Magadhi, là ngôn ngữ gốc
của Đức Phật, và phần lớn thành phần hạ tiện nói tiếng
Paishachi. Vào thời Đức Phật còn tại thế, Ngài thuyết
giảng rất nhiều trong những cuộc hành trình dài bằng cách
đi bộ trong vùng Bắc Ấn gần nửa thế kỷ, nhưng chưa có ai nghĩ đến
việc kết tập cho nên sau khi Ngài nhập diệt các đệ
tử cảm thấy bàng hoàng vì sự thiếu vắng của bậc Đạo
Sư. Cuối cùng họ quyết định kết tập những lời giảng
dạy của Đức Phật và cô đọng lại thành kinh điển. Vì
thế kinh điển Phật giáo được truyền miệng gần 500 năm sau
khi Đức Phật nhập diệt hoàn toàn dựa vào trí
nhớ của người đọc kinh.
Thế
thì ngày xưa Đức Phật không nói tiếng Việt, tiếng Trung Hoa,
tiếng Anh hay tiếng Pháp mà chỉ nói tiếng Ấn Độ cho nên
trong kinh điển bằng tiếng Pali hay tiếng Sanskrit, Đức
Phật chỉ nói “Dukkha”. Khi dịch sang Việt ngữ thì “Dukkha” biến
thành “khổ” khiến mới nghe đạo Phật có vẻ quá tiêu
cực, thụ động. Thật ra ý nghĩa chữ “Dukkha” rất rộng
lớn bao gồm rất nhiều ý nghĩa với nội hàm nói lên sự thay
đổi từ tâm lý đến sinh lý của con người gây ra
sự xáo trộn, lo lắng, buồn phiền. “Dukkha” bao gồm cả
những hạnh phúc, những mong muốn thành đạt trong cuộc sống nữa
chứ. Nói chung tất cả những biến hành của tâm như vui, giận, yêu,
ghét, thương, thích, muốn (hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục)(thất tình) đều là “Dukkha”
cả. Thật ra bất cứ hạnh phúc nào trong thế
gian thì cuối cùng cũng nhàm chán, thất vọng,
không hài lòng, không thỏa mãn. Hạnh phúc chẳng khác nào
như chiếc bóng, không bao giờ ôm giữ được bằng đôi tay. Cuộc tìm
cầu hạnh phúc lúc nào cũng khó khăn đến khi có thì hạnh
phúc chợt đến, chợt đi và cứ thế con người cứ đi tìm và đi tìm
mãi không ngừng nghỉ và hành trình tìm cầu đó đâu có ai gọi
là hạnh phúc bao giờ? Nói chung tất cả những biến dạng của
tâm để cho chúng ta những cảm giác hạnh
phúc hay đau khổ tất cả đều phát xuất từ ngoại
duyên chớ thật ra trên thế gian này không có gì là khổ đau
hay hạnh phúc. Một khi có khổ hay hạnh phúc thì ngay vào thời
điểm đó có sự hiện diện của bản ngã nghĩa là tôi khổ hay
tôi sung sướng. Do đó nếu không có sự hiện diện của
“Tôi” thì ai đang khổ hay là ai đang sung sướng? Tất cả chỉ là sự cảm
thọ của ngũ uẩn chớ không người nào thọ lãnh khổ
hay sung sướng cả. Khổ tuy có muôn hình vạn trạng, biến
đổi từ sinh lý đến tâm lý, nhưng cho dù khổ có thay đổi
kiểu gì, con người có sống ở bất cứ xã hội nào hay làm bất
cứ nghề nghiệp gì thì chung quy cũng nằm gọn trong tam khổ, bát khổ:
1.-
Tam khổ: là ba loại khổ đau mà ai ai cũng phải gánh
chịu hằng ngày:
- Khổ
khổ: là những sự khổ đau luôn chất chồng lên nhau, khổ này chưa
dứt, nỗi khổ khác đã hiện lên. Tuy nhiên, nếu mình không muốn
rước phiền não vào mình thì người khác cũng không cách nào
gây phiền não cho mình được bởi vì tâm mình không buông xuống nổi.
Nên nhớ rằng khi bạn vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng.
Ngược lại, khi bạn đau khổ, bạn hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng
không trường tồn.
- Hành
khổ: Hành có nghĩa là tác ý, là ý muốn làm phát
xuất từ bộ óc rồi sau đó mới chuyển thành tư tưởng, lời
nói hay hành động. Vì thân, khẩu, ý luôn tác tạo cho nên con
người phải gánh chịu bao nhiêu hậu quả. Nếu chạy theo dục
vọng mù quáng thì thân, khẩu, ý sẽ đọa con người vào trong
những cảnh khổ trầm luân không lối thoát. Vì thế Đức
Phật dạy rằng con đường giải thoát là biết thanh
tịnh hóa thân, khẩu, ý của mình.
- Hoại khổ: Thế gian vũ trụ là do sự kếp tập
và vận hành của ngũ uẩn trong đó có thân, tâm của con
người. Vì thân, tâm là vô ngã cho nên nó phải chịu sự biến
hóa hoại diệt của luật vô thường sinh, trụ, dị, diệt nghĩa
là có sinh tất có ngày hoại diệt. Nếu không thấu hiểu chân
lý sinh, già, bệnh, chết cho nên khi mình có bệnh thì đau khổ, thấy
sắc diện không còn trẻ trung đẹp đẻ thì đau khổ, thấy người sắp chết hay
mình sắp chết thì phát sinh luyến tiếc, bám níu, đau khổ…
2.-
Bát khổ: Ngoài ba thứ khổ não trên, con người hằng
ngày thường xuyên phải đối diện trong cuộc sống tám
nỗi khổ khác:
- Mới sinh ra mắt nhắm
nghiền quang quác
Khóc quơ tay, chân đá đạp, oa oa
Cất tiếng vang cho một
kiếp Ta bà
Sinh
là khổ –
khóc dài cho một kiếp.
- Nợ trần gian mải xoay vòng trùng
điệp
Bụi vô thường tan tác
máu thời gian
Thân giả tạm mới đó cũng phai tàn
Già là khổ –
bóng thân dần tắt lịm.
- Từ sinh – lão cho ta dòng suy bệnh
Dẫu bạc vàng chồng
chất mấy tầng mây
Nhưng thân kia vẫn phải
chịu đọa đày
Bệnh
là khổ – làm sao ta tránh nổi.
- Và phút cuối tấm thân tàn còm cỏi
Thở hơi ra nhưng chẳng
thấy quay về
Thôi nhắm mắt giã từ một kiếp mê
Tử
là khổ – cuối
cùng cho mộng ảo.
- Sống hội ngộ ngỡ đâu đào hoa đảo
Nào ngờ đâu duyên phận lắm
bẽ bàng
Mới gặp đó thoáng chốc bỗng ly tan
Ái biệt
ly – ngậm ngùi phút ly biệt.
- Chuyện thế gian trách
đời sao khắc nghiệt
Vì tham lam nên mãi
chẳng thỏa lòng
Dù bạc kia vàng cao núi chất chồng
Cầu
bất đắc – góp hồn cho đau khổ.
- Tình thế trần ước cầu càng thêm
khó
Lánh mặt rồi sao vẫn phải gặp
nhau
Chẳng vui lòng mà thêm khổ
thêm đau
Oán
tặng hội – chỉ toàn là bất toại.
- Đời giả tạm cuối
cùng rồi cũng hoại
Nhưng vì mê nên chấp mãi cái ta
Rồi một ngày cũng bỏ kiếp Ta bà
Chấp ngũ
uẩn – chỉ lòng vòng sanh tử.
Tám điều khổ theo ta trong hành lữ
Bậc trí hiền mau chóng để
ngộ ra
Còn kẻ ngu cứ mải lặn hải hà
Làm nô lệ suốt
đời cho ma chủ.
(Nguồn:
Hoa Cúc)
Danh
từ “Khổ” không phải chỉ để mô tả sự đau đớn cho thân xác
hay cảm giác khó chịu của tinh thần mà còn bao
gồm tất cả những gì có thể tạo ra đau khổ hay gánh chịu khổ đau.
Vì thế chân lý về Khổ dạy rằng:”Vì nguyên lý vô
thường mà tất cả mọi hình thức khoái lạc dù là thiên
đường cực lạc cũng đều bị biến đổi và hủy diệt và tất cả
mọi hình thức hiện hữu đều mang mầm mống khổ đau”. Chính
vì sợ đau khổ nên con người cố nỗ lực tìm
kiếm khoái lạc mà không biết rằng chính họ sẽ bị khoái lạc lừa
đảo phản bội để rồi càng tìm kiếm khoái lạc con
người càng thất vọng và cứ thế họ chìm đắm trong bể
khổ trầm luân. Nói cách khác khổ là trạng
thái không thỏa mãn, bất toại nguyện làm cho con
người khó chịu. Ngay cả hạnh phúc mà con người đeo
đuổi cũng không thể tồn tại vì những điều kiện tạo duyên
cho nó phát sinh luôn biến đổi vì thế không có hạnh
phúc nào thật sự vững bền cả. Hạnh phúc mà chúng
ta mong muốn chỉ tồn tại nhất thời và những đối tượng
mà chúng ta khao khát mong mỏi chẳng qua chỉ là phù du tạm
bợ, có đó rồi rồi mất đó chẳng khác nào như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt
một làn hương. Ngay cả những thiên tài là những người lúc nào cũng
dằn vặt về nỗi khổ hiện sinh, về sự chán chường và sự cô đơn. Như
Ernest Hemingway từng viết: “Hạnh phúc ở những người thông
minh là điều hiếm gặp nhất mà tôi biết.”
- Sự
thật thứ hai là nguyên nhân của khổ (Tập Đế) (The Noble
Truth that Dukkha has a causal arising)(Samudaya) Khổ là sự khao khát của những
hứng thú, dục lạc, đam mê, ái dục…và nó nảy sinh và phát triển nơi
nào có sự yêu thích, hài lòng, hay hạnh phúc. Thông thường chúng
ta đo lường đau khổ bằng cảm thọ, nhưng cảm
thọ không phải là đau khổ mà nguyên nhân gây ra khổ là
sự giữ lấy dục vọng. Nói thế nghĩa là chính dục vọng tự nó không
có khổ đau, nhưng nguyên nhân gây ra khổ đau là sự giữ lấy, bám
níu, chấp thủ dục vọng đó.
Hằng
ngày mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, thân xúc chạm phát sinh biết
bao dục vọng mà nhà Phật gọi là vọng tưởng. Thấy xe đẹp,
đắc tiền sinh ra đam mê, thích thú. Nghe người khen
thì hạnh phúc. Uống ly rượu ngon hay hay ăn cao lương mỹ vị thấy
lòng lâng lâng sung sướng…Nhưng tất cả những cảm thọ thích thú,
hay hạnh phúc đó không phải tự nó làm cho chúng ta đau
khổ mà đau khổ chỉ bắt đầu hình thành trong tâm một
khi chúng ta muốn lưu giữ, kéo dài hay chạy
theo những thích thú đam mê đó. Ngày xưa, Đức
Phật và các bậc Thánh giả vẫn sống, vẫn sinh
hoạt trong thế giới này. Ăn thì họ vẫn biết ngon dở, mũi ngửi
biết mùi thơm hay thối, lưỡi nếm vẫn biết vị mặn, ngọt, chua,
cay…nghĩa là năm giác quan và hệ thống thần kinh não
bộ vẫn hoạt động như tất cả mọi người. Thế thì người giải
thoát khác ta hay ta khác người giải thoát ở chỗ nào? Đối với
người giải thoát ăn thì vẫn biết món ngon, món dở, món mặn, món lạt
nghĩa là các giác quan không hề bị mất tính năng động, nhưng sự
khác nhau giữa Thánh và phàm là Thánh nhân tuyệt đối không
chấp vào món ngon hay dở nghĩa là ăn thì ăn miễn sao no thôi; ngon cũng
ăn, dở cũng ăn chứ không đòi hỏi phải như thế này hay thế kia. Còn chúng
ta chỉ thích ăn món ngon, vật lạ vì nó cho ta những cảm
thọ thích thú, êm đềm, hạnh phúc nên muốn tận hưởng và kéo
dài những giây phút hạnh phúc êm đềm đó càng nhiều, càng lâu thì
càng tốt. Một khi tâm muốn chạy theo ái dục thì đây
là nguyên nhân gây ra những nỗi khổ niềm đau. Nói cách khác,
mỗi khi mắt thấy, tai nghe, lưỡi nếm, mũi ngửi, thân xúc chạm thì ta biết rất
rõ, nhưng đừng bám níu vào những cảm giác, vì hiện tại duyên
sinh nên ta có món ngon thì cứ thưởng thức nó, đến giây phút sau
duyên diệt thì hết, không lưu luyến, thèm khát thì nguyên
nhân gây ra khổ không bao giờ có. Nên nhớ của
cải vật chất trên thế gian vốn không thuộc về ta mà nó
chỉ cung ứng cho ta, vì thế chúng ta không cần vứt
bỏ nó, cái chúng ta cần vứt bỏ chính là những
tánh cố chấp, những tư duy sai lầm về Ngã. Vì thế biết thì
cứ biết, nhưng không lưu giữ (chấp thủ) nó vào tâm thì nguyên
nhân gây ra đau khổ không còn. Dục vọng là những thứ
do ngoại duyên đưa đến chớ thật sự trong ta không bao giờ có dục
vọng. Nếu không thấy tiền thì lửa tham không bùng cháy, không thiêu
đốt tâm can. Nếu mắt không thấy cô gái đẹp thì tâm của gã si
tình không bao giờ xao xuyến…Nhưng làm thế nào để buông dục
vọng xuống? Đức Phật dạy rằng “buông xả” không có nghĩa là hủy
diệt hoặc vứt bỏ, ném nó đi mà chỉ cần bỏ mặc nó rồi dục vọng sẽ
qua đi. Chúng ta chỉ cần tỉnh thức Chánh
niệm để biết thật rõ ràng nó là dục vọng, nó là tham, nó là
sân, nó là si rồi buông nó xuống, không chấp thủ, không dính mắc, luu
luyến thì nó sẽ biến mất. Vì mắt thấy tiền (cái này sinh) nên lửa tham
nổi dậy (cái kia sinh); bây giờ không chấp, không tham luyến vào
tiền nữa (cái này diệt) thì lửa tham dập tắt (cái kia diệt).
Có thực hành buông xả thì nguyên nhân gây ra đau
khổ không còn. Thông thường những nỗi khổ niềm đau bắt nguồn từ
sự ràng buộc của lý tưởng và những phức tạp do
chính chúng ta tạo ra. Đôi khi chúng ta quá khắt khe, chỉ
trích mọi thứ và cả chính chúng ta. Thật ra, đời
sống và thế giới chúng ta đang sống dường như
không bao giờ theo ý muốn của chúng ta cho nên
nếu thực hành đứng đắn sự buông xả thì nguyên
nhân gây ra đau khổ sẽ vĩnh viễn xa lìa.
Tóm
lại, nguyên nhân gần gây ra biết bao nỗi khổ niềm đau chính là
sự vô thường của vạn vật. Từ sự vô thường đó mới
có sinh ly tử biệt, sinh già bệnh chết…Nhưng nguyên nhân xa
sâu thẳm chính là “Ái dục”. Ái biến đổi khôn lường từ
ái sắc, ái thanh, ái hương, ái vị, ái xúc cho đến ái pháp.
Nó biến đổi dị thường từ hình thức này sang hình
thức khác, quyến rũ khiến tâm con người rơi vào
vòng kiềm tỏa của nó.
"Ái luyến sinh sầu ưu,
Ái
luyến sinh sợ hãi.
Ai giải
thoát ái luyến
Không sầu,
đâu sợ hãi?" (Pháp Cú 213)
-
Sự thật thứ ba là sự diệt khổ (Diệt Đế) (The truth of the
end of Dukkha)(Nirhodha) Khi hành giả thực sự diệt hết khổ đau nghĩa
là mọi mầm mống của tham, sân, si, ái dục hoàn toàn bị dập
tắt thì người có thanh tịnh, tự tại Niết bàn. Niết
bàn không phải là cảnh giới siêu hình hay thế giới cực
lạc nào đó trong càn khôn vũ trụ mà chỉ là trạng
thái thanh tịnh, tự tại phản ảnh bản tâm của người có
cuộc sống toàn thiện, chân thiện và thánh thiện, không còn phiền
não khổ đau chi phối. Nói cách khác, Diệt Đế là
một trạng thái tâm đã đoạn diệt lòng ham muốn và
các ác pháp, người sống trong trạng thái này được xem là
đã giải thoát hoàn toàn tức là người đã làm chủ
sự sống chết của mình. Và người làm chủ sự sống
chết của mình là người hạnh phúc nhất trên thế
gian này.
Vào
thời Đức Phật còn tại thế có một ẩn sĩ Bà-la-môn
khi gặp ngài Xá Lợi Phất liền hỏi :
- Niết
bàn, Niết bàn, này ông bạn Xá Lợi Phất xin cho biết đó
là cái gì vậy?
Tôn
giả Xá Lợi Phất bèn trả lời :
-
Sự tiêu diệt lòng tham muốn, sự tiêu diệt lòng nóng
giận hận thù, sự tiêu diệt lòng si mê sai lạc là
cái mà con người gọi là Niết bàn.
Khi
nói về Niết bàn, chính Đức Phật cũng dạy thêm rằng :
- Nếu chúng
sinh nào đã từ bỏ thú vui và tham muốn, đã đầy đủ trí
tuệ thì họ đã đạt đến sự giải thoát sinh tử, sự tịch
tĩnh, đã đạt đến Niết bàn tức là nơi an dưỡng thường
tồn, vĩnh cửu ngay ở trong cõi đời nầy.
Như
vậy, Niết bàn không phải là một cõi, một cảnh và dĩ
nhiên Niết bàn cũng không phải là cái hư vô. Rõ
ràng Niết bàn không thể dùng văn tự ngôn
ngữ của con người để diễn tả, vậy Niết bàn thật
sự có hay không có?
Trong kinh
Na Tiên Tỳ Kheo, Ngài Na Tiên đã trả lời câu hỏi tương
tự như thế của vua Milinda rằng :
-
Tâu Hoàng thượng, thật sự có Niết bàn và Niết bàn chỉ có
thể lấy trí mà nhận biết. Nếu chúng sinh giữ được tâm thanh
tịnh và chánh trực, thoát khỏi các nghiệp
chướng và thoát khỏi được các tham muốn thấp
hèn thì chính họ sẽ thấy được Niết bàn.
Nhà
vua xin cho một thí dụ.
Ngài Na
Tiên lại tiếp :
-
Hoàng thượng biết một cái gọi là gió, nhưng Hoàng thượng có biết gió màu sắc
gì, hình dáng ra sao, nó dày hay mỏng, dài hay ngắn?
Nhà
vua đáp :
-
Gió thì vô hình vô sắc làm sao chỉ được. Tuy không chỉ được, nhưng
nó vẫn có.
Bây
giờ Tỳ Kheo Na Tiên mới kết luận :
- Cũng
thế, tâu Hoàng thượng, Niết bàn là cái thật sự có mà không thể
dùng văn tự ngôn ngữ để diễn tả cho con
người thấy được hình sắc của nó.
Thế
thì làm sao biết được Niết bàn, nhà vua lại hỏi.
-
Nhờ sự thoát khỏi phiền não, nghiệp chướng, nhờ sự an
ổn, an lạc thanh tịnh thì có được Niết bàn.
Rồi
ngài Na Tiên lại tiếp :
-
Như người té vào đống lửa ngùn ngụt, nếu họ cố gắng vượt ra khỏi và lên
đựoc chỗ mát thì người ấy sẽ cảm thấy sung suớng vô
cùng. Cũng thế, người thoát khỏi lửa của tham, sân, si sẽ huởng
cái sung sướng an tịch của Niết bàn. Cũng như người thoát ra
khỏi những tâm niệm bất thiện, người ấy sẽ hưởng cái sung
sướng Niết bàn. Và sau cùng những ai thoát khỏi cái lo sợ của
sanh, lão, bệnh, tử người ấy sẽ hưởng cái sung sướng Niết bàn.
Trong
cuộc sống hằng ngày, có những giây phút chúng ta không
còn quan tâm đến sắc, tài, danh, lợi cũng không còn để cho tham
sân si lấn áp, tinh thần sáng suốt nhẹ nhàng thì ngay lúc
đó chúng ta đang sống trong Niết bàn. Nhưng rất tiếc Niết
bàn đến với chúng ta quá ngắn ngủi bởi vì khi tâm quay
về với đời sống thực tại thì Niết bàn biến mất
và lo lắng, phiền não xen vào. Vì thế thanh tịnh tự
tại Niết bàn nằm trong tay ta và dĩ nhiên lo
lắng, buồn phiền cũng do ta.
- Sự
thật thứ tư là con đường thoát khổ. (Đạo Đế) (The Noble
Truth of the Path that leads to Awakening)(Magga) Đạo đế là con
đường đưa hành giả trở về với đời sống đạo
đức nhân bản, không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ muôn
loài. Trong đó, Bát chánh đạo được xem là độc lộ để thăng
hoa cuộc đời và đạt đến cứu cánh tối
thượng là giải thoát giác ngộ.
Như
thế Chánh kiến là nền móng vững chắc để xây căn
nhà Bát chánh đạo. Không có căn nhà Bát chánh đạo nào bền
vững nếu con người không dụng tâm thực hành thâm
sâu Chánh kiến hằng ngày để giúp cho chúng ta thấy
biết đúng.
Chánh
kiến cho chúng ta thấy biết rõ ràng thế gian vũ
trụ này là do nhân duyên kết tập trải qua trùng
trùng duyên khởi từ vô thỉ đến vô chung chớ không phải do Thượng
đế sáng tạo.
Khoa
học ngày nay khám phá vũ trụ có được là do một vụ nổ lớn từ một
vi tử (The Big Bang Theory) khoảng 13.7 tỷ năm về trước và từ đó những dãy
Thiên Hà được tạo dựng. Trước năm 1913 vũ trụ đối với khoa học chỉ
vỏn vẹn có dãy Ngân Hà (The Milky Way). Mãi sau khi Edwin Hubble đo được khoảng
cách của dãy Thiên Hà Andromeda khoảng 900,000 năm ánh sáng thì vũ
trụ mới được hiểu là do sự tạo thành của rất nhiều dãy Thiên Hà
khác chớ không nhất thiết chỉ có dãy Ngân Hà mà thôi. Nhưng mãi đến
năm 1965 tại phòng thí nghiệm của hảng điện thoại Bell, hai nhà khoa học Arno
Penzias và Robert Dicke thuộc đại học Princeton vô tình khám
phá những năng lượng rơi rớt lại trong không
gian sau vụ nổ lớn 13.7 tỷ năm về trước và từ đó họ đưa ra thuyết “The Big
Bang”.
Hiện
nay vũ trụ vẫn còn nằm trong thời kỳ nới rộng cho
đến khi tất cả những hành tinh nóng như mặt trời…đốt cháy hoàn
toàn những nhiên liệu như Hydrogen, Helium…và lúc đó vũ trụ sẽ
chìm vào bóng tối, băng giá. Sau đó vũ trụ sẽ thu trở
lại thành vi tử như lúc ban đầu. Hiện tượng này gọi là The
Big Crunch.
Thế
thì thế gian vũ trụ sinh rồi diệt và diệt để rồi sinh trở
lại, nhân này quả nọ vô cùng vô tận từ vô thỉ đến vô chung, vậy
đâu là điểm khởi đầu và đến bao giờ là ngày cùng tận?
Ngày
xưa, khi khoa học còn nằm trong thời kỳ phôi thai, tín
ngưỡng phát triển rất mạnh. Thế nhưng, ngày nay khoa học tiến rất xa
và con người có tầm nhìn khá chính xác về nhân
sinh vũ trụ cho nên tín ngưỡng, ngay cả tín ngưỡng dân
gian, càng ngày càng bị thu hẹp. Vì thế Đức Phật luôn nhắc
nhở chúng sinh đừng tin vội, tin vàng (Believe nothing, no matter
where you read it, or who said it, no matter if I have said it, unless it
agrees with your own reason and your own common sense. Buddha.) mà hãy
dùng trí tuệ để nhận xét một cách công minh thì chúng
ta đang thực hành Chánh kiến. Phật giáo ngày nay pha
trộn quá nhiều với tín ngưỡng dân gian làm cho Phật
giáo mất đi định hướng. Tin tưởng sai lầm còn tác
hại hơn là không tin tưởng gì hết. Hiện nay, người Tây
phương thuộc về tín ngưỡng thần quyền (religious) ở Hoa kỳ,
Âu châu hay ngay cả Úc châu đi nhà thờ càng ngày càng sa sút đặc
biệt là giới trẻ. Họ muốn đi tìm một định hướng mới cho cuộc sống, ngay cả
những người không tin vào Thượng đế (atheism and agnosticism) bắt
đầu quay về tìm hiểu, học hỏi và thực tập giáo
lý Phật Đà càng ngày càng nhiều. Họ cảm thấy thoải
mái và hạnh phúc hơn khi thực tập Bát chánh
đạo và các phương pháp thiền. Họ tự tin nhiều hơn về lối
sống mới vì chính họ tự lèo lái con thuyền định mệnh của họ chớ
không do ai khác. Ngược lại, thế hệ trẻ Việt Nam ở Hoa Kỳ
và khắp nơi trên thế giới không biết tý gì về giáo
pháp ngoài việc tụng kinh ê a và cơm chay. Vì thế nếu
không thông hiểu và thực hành Chánh pháp, khi thế hệ đi
trước mất đi thì có lẽ Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại sẽ biến
mất giống như những thế hệ của người Trung Hoa ở Hoa Kỳ cách nay trên
50 năm cho dù có bao nhiêu chùa to, Phật lớn. Nếu các em biết thực
hành Bát chánh đạo vào trong cuộc sống thì chính các em sẽ có biết
bao lợi lạc, gia đình sẽ trên thuận dưới hòa, mọi
người sẽ sống trong đạo đức nhân bản và kết quả gia
đình sẽ có nhiều hạnh phúc và an lạc. Ngược lại, nếu
không thông hiểu Bát chánh đạo, các em dễ dàng bị cải
đạo vì nghĩ rằng đạo nào cũng tốt.
Phật
giáo là tôn giáo không có tín ngưỡng bởi vì Phật
giáo không phải là một hệ thống tín ngưỡng và lễ
bái và Phật giáo không chấp nhận sự hiện hữu của
một hay nhiều Thần Linh có năng lực chi phối định
mệnh con người và con người có phận sự vâng
lệnh, phục vụ và tôn sùng. Do đó, trong Bát Chánh Đạo,
không bao giờ có Chánh tín do đó niềm tin trong Phật
giáo hoàn toàn khác hẳn với niềm tin của những tôn
giáo hữu thần (nhất thần giáo hoặc đa thần giáo). Vì thế
nhánh đầu tiên của Bát Chánh Đạo là Chánh kiến nghĩa
là con người phải có cái thấy biết một cách sát thật, rõ
ràng, vô tư. Khi đã thấy biết sát thật thì niềm tin bây giờ
không còn cần thiết nữa. Ngược lại, không thấy biết sát thật, nghiêng
hướng này hay hướng kia thì gọi là tà kiến. Do vậy, đạo Phật là
đạo “đến để thấy biết, chớ không phải đến để tin” cho
nên đức tin không phải là một điều quan trọng trong Phật
giáo và người đệ tử Phật không cần đến đức tin mà chỉ
cần tinh tấn. Phật Giáo không đòi hỏi nơi tín
đồ một đức tin mù quáng. Do đó một niềm tin tưởng
suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là lòng tín nhiệm căn cứ
trên sự hiểu biết. Chính Đức Phật đã khẳng định rằng :“Ta
không là Thượng đế, cũng không phải là thần linh, mà chỉ là
một con người, nhưng con người đã chiến thắng thế gian”. Đức
Phật đã chiến thắng thế gian, nhưng Ngài không cần ngai vàng để ngự
trị và cũng không cần thần dân để được tôn vinh. Ngài sống rất thảnh
thơi với ba mảnh y và một bình bát, nhưng chiến thắng được tâm mình
mới là chiến thắng vĩ đại nhất. Đức Phật chỉ là một đạo
sư và giáo pháp của Ngài là ngọn đuốc tuệ giúp chúng
sinh nương theo đó tìm ra con đường sáng, con
đường giải thoát giác ngộ cho chính mình.
Để giải
thích mối quan hệ giữa lòng tin và trí tuệ, Đức
Phật dạy rằng: “Người có lòng tin mà không có trí
tuệ thì thường làm tăng trưởng vô minh. Người có trí
tuệ mà không có lòng tin thì thường làm tăng trưởng tà
kiến”. Trí tuệ ở đây cần được hiểu là năng lực suy
xét và phán đoán mọi sự việc cho nên nếu trí tuệ không
có lòng tin vào Chánh pháp thì người tu tập dễ rơi
vào tà kiến, tăng trưởng tự cao, tự đại, luôn cố
chấp không thấy được chỗ sai lầm của mình. Ngược lại, người
có lòng tin vào Chánh pháp mà thiếu đi trí tuệ để
nhận hiểu và phân biệt đứng đắn thì dễ dàng lún sâu vào
chỗ si mê, tăm tối, mê tín dị đoan.
Từ
xưa đến nay, lý trí và đức tin luôn chống đối với
nhau. Lý trí dùng lý luận và suy tư phát xuất từ kinh
nghiệm và nhận xét, trong khi đức tin nằm trong phạm
vi tình cảm, không thể suy luận, suy xét hay giảng
giải được. Do đó những tôn giáo thần khải thì đức
tin là Thượng đế cảm nhận bằng trái tim, không phải bằng lý
trí. Tình thương phát xuất bằng trái tim thì dựa vào tình
cảm nên rất thăng trầm vì thế nó có lúc đúng, có lúc sai, có lúc
thương, có lúc ghét. Ngược lại lòng từ bi phát xuất từ
trí tuệ sáng suốt thì dựa theo tinh thần khách
quan bình đẳng, không thiên vị. Thêm nữa, đối với những tôn
giáo thần khải thì thần thông, phép lạ là quan trọng. Ngược
lại Đức Phật, đã chứng lục đại thần thông, coi đó là
không đáng kể và không thích đáng bởi vì điều quan trọng
nhất vẫn là bồi dưỡng trí tuệ để có giải thoát. Đối
với đạo Phật, những người có phép lạ không nhất
thiết là bậc giác ngộ hay các bậc Thánh cho nên theo Đức
Phật, thần thông phép lạ cao siêu
nhất và huyền diệu nhất phải là làm sao biến một người ngu
si thành một người khôn ngoan, trí tuệ. Do đó hạnh
phúc hay khổ đau là do nơi con người chớ không tùy
thuộc vào một đấng quyền năng tuyệt đối nào.
Từ
khi con người xuất hiện trên quả địa cầu trải
qua biết bao nền văn minh cổ đại bắt đầu từ Ai Cập rồi đến Hy
Lạp, La Mã cho đến ngày nay, ý nghĩa về Thượng
đế rất thăng trầm, thay đổi từ nhất thần cho đến đa
thần tùy theo mỗi thời đại. Nếu Thượng đế là
đấng toàn năng thì tại sao Thượng đế lại để con
người uốn nắn Ngài tùy theo ý muốn của con người? Từ
đó, chúng ta dễ dàng kết luận rằng dọc theo dòng tiến
hóa của nhân loại, con người đã sáng
tạo ra Thượng đế chớ không phải Thượng đế đã sáng
tạo ra con người. Bằng chứng là ông trời của Trung Hoa đâu có giống
ông trời của người Do thái hay ông trời của người Ấn Độ cho
nên ngày nay, mỗi tôn giáo tự tạo một Thượng đế riêng
cho tôn giáo của mình, Thiên chúa giáo có God, Hồi
giáo có Allah, Ấn Độ có Brahman, Trung Hoa thì có Ngọc Hoàng…từ
đó mới có chiến tranh, hiềm khích và giết hại lẫn nhau để
dành độc quyền ông Thượng đế không có thật đó.
Vào thời Đức Phật còn tại thế, Bà la môn giáo tin
rằng linh hồn được gọi là Atman (tiểu ngã) là do đấng toàn
năng tạo ra và tất cả mọi sự sống trên quả địa cầu này đều
có linh hồn. Linh hồn chuyển từ thân xác này qua thân xác khác, cứ thế
cho đến khi có giải thoát thì tiểu ngã sẽ hòa đồng
với đại ngã Brahman tức là Thượng đế hay là linh
hồn của vũ trụ.
Đến
khi đạo Phật ra đời, Đức Phật phủ nhận con
người là do Thượng đế sinh ra và phủ nhận luôn cả ý
nghĩa linh hồn (Soul) là do Thượng đế ban cho ta. Do
đó, vào thời Đức Phật còn sinh tiền có sự ngăn cách rất rõ
ràng giữa Phật giáo và đạo Bà la môn. Phật
giáo chủ trương vô thần, diệt trừ bản ngã, tự giải
thoát, bình đẳng và không có cúng tế nghi lễ rườm
rà phức tạp. Đức Phật không chấp nhận khái niệm về
một linh hồn bất tử hay ngay cả một bản
ngã thường tại. Ngược lại đạo Bà la môn tin rằng có
tự ngã và khi chết thì tự ngã hòa nhập vào đại ngã để có giải
thoát. Vì thế con người mới cầu xin vào đấng phạm
thiên, tin tưởng vào thần linh nên cúng kiến cầu
xin ban phước, tha tội.
Trong kinh
Pháp Cú (145), Đức Phật khẳng định rằng:
"Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta
tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong
sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai
có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.
Sau
khi đắc tứ thiền, Đức Phật với Tuệ Minh Sát
và trí tuệ của bậc Chánh đẳng Chánh giác thấy biết như
thật rằng từ con người cho đến nhân sinh vũ
trụ tất cả đều là do nhân duyên, cái này có vì cái kia có, cái này sinh
vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt, nhân này quả nọ mà tạo thành
chớ tuyệt đối không có ai là tác giả cả. Do đó Đức
Phật phủ nhận sự hiện hữu của Thượng đế trong cuộc
sống và dĩ nhiên không có Thượng đế thì làm gì có ai cho
ai linh hồn. Dựa theo các tôn giáo thần quyền, linh
hồn là một thực thể vĩnh hằng do Thượng đế ban
cho loài người cho nên linh hồn có thể chuyển từ thân xác
này sang thân xác khác hay từ cõi này sang cõi khác. Ngược lại, đối
với đạo Phật cái tâm còn không có thì làm gì có linh hồn. Tâm
nhà Phật gọi là Thức. Thức là cái biết biến đổi liên tục dựa
theo sự biến dạng tâm lý và sinh lý của con
người mỗi khi lục căn tiếp xúc với lục trần. Thí
dụ mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm mùi
vị hay thân cảm xúc hoặc ý duyên với pháp trần thì có
biết bao tư tưởng đưa vào tâm để cho ta cái biết. Phật
giáo dùng chữ sát na để chỉ cho đơn vị thời
gian nhỏ nhất và một sát na xảy ra rất nhanh bởi vì mỗi một cái
nháy mắt có thể có hàng trăm sát na cũng như đơn vị nhỏ
nhất để đo thời gian của nhân loại ngày nay là giây.
Khi thành
đạo, Đức Phật với tuệ minh sát, với trí tuệ của
bậc Chánh đẳng Chánh giác khi quán chiếu lại thân, tâm của
mình và của nhân loại thì Ngài thấy rằng chúng sinh không
hề có tâm mà chỉ có những sát na tư tưởng kết nối và kết nối
lại với nhau khiến chúng ta cảm giác như có tâm. Thí dụ ở sát na trước
mắt thấy sắc cho ta cái biết của sắc (nhãn thức), đến sát na sau
tai nghe âm thanh cho ta cái biết về âm thanh (nhĩ
thức)…Cái biết sau nối tiếp (thay thế) cái biết trước và cứ thế cái
biết liên tục sinh diệt tạo thành chuổi thức chớ thật sự không
có một thức nào (hay một cái tâm nào) cố định cả. Cái tâm sau thay thế cái tâm
trước và cứ thế tâm luôn sinh diệt tuôn chảy trong tâm
hồn của chúng ta vì thế Thức dựa theo Phật
giáo là dòng chảy liên tục của các ý niệm (sát
na tư tưởng). Vì sự ngộ nhận lầm lẫn cho rằng mình có tâm
cho nên họ mới nghĩ rằng trong ta phải có cái Ta. Bây giờ không có tâm thì làm
gì có Ta hay cái của Ta tức là hoàn toàn vô ngã. Thí dụ, ban đêm
nhìn ra xa lộ ở Hoa Kỳ, chúng ta thấy ánh sáng đèn chạy dài như dòng
sông uốn khúc. Nếu bây giờ lấy hết những chiếc xe kia đi thì dòng sông ánh sáng
đó sẽ không còn. Nói cách khác nếu không có những ánh sáng từ những
chiếc xe kết nối lại thì không bao giờ có ánh đèn sáng dài đến thế.
Cái tâm con người thì cũng thế, tuy mỗi sát na tư
tưởng rất nhanh, nhưng vì kết nối liên tục những sát
na tư tưởng đó thì chúng ta có một chuổi thức mà con
người lầm lẫn cho là có tâm.
Hãy
lắng nghe trong Vô Môn Quan có ghi lại cuộc đàm
thoại đầu tiên giữa Bồ-đề-đạt-ma và Huệ Khả. Bồ-đề-đạt-ma ngồi nhìn
vách tường. Huệ Khả dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói:
"Con
không an được tâm, xin thầy an tâm cho con."
Đạt-ma
bảo: "Đưa tâm cho ta, ta sẽ an cho."
Sư
đáp: "Con không thấy tâm đâu cả."
Đạt-ma
đáp: "Ta đã an tâm cho con."
Tâm quá
khứ đã qua, tâm tương lai chưa có, tâm hiện tại đang quay
cuồng sinh diệt thế thì Huệ Khả biết cái tâm nào để tìm? Vì
sự ngộ nhận có tâm cho nên Đức Phật dạy rằng: “ Tâm
là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối bạn nhất thời,
nhưng nó lại gạt bạn suốt đời”.
Nghiệp
lực là sức mạnh (năng lực, power, force) của nghiệp và là động
cơ chính khiến chúng sinh dính liền với sinh tử luân
hồi. Chính nghiệp lực đã chuyển Thức cuối cùng (Tử
tâm) sang Thức tái sinh để tạo thành sự sống cho
một thai nhi. Nếu cho rằng những con người vừa mới sinh ra là do
sự sáng tạo của Thượng đế và không có liên
quan gì đến kiếp sống trước thì Phật giáo gọi đây là đoạn
kiến, là không đúng. Ngược lại, có quan niệm cho rằng linh
hồn từ kiếp trước đầu thai vào kiếp sống mới thì đạo
Phật gọi đây là thường kiến, cũng không đúng luôn. Dựa theo tinh
thần Phật giáo, sự hình thành của Danh và Sắc trong một kiếp sống mới là kết
quả của vô minh, tham ái và nghiệp từ kiếp trước. Nói thế
nghĩa là kiếp sống mới không phải là sự đầu thai của kiếp sống cũ,
nhưng nó không phải không từ kiếp sống cũ mà có. Ví cũng như khi một cây đèn
cầy được mồi từ ngọn lửa của cây đèn thứ nhất, ngọn lửa mới bây giờ không phải
là ngọn lửa của cây đèn cầy thứ nhất, nhưng nó không thể
hiện hữu nếu không có ngọn lửa của cây đèn thứ nhất. Thế thì hai
cây đèn cầy hoàn toàn khác, kích thước khác nhau, màu sắc khác nhau,
ngọn lửa cũng khác nhau. Do đó, từ tướng diện, nhân cách, tài năng…cho đến mọi
sự khổ, vui trong đời này là phản ảnh trực tiếp từ những
nghiệp mà con người đã kiến tạo từ kiếp trước cho
nên hai ngọn lửa khác nhau là thể hiện hai cuộc sống khác
nhau. Thí dụ tiền kiếp có người sống trong giàu
sang quyền quý, nhưng tham lam bỏn xẻn, ưa hãm hại người (ngọn
lửa cây đèn thứ nhất) nay sang đến kiếp này thì cuộc sống trở
thành nghèo đói và luôn bị người hãm hại lại (ngọn lửa của cây đèn
thứ hai).
Nếu
nói Thượng đế là đấng toàn năng, toàn thiện thì tại
sao Ngài lại sáng tạo cái thế giới con người đầy dẫy tội
lỗi đau thương? Tại sao Ngài tạo ra biết bao nhiêu cảnh tai trời ách nước,
tàn phá, giết hại chúng sinh? Như thế thì lòng bác ái của Ngài ở đâu?
Vậy sự cầu nguyện có làm bớt thiên tai, dịch họa, chiến tranh
hay khổ đau của con người được không? Vì thế Phật giáo phủ
nhận sự hiện hữu thần linh trong cuộc sống của con người.
Theo tinh thần Phật giáo thì chính con người phải tự
mình giải quyết những vấn đề như chiến tranh hay hòa
bình, hạnh phúc hay khổ đau của chính mình. Chiến tranh hay hòa bình
là do con người quyết định chớ không dính dấp gì tới Phật trời
cả. Nếu con người biết sống khoan dung độ lượng,
biết thương yêu nhau thì họ biến chiến tranh thành hòa bình, ngược
lại nếu các nhà lãnh đạo chạy theo những tham vọng đen
tối thì từ hòa bình thành chiến tranh giết chóc thế thôi. Thêm nữa, do sự
chuyển động của trái đất, của núi lửa, của những cơn gió lốc…theo định
luật vô thường: sinh, thành, hoại, diệt đã tác hại con người.
Nói chung thì đó cũng là do lòng tham của con người phá hũy môi
trường sống của chính mình qua chiến tranh, qua những cuộc thí nghiệm nguyên
tử, qua tàn phá thiên nhiên, đốt rừng tiêu hủy cây cối…tạo nên
những ảnh hưởng dây chuyền nguy hiểm cho nhân sinh. Con
người cũng vì muốn thỏa mãn lòng tham mà đi ngược lại
với thiên nhiên nên hàng ngày lấy lên từ lòng đất, từ lòng biển hàng
triệu thứ từ kim cương đến vàng, bạc, nhôm, sắt, khí đốt, dầu hỏa rồi
lại thải ra hàng triệu tấn chất độc tác hại gây ra lầm
than qua thiên tai, động đất, sóng thần, bảo lụt, hạn hán…Vì
thế con người không thể tin rằng có một Thần linh nào đó có
thể nhẫn tâm trừng phạt, hủy diệt loài người và
gây đau thương chết chóc tang tóc khắp mọi nơi.
Mới
đây nhất, có trận động đất rất lớn xảy ra vào ngày 25 tháng 4 năm 2015 ở
Nepal với cường độ 7.8 Richter scale cách thủ đô Kathmandu 80 cây số về phía
tây bắc sát hại trên 8000 người và trên 18,000 người bị thương.
Sau đó kéo theo hàng loạt những cơn động đất nhỏ gieo rắc biết
bao kinh hoàng cho mọi người. Hơn hai tuần sau đó, vào
ngày 12 tháng 5 năm 2015 động đất trở lại với cường độ 7.3 về phía
đông, cách thủ đô Kathmandu 83 cây số gây thêm nhiều thiệt hại nữa.
Nepal tuy là nơi đản sinh của Đức Phật, nhưng Phật giáo chỉ
chiếm khoảng 20% và 80% dân số còn lại thuộc về Hồi giáo. Theo tục lệ của
đạo Hồi, cứ mỗi 5 năm, Nepal lại tổ chức lễ tế thần và 250 ngàn con
vật bị giết hại trong lễ hội này, phần lớn là trâu, dê và
chim chóc. Lễ tế thần năm 2014, họ đã sát hại hơn 6000 con
trâu vô tội, đầu lìa cổ và máu nhuộm đỏ cả một cánh đồng.
Một
thời, Thái tử Tất Đạt Đa đi về thành Vương Xá, giữa đường
gặp một đàn cừu bị dắt đưa về thành để vua Tần Bà Ta
La làm lễ tế thần. Ngài đi thẳng đến bàn thờ, vừa
gặp vua đang làm lễ và các vị giáo sĩ Bà La Môn (Ấn Độ
giáo ngày nay) đang sắp sửa giết một con cừu để cúng các vị hung
thần. Thái tử tự thân đến cởi trói cho con vật khỏi nạn,
và giảng giải cho mọi người nghe rằng:
- Ai
cũng tham sống, thế mà ai cũng thích giết hại. Ai cũng muốn tạo ra sự sống.
Ngài
nói với một giọng rất đầy thương cảm:
- Dẫu
muôn loài có khác nhau, nhưng sự sống chỉ là một. Không thể lấy máu
của thú vật rửa tội cho mình. Xin các vị thiên thần tha
tội là một việc vô ích. Nếu các Ngài đều thiện thì các Ngài sẽ
không tha thứ cho một việc làm ác như thế. Nếu các người làm
ác, thì dầu có giết bao nhiêu thú vật đi nữa để cúng, các người cũng
không hết ác được. Nhưng dầu thiện dầu ác, các Ngài cũng không tha
tội cho ai. Tội của người nào thì người ấy phải chịu. Đấy là luật
nhân quả, không ai có thể vượt qua. Càng giết hại nhiều lại càng mang lắm
họa.
Các
thầy Bà La Môn nghe xong đều giật hết lễ phục mang trên
mình, với hai bàn tay chùi chưa sạch máu. Mấy trăm con cừu được thả
ra, vui vẻ chạy rong trên đường phố như vừa thoát khỏi địa
ngục mà sự u mê của con người mới tạo ra. Sau đó, vua
sai khắc trong đá và chạm vào gỗ đạo dụ này: "Từ xưa đến
nay, chúng ta đã phạm một tội lớn là giết súc vật để tế
thần. Nhưng bắt đầu từ ngày nay, trong dân gian không ai được làm đổ máu một
con vật nào, vì chúng sinh cùng chung một sự sống. Và nên nhớ rằng:
những điều lành sẽ dành riêng cho những kẻ hiền lương". (Trích Giáo Án Đức
Hiếu Sinh).
Khi liễu
ngộ như thế con người không phải sợ hãi thần linh, tôn
thờ thần linh, van vái và cầu xin ở thần
linh nữa. Phật Giáo không phải là một con đường siêu
hình, cũng không phải là một con đường nghi thức. Đối với Phật
giáo, Đức Phật Thích Ca là đấng đạo sư, là người
đã tìm ra con đường giải thoát vì thế những ai
muốn giải thoát ra khỏi đau khổ trầm luân hãy đi
theo con đường mà Ngài đã đi qua. Đức Phật chỉ là
người dẫn đường, còn đi hay không là do chúng sinh và muốn có
kết quả thì chúng sinh phải tự mình làm chủ, tự mình tu
tập để đi đến giải thoát chớ không nương
nhờ ở Đức Phật hay bất cứ đấng thần quyền nào.
Trong
cuộc sống, ai cũng mong mình sẽ được điều này, được điều khác. Người giàu
thì mong sẽ giàu hơn, người nghèo thì mong mình được như người giàu… để rồi họ
tìm về chốn tâm linh để cầu xin. Sự cầu xin này cũng
như là ăn mày với các đấng thần linh, mà họ không hiểu các
đấng thần linh này có giúp cho họ được không?
Chuyện
kể về một bác nông phu, kéo xe chở hàng rất nặng nhọc. Vào một ngày, bác
kéo xe quá nặng nên bị đổ ra đường. Buồn rầu, bác ngồi xuống và nhìn thấy
dòng người đi xe hơi tìm đến cửa chùa làm lễ.
Bác
ngồi nghĩ: Ông trời thật không công bằng, người thì sinh ra đã có tất
cả, còn kẻ làm lụng vất vả thì chẳng có gì. Sau đó có một bà đến nói:
“Ông đã đến cửa Phật sao ông không vào thành tâm kêu cầu mà
ngồi đây than thân trách phận”.
Ông
lão liền đi vào chùa, ông thấy người ta cầu khấn rất đông, người lớn
người nhỏ, kẻ già người trẻ…
Lúc
đó ông nghe thầy trụ trì hỏi: Thí chủ lần đầu đến đây phải
không? Ông đáp: Vâng! Lần đầu con đến cửa Phật nên không biết kêu cầu
thế nào, ra làm sao? Mong thầy chỉ dạy.
Thầy trụ
trì hỏi: Thí chủ thỉnh cầu điều gì?
Ông
đáp: Con cầu xin Đức Phật ban phát sự công bằng. Con sinh
ra trong một gia đình nghèo khổ, bần hàn, không được học
hành tử tế. Từ bé đã phải tự mưu sinh. Lớn lên lấy một người vợ nghèo
và nai lưng làm lụng như trâu bò để nuôi một bầy con nheo
nhóc. Cuộc đời khốn khổ cơ hàn cứ theo con đằng đẵng trong
khi có biết bao người khác sinh ra trong một gia đình giàu sang,
chẳng cần cố gắng mà vẫn sống suốt đời trong nhung lụa. Như
vậy là không công bằng, nếu Đức Phật linh thiêng xin người
hãy ban phát cho con một chút may mắn của những người kia”.
Thầy trụ
trì hỏi: Những người kia ư!
Ông
đáp: Vâng! Chỉ cần nhìn họ là đủ biết họ giàu sang quý phái cỡ
nào. Những người nghèo khổ như con không thể hiểu nổi họ làm gì
mà giàu sang như vậy.
Thầy trụ
trì đáp: Cái đó ta không biết, nhưng khi đã tới đây họ cũng chỉ là ăn
mày cả thôi.
Ông ngạc
nhiên hỏi: Ăn mày ư thưa thầy!.
Thầy trụ
trì trả lời: Đúng! Ăn mày cửa Phật.
Ông
vội hỏi: Nhưng nhìn họ giàu sang quý phái, có thiếu gì đâu mà phải
đi ăn mày.
Thầy trụ
trì chầm chậm trả lời: Sống trên cõi đời này, mấy ai thỏa
mãn với những điều mình đang có, không tin thí chủ cứ lại gần họ
mà xem.
Khi
ông lão vào thì nghe người này xin đừng bị phá sản, người xin khỏi bệnh,
người xin có người yêu…
Ông bước
ra và nói: Họ cầu xin rất nhiều điều, hóa ra họ toàn là ăn
mày thật, con cứ tưởng trên đời này ai cũng hạnh phúc hơn con.
Biết đâu được họ cũng có nhiều nỗi khổ đau đến thế, ngẫm ra con còn nhiều điều
hơn họ, như sức khỏe, vô tư chẳng hạn. Sau một lúc ngẫm
nghĩ khiến ông thức tỉnh lời dạy của Phật:
Ai không
bệnh, lợi nhất đời
Ai mà biết
đủ là người giàu sang
Ai thành
tín là bạn vàng
Và
nơi cực lạc Niết bàn là đây. (Pháp Cú 204)
Thầy trụ
trì trả lời: Đúng vậy, cuộc đời công bằng với tất
cả mọi người, an phận với thực tại và cố
gắng hết mình để tự mình hóa giải những khó khăn trong cuộc sống, đó mới
là một cuộc đời hoàn mỹ.
Qua câu
chuyện, chúng ta có thể thấy rằng: Cuộc đời này ai cũng
muốn cầu xin những điều mà mình không có. Họ không thỏa
mãn được điều đã có, luôn tìm kiếm những cái cao hơn, ngon
hơn, tốt hơn, đẹp hơn… Đôi khi họ cứ nghĩ các đấng thần linh có
thể ban phát mà không hiểu rằng, phải cố gắng và làm lụng thì mới có
kết quả. Đừng có quá sống trong mộng tưởng mà quên mất thực
tại của mình nghĩa là không gieo nhân lành thì làm sao có kết quả tốt?
Tóm
lại, đạo Phật không phải là đạo đổi chác, không phải là đạo ban
bố phép mầu và cũng không phải là đạo hứa hẹn. Sự giải
thoát giác ngộ hay sự an lạc thanh tịnh Niết
bàn thật ra tự chúng sinh đem lại cho mình chớ Phật không ban bố
cho ai cả. Vì thế, tuy đạo Phật là đạo của từ bi, trí
tuệ và lòng dũng cảm, nhưng nếu con người không tin
vào lòng từ bi để thương yêu, ban vui cứu khổ để cứu
giúp chúng sinh; vào khả năng phát triển trí tuệ để chứng
đạt chân lý ngỏ hầu thấu biết được thật tướng nhân
sinh vũ trụ và lòng dũng cảm để vượt qua sóng
gió chập chùng mà chiến thắng được vô minh phiền não của
mình mà chỉ muốn cầu xin, van vái thần linh để có hạnh
phúc thì con đường họ đi chắc chắn “không phải”
là đạo Phật.
Vì
thế, nếu không có Chánh kiến, sống trong vô minh bất
giác lấy khổ làm vui, lấy giả làm thật thì chúng
ta thường đối diện với năm tà kiến. Đó là:
- Thân
kiến là si mê lầm tưởng
cho là thân, tâm là Ta, là Của Ta. Thân, tâm của con người chẳng qua
là sự vận hành của ngũ uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thân
tức là sắc là sự kết hợp của đất, nước, gió, lửa. Vì thế
sự sống con người là sự vận hành của ngũ
uẩn chớ không có chi là Ta hay là của Ta cả.
- Biện
kiến: Do nhận thức (thấy
biết) sai lạc về ngã mà sinh ra hai cực đoan: thứ nhất
theo chủ nghĩa thân ta chết là hết , là đoạn diệt, là đoạn
kiến hoặc theo chủ nghĩa thân ta chết mà vẫn còn, không mất,
không thay đổi, có nghĩa thân ta là thường trụ, là thường kiến. Đối
với con đường trung đạo của đạo Phật, vượt lên trên thường
và đoạn kiến nghĩa là sinh để rồi diệt, nhưng chết không phải là mất
hẳn mà diệt để rồi sinh trở lại, sinh sinh diệt diệt
trong thế giới sinh tử luân hồi.
- Tà
kiến là tin rằng đời
người không có nhân quả và cũng không có thiện ác báo
ứng. Tin rằng con người là sản phẩm của Thượng đế, hay mọi
việc ở đời đều đã do trời định, đã được Thượng đế an bài sẵn cả
rồi. Hoặc là đau bệnh, tai nạn là do ông thần này hành hay bà thánh
kia phạt…Tất cả những định kiến đó nhà Phật gọi là tà
kiến nghĩa là sống trong tư tưởng sai lầm, mê
muội khiến cuộc sống không có định hướng sáng suốt.
- Kiến thủ
kiến: Người có thực hành quán
chiếu thì dễ dàng thấy rõ Thân kiến, Biện kiến, Tà kiến ở
trên là những sai lầm trầm trọng chẳng những đưa con
người thấy biết đời bằng ảo giác, nương tựa vào những kiến
giải sai lầm biến cuộc đời thêm điên đảo. Tuy
nhiên, cũng có người cố chấp, tin tưởng vào những định
kiến sai lầm đó, không thể nào phân biệt đúng và sai thì họ
đang thực hành kiến thủ kiến.
- Giới thủ
kiến: Chữ
“thủ” trong kiến thủ kiến và chữ “thủ” ở đây có nghĩa là ôm giữ
lấy, bảo vệ lấy, hay bị mắc kẹt vào một cái gì. Dựa
theo tinh thần Phật giáo, Giới là kim chỉ nam để con
người nương theo đó mà vun bồi đời sống thêm đạo
đức nhân bản, làm nền tảng cho giải thoát và phát triển trí
tuệ. Tiến trình Tam vô lậu học xác định rõ ràng là nếu
không thực hành Giới (chớ không phải giữ giới) đứng
đắn thì không bao giờ tâm có thể vào định được. Tâm có an
định thì trí tuệ mới phát sinh. Vì thế người tu
Phật nếu phá Giới, phạm Giới thì không bao giờ xây được căn
nhà giải thoát vì nhà không có nền móng. Ngoài Phật
giáo ra, có những tôn giáo đề xướng những giới
luật rất hoang đường, vô lý, cực đoan. Thí
dụ ở Ấn Độ, người theo Ấn Độ giáo thì tôn thờ bò nên không
bao giờ ăn thịt chúng. Ngược lại, người theo Hồi
giáo hay Do Thái giáo thì không ăn thịt heo, nhưng có
quyền thưởng thức bò bít tết. Vì tin tưởng kỳ dị nên nhà
Phật gọi những đức tin đó là giới thủ kiến. Một người giữ
giới trường chay, nhưng lòng tham, sân, si không giảm thì không
có lợi ích gì, cuộc sống vẫn còn nhiều sóng gió. Ngược lại, một
người thực hành giới đứng đắn nghĩa là họ lúc nào
cũng tỉnh thức chánh niệm nghĩa là bất cứ lúc nào cũng ý
thức và kiểm soát thân, khẩu, ý của mình cho nên cuộc sống
nhiều hạnh phúc, an vui, tự tại.
Chính
năm tà kiến nầy làm cho tâm tính con người tối
tăm mù quáng và đắm chìm trong vẫn đục.
Tóm
lại, Chánh kiến là thấy biết mọi sự đúng như thật mà duy
chỉ có Tứ Diệu Đế mới giải thích mọi sự đúng như
thật cho nên trong Bát chánh đạo có Tứ Diệu Đế và
ngược lại.
Chánh
kiến là một lối sống rất thực tế cho nên người học
Phật nên thực hành và phát triển trong mọi hành tác của cuộc sống để
gạt bỏ những thấy biết sai lầm và gặt hái những lợi ích cho
nên Chánh kiến là con đường dẫn đến hạnh
phúc và an lạc. Chánh kiến còn là con
đường giúp hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và tri
thức qua sự thức tỉnh từ trong nội tâm của mỗi người.
Sau cùng, vai trò quan trọng nhất của Chánh kiến giúp mở
mang và phát triển trí tuệ, khai tâm mở tánh, thấy biết tất cả
mọi hiện tượng nhân sinh vũ trụ như thật đưa
đến giải thoát Niết bàn.
Thêm
nữa, trong Kinh Chánh Kiến, Đức Phật dạy rằng:
- Người
đời thường nghiêng về hai khuynh hướng nhận thức, một là có, hai là không.
Đây là hai quan niệm vướng mắc vào cái tri giác sai
lầm. Vì vướng vào tri giác sai lầm đó cho nên mới kẹt vào hoặc
“ý niệm có”, hoặc “ý niệm không.” Này Tán-đà Ca-chiên-diên! Phần lớn người đời
đều bị kẹt vào chấp mắc và bảo thủ. Người không bị kẹt vào chấp và thủ thì
không còn nắm giữ và vọng tưởng về cái ngã nữa. Người ấy biết cái
khổ, chẳng hạn, khi có điều kiện phát sinh thì nó phát sinh, khi
hết điều kiện tồn tại thì nó tiêu diệt. Người ấy không
còn nghi hoặc gì nữa cả. Cái thấy của người ấy không do ảnh
hưởng của kẻ khác mà có, trái lại do chính người ấy tự đạt
được. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến. Đó là cách trình bày chánh kiến của Như
Lai.
-Người
có tri kiến chân chính khi quán sát về sự sinh
khởi của thế gian không thấy thế gian là không. Người
có tri kiến chân chính khi quan sát về sự hoại
diệt của thế gian không thấy thế gian là có. Này
Tán-đà Ca-chiên-diên! Chấp có là một biên kiến, chấp
không là một biên kiến khác. Như Lai lìa hai biên
kiến đó mà thuyết pháp một cách trung đạo. Nghĩa là: “Cái
này có vì cái kia có, cái này sinh vì có cái kia sinh.” Từ vô minh mà
có hành, từ hành mà có thức, từ thức mà có danh sắc, từ danh
sắc mà có lục nhập, từ lục nhập mà có xúc, từ xúc mà có
thọ, từ thọ mà có ái, từ ái mà có thủ, từ thủ mà có hữu, từ hữu mà có
sinh, từ sinh mà có lão tử, và khổ đau chồng chất thành
khối.
-Nếu vô
minh không còn thì hành không còn, hành không còn thì
thức không còn, thức không còn thì danh sắc không còn, danh
sắc không còn thì lục nhập không còn, lục nhập không
còn thì xúc không còn, xúc không còn thì thọ không còn, thọ, không còn thì ái
không còn, ái không còn thì thủ không còn, thủ không còn thì hữu không còn, hữu
không còn thì sinh không còn, sinh không còn
thì lão tử không còn và nguyên khối khổ đau chồng chất kia
bị tiêu diệt.
Trí
tuệ và vô minh là hai kẻ tử thù không đội trời chung cho nên
nếu con người sống trong vô minh bất giác chạy
theo tham đắm dục tình thì suốt đời không bao giờ thấy
được ánh sáng trí tuệ. Ngược lại, nếu phá được màn vô
minh hắc ám thì trí tuệ sẽ hiển hiện ra ngay cũng
như mây tan thì trời sáng, nước trong trăng hiện vậy thôi. Trí
tuệ không phải ở trên trời rơi xuống, cũng không phải
do Thượng đế hay thần linh nào ban cho, mà là do tự
mình phát triển, theo con đường giải thoát do Đức
Phật vạch ra. Vì thế khi một người trực nhận được chân
lý thì kinh điển thường gọi là “Con mắt của sự thật”.
2) Chánh
tư duy (Perfected Emotion or Aspiration or Right Thought): là tư
duy đúng, phù hợp với đạo đức nhân
bản và phù hợp với giáo lý duyên khởi. Chánh tư
duy là tư duy chân chính chớ không phải là tư
duy chín chắn theo định nghĩa thông thường của cuộc
đời. Tư duy chín chắn là tư duy biết đắn đo, nghĩ
trước nghĩ sau, có trong có ngoài, thận trọng, không nông nổi, không bộp
chộp và chu đáo. Người có tư duy chín chắn thì tránh lỡ
lầm, không có thái độ bồng bột, vội vã, hấp tấp và cẩn
trọng trong mọi cư xử của cuộc sống đem lại nhiều kết
quả ích lợi cho mình và cho đời. Tuy nhiên tư duy chín
chắn chỉ là một phần nhỏ của Chánh tư duy bởi vì nó
chỉ đáp ứng để thỏa mãn những hạnh phúc tạm bợ
của cuộc sống bình thường. Mặc dầu tư duy chín
chắn giúp con người tránh những quyết định sai lầm, có
kết quả tốt, nhưng cho dù kết quả có tốt cách mấy thì nó vẫn đưa con
người đi lang thang lẩn thẩn không có lối thoát trong quỷ
đạo của tham, sân, ai, ái dục mà kéo theo đó là những phiền
não, khổ đau. Thông thường muốn làm giàu thì có khi phải gian
dối, cạnh tranh bất chánh, lợi mình hại người cho nên người tư
duy chín chắn đâu nhất thiết phải là người tư
duy chân chính. Trên thế giới hiện nay có biết bao
người hằng ngày thực hành tư duy chín chắn, nhưng họ vẫn
còn tin vào tà kiến, mê tín dị đoan. Họ tin rằng thế
gian vũ trụ này được tạo dựng bởi Thượng đế và số
mệnh hay định mệnh của con người đã được an bài. Vì
tin rằng con người là sản phẩm của Thượng đế cho nên có
người Chúa đặt vào hoàn cảnh giàu sang, có cuộc sống sung sướng,
còn người khác bị lâm vào những hoàn cảnh bần cùng, nghèo
đói, cả đời tận tụy không thấy ánh sáng mặt trời. Dầu ở
trong hoàn cảnh nào thì con người không được cải ý Chúa mà
chỉ có thể cầu nguyện để cho Chúa thương xót mà thay
đổi hoàn cảnh cho ta. Ngay cả những người có số phận nghiệt ngã cũng
không nên than trời trách phận. Ngược lại, Chánh tư
duy cho chúng ta thấy biết rằng thế gian nhân
sinh vũ trụ này là do trùng trùng duyên khởi tác tạo
từ vô thỉ đến vô chung chớ không do bất cứ bàn tay mầu nhiệm nào. Từ
khi đạo Phật ra đời, Đức Phật phủ nhận con
người là do Thượng đế sinh ra cho nên đạo Phật tuyệt
đối phủ nhận linh hồn (Soul) mà chỉ có Thức (Mind) (hay
Consciousness). Thức còn gọi là tâm, là cái biết biến đổi liên tục dựa
theo sự biến dạng tâm lý và sinh lý cho nên con
người có thể cải đổi cho tâm được trong sáng và từ đó cuộc sống
sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Cao
hơn nữa là có giải thoát mà Bát chánh đạo là con
đường hữu hiệu nhất để đạt đến cứu cánh tối thượng đó.
Không
có tôn giáo nào trên thế giới từ ngàn xưa cho
đến ngày nay và mãi mãi về sau phát huy tinh thần bình
đẳng như đạo Phật. Hãy lắng nghe Đức Phật nói với quốc
vương Pasenadi (Ba-tư-nặc) của nước Kosala khi Ngài thu
nhận Sunita, người làm nghề hốt phân vào tăng đoàn cách nay trên
2500 năm trong một xã hội có quá nhiều kỳ thị giai cấp:
“Đại
vương! Trong đạo lý giải thoát, không có sự phân biệt giai
cấp và chủng tính. Trước con mắt người giác ngộ, tất cả
mọi chúng sinh đều bình đẳng. Máu ai cũng đỏ, nước mắt ai cũng
mặn, tất cả chúng ta đều là con người. Ta phải tìm
cách để mọi người có cơ hội đồng đều và vươn tới
và thực hiện hoài bão của mình cũng như hoàn thành nhân
phẩm của mình, vì vậy cho nên tôi đã đón nhận Sunita
vào giáo đoàn khất sĩ”.
Đức
Phật đã làm một cuộc cách mạng để san bằng mọi bất
công và xóa tan mọi đẳng cấp trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Chỉ
có đạo Phật nâng cao nhân phẩm của con người và
khuyến khích họ phát triển tiềm năng trí tuệ của mình đến chỗ tột
cùng. Ngày nay, ở những quốc gia văn minh tiến bộ, có rất nhiều
khoa học gia, bác sĩ, kỹ sư, học giả, triệu phú, tỷ phú…xuất thân từ
những hoàn cảnh cơ hàn, thiếu thốn, nhưng với ý
chí vươn lên cộng thêm sự nỗ lực tích cực phấn
đấu và sau cùng với cánh cửa rộng mở rất bình đẳng của xã hội,
họ đã thành công và đạt được những ước mơ to lớn
trong cuộc đời của họ. Ở Hoa Kỳ, sau thời
gian dài tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da
màu, một thành quả lớn nhất là năm 2008, Barack Hussein Obama, người
da màu đầu tiên trở thành Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ. Ngược
lại, tôn giáo thần quyền, Thượng đế là tất cả, có quyền ban
vui hay giáng họa cho con người. Con người phải khuất
phục vâng lời chớ không được quyền cãi lại. Vì thế nếu nương
vào Thượng đế hay các vị thần linh thì con
người sẽ rơi vào chủ nghĩa định mệnh khiến họ trở
thành thụ động, tiêu cực thiếu sức phấn đấu vươn lên trong cuộc
sống và đặc biệt nhất là trái với luật nhân
quả của thế gian vũ trụ. Nếu không thấu hiểu
rõ ràng luật nhân quả, con người luôn sống trong lo
sợ, mê tín mù mờ và dĩ nhiên họ giải
thích những hiện tượng thiên nhiên cũng như những biến
đổi tâm linh qua sự mê tín dị đoan. Tin tưởng như
thế Đức Phật gọi là tà kiến và tư duy như thế
là tà tư duy. Thí dụ, một người có thể làm rất nhiều việc lành,
nhưng họ luôn đón nhận những sự bất hạnh đắng cay cho cuộc
sống hiện tại khiến họ đâm ra cay đắng với cuộc
đời và không tin vào luật nhân quả. Thật ra luật nhân
quả rất công bình, không thiên vị hay bỏ sót một ai.
Những nỗi bất hạnh mà họ đang thọ nhận bây giờ chính là
những hậu quả mà họ đã gieo trong quá khứ vì nhân nay đã
trổ thành quả. Trong khi đó, những nhân thiện lành họ đang gieo
cần thời gian để trở thành quả cho nên trong tương lai
chính họ sẽ thọ lãnh những kết quả thiện lành đó bởi vì nhân
cần thời gian để trổ thành quả mà nhà Phật gọi là dị
thời, dị thục. Hãy quan sát khu vườn sau nhà: Những cây lê, cây
xoài, cây mít bắt đầu đơm hoa kết trái vì nhân nay đã trổ thành
quả trong khi đó những luống đất trồng ngò, trồng mướp, trồng bí, trồng
bầu thì hạt giống vẫn chưa đâm chồi vì nhân chưa thành
quả. Nhân quả áp dụng vào trong mọi lãnh vực của cuộc
sống từ sinh lý đến tâm lý. Người thấu hiểu nhân
quả là người biết thức tỉnh, biết phòng ngừa và cẩn
trọng trong tất cả mọi tác động của thân, khẩu, ý. Nếu biết thay
đổi cách sống cho thân, tâm được vui khỏe (nhân) thì chắc
chắn sẽ ít bệnh tật (quả). Muốn giảm căng thẳng, lo
lắng buồn phiền (quả) thì nên đơn giản cuộc sống
và thực hành sống đời đạo đức, ăn ngay nói
thẳng (nhân). Nói lời ái ngữ (nhân) thì người thương kẻ mến
(quả). Khi tâm đang oán hận ai (nhân) thì làm sao có được nụ
cười thân thiện (quả).
Khi
thấu hiểu luật nhân quả thì vấn đề có định
mệnh hay không là tùy nơi chúng ta. Nếu con
người biết tu tập những phương pháp để mở
rộng nhận thức tâm linh tức là có Chánh kiến để tự
mình thay đổi cuộc đời của mình thì không có số
mệnh hay định mệnh chi cả. Ngược lại, nếu con
người thụ động đổ thừa cho số mạng hoặc ngồi chờ một phép
lạ hay sự ban bố của Thượng đế thì lúc đó định mệnh có
thật vì chúng ta không tận dụng khả năng thay đổi cuộc sống
của chúng ta.
Bây giờ, dựa theo tinh thần Phật giáo, con người tự mình
làm chủ mạng sống của mình, chính mình ban vui hay giáng họa cho mình
chớ Phật trời không can dự vào căn nghiệp của mình được. Vì thế, muốn
có hạnh phúc, an vui, tự tại con người chỉ cần sống
đời đạo đức nhân bản, luôn kiểm soát thân, khẩu, ý
mà con đường thiện xảo nhất là thực hành đứng
đắn Bát chánh đạo.
Ở
phần trên, khi chúng ta tiếp xúc với thế giới bên
ngoài nghĩa là mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm và thân cảm
xúc thì tất cả những cái thấy, nghe, hay, biết đó được đưa vào
tâm. Thế giới bên ngoài rất phức tạp, có quá nhiều ảo
ảnh của phù du nhân thế cho nên Đức
Phật dạy chúng sinh trước hết phải thanh lọc bớt những tư
tưởng, ý niệm mà tâm đang tiếp nhận. Vì thế thực
hành Chánh kiến với mục đích kiểm soát để loại
bỏ bớt những thấy, nghe, hay, biết sai lầm khiến tâm bất
tịnh và chỉ tiếp nhận những thấy, nghe, hay, biết một cách ngay
thẳng, công minh và đúng với sự thật khách quan. Giai đoạn thứ nhì là khi tư
duy thì mọi tác ý của tâm không vướng
mắc vào tư duy tham đắm, tư duy sát hại, tư
duy sân hận và tư duy si mê bởi vì tất cả
mọi phiền não khổ đau đều có gốc rễ trực tiếp từ bốn độc
tố tham, sân, si và ái dục. Do đó, nếu nỗ
lực để có thể giải phóng bốn tà tư duy đó thì gọi
là Chánh tư duy. Vì thế Chánh tư duy không những
giúp chúng ta có cuộc sống nhẹ nhàng, hạnh phúc thoát
ly ra khỏi quỷ đạo đau khổ tham, sân, si mà nó là nền
móng vững chắc nhất để có lời nói và hành động phù hợp với đạo
đức nhân bản và có giải thoát bởi vì lời nói và
hành động đều phát xuất từ suy nghĩ trong tâm.
Cái tuyệt
vời của Bát chánh đạo là có cái trước mới có cái sau, nhưng cái
sau củng cố lại cho cái trước khiến cho hành
giả càng thực hành thì càng thấu tỏ và thực
hành càng thâm sâu. Ở đây Chánh kiến giúp hành
giả thấy biết chân chính, đúng với đạo đức nhân bản, đúng
với giáo lý Duyên khởi và phù hợp với con
đường giải thoát. Sau đó Chánh tư duy suy nghĩ cũng đúng
theo những cái thấy biết ở trên. Khi thực hành Chánh tư
duy thuần thục nghĩa là tâm đã thực sự thấm thấu những điều thấy
biết chân chính thì bây giờ cái nhìn sẽ sâu sắc và tinh
tế hơn. Cứ thế mà tiếp tục tiến trình thanh lọc thân
tâm cho đến khi đạt đến mục đích sau cùng là giải
thoát, có trí tuệ. Các nhánh khác tác dụng cũng giống y
như vậy.
Nếu
muốn có một nhân cách cao thượng thì ngay bây giờ chúng
ta hãy bồi dưỡng những tư tưởng thiện lành và loại trừ
những tư tưởng thấp hèn, luôn trau dồi đạo đức cho bản
thân. Luôn tư duy trước khi nói và hành động để không làm khổ mình,
khổ người và khổ muôn loài vạn vật khác:
- Đánh
đổ tư tưởng về dục lạc: hằng
ngày những tư tưởng về dục lạc như sắc, tài,
danh, lợi dính liền với sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp làm cho
tâm con người điên đảo. Đức Phật không phủ nhận sắc đẹp,
tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm dịu có vị ngọt làm say
đắm lòng người. Nhưng dục lạc lúc nào cũng có hai
mặt nghĩa là ngoài vị ngọt hấp dẫn đắm say đó, dục
lạc còn có bộ mặt thật thứ hai. Đó là nếu muốn thỏa
mãn những dục vọng, hạnh phúc đam mê thì con
người phải khổ công tạo dựng, cố gắng làm lụng vất vả, trải
qua biết bao nhọc nhằn, nhưng khi có được hạnh phúc trong tay
thì hạnh phúc vỗ cánh bay xa vì sự tạm bợ vô thường của tạo
hóa. Thế thì hạnh phúc chẳng khác nào như một chiếc
bóng không bao giờ nắm giữ bằng đôi tay. Hạnh phúc không bao giờ
dừng lại vì khi nắm được cái gọi là hạnh phúc thì nó không còn
là hạnh phúc nữa, trở thành nhàm chán và cứ
thế chúng ta đi tìm hạnh phúc mới. Hạnh phúc mới
thay thế hạnh phúc cũ cho nên cuộc tìm cầu hạnh phúc xem
ra không bao giờ tận. Vì thế càng chạy theo dục lạc thì
càng tự chuốc khổ vào thân.
Nếu
nói rằng Tham là một trong những gốc của bất thiện thì làm
sao con người có thể sống được nếu không còn ham
muốn gì cả?
Ngày nay chúng ta sống trong một thế giới
văn minh tiến bộ đầy đủ mọi thứ về vật
chất thì chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng sự
khác nhau giữa ham muốn và nhu cầu. Sống trên đời chúng
ta cần có những nhu cầu cần yếu như cơm ăn, áo mặc, nhà ở,
xe di chuyển, máy vi tính…để cho đời sống được tiện nghi.
Ngược lại ham muốn chỉ xuất hiện khi nào chúng
ta muốn thỏa mãn những đòi hỏi quá đáng của thị
dục, có nghĩa là vượt ra khỏi hàng rào tri túc. Đây là động
lực chính làm cho con người đau khổ khi những ước muốn của
mình không được thỏa mãn, hay phải nhắm mắt đi tìm những hạnh
phúc mới. Khi nhìn thấy rõ như thế thì người tu Phật không
hề bị bắt buộc phải xóa bỏ tất cả mọi tiện nghi vật
chất. Họ có thể có tất cả những gì họ cần nhưng luôn luôn phải biết đâu là nhu
cầu cần thiết và đâu là lòng ham muốn, tham lam.
Bây
giờ Chánh tư duy giúp chúng ta tư duy đến tính vô
thường, tạm bợ, mau tan rã của tất cả các pháp thế gian. Chúng
ta suy nghĩ lời Đức Phật ví sự tan hợp của pháp thế
gian như là giấc mộng, như trò huyễn hóa, như bọt nước, như
ảo ảnh, như sương mai, như ánh chớp trên không mà thôi. Khi tư
duy như thế thì dần dần chúng ta tách ra khỏi sự trói
buộc của dục lạc thế gian và cuộc sống sẽ trở
thành an vui tự tại. Vì thế một triết gia Tây
phương có câu:”Muốn có được những hạnh phúc cao thượng thì
hãy lánh xa những lạc thú đê hèn”.
- Đánh
đổ tư tưởng sân hận: Trong Kinh
Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng:” Họ nhục mạ ta, đánh đập ta,
chiến thắng ta và cướp đoạt của ta. Người nào hằng ôm ấp những tâm
niệm như thế thì oán hận không bao giờ nguôi. Còn kẻ
nào thoát ly được những tâm niệm ấy thì oán
hận ắt phải tiêu tan”. Do đó muốn an vui thì đừng nuôi
dưỡng trong tâm những tư tưởng sân hận. Phật lại dạy thêm: ”Phải
dứt bỏ sân hận, phải tránh xa ngã mạn và đoạn lìa mọi ràng
buộc thì phiền não không thể chi phối được”. Nói
thế thì những người ôm ấp tư tưởng sân hận là tự họ đang đốt
cháy lấy mình bằng chính những tư tưởng sân hận đó trước khi họ
chuyển sang hành động để ám hại kẻ khác. Người sống trong hận
thù luôn bị dày vò, đau khổ, lẻ loi và đơn độc. Đó là chưa
kể hận thù, lòng sân giận, sự tranh giành, thắng thua, lòng ganh
tỵ, ganh ghét, đố kỵ, tự ty, mặc cảm,...sẽ làm giảm nhân cách và
biến cuộc sống nhiều sóng gió, đau thương. Muốn loại những tư
tưởng sân hận thấp hèn nầy thì con người phải rèn
luyện đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả. Vì chỉ có lòng từ bi mới xóa
bỏ được hận thù. Có như thế thì tâm hồn của chúng
ta sẽ cởi mở, trong lành và mát dịu.
"Lửa
nào sánh lửa tham?
Ác nào
bằng sân hận?
Khổ nào
sánh khổ uẩn,
Lạc nào
bằng tịnh lạc." (Pháp Cú 202)
Thậm
chí, nếu có người nói xấu Đức Phật, giáo Pháp của Ngài hay
ngay cả giáo đoàn do Ngài sáng lập, Đức Phật hằng
khuyên hàng môn đệ không nên giận dữ, bất
mãn hay không vui lòng. Đức Phật dạy rằng: “Nếu các
người giận dữ, bất mãn, hay không vui lòng, chẳng những các
người tự đặt mình vào chỗ hiểm nguy có thể mất cả nền tảng đạo
đức tinh thần mà các người còn không thể xét đoán đúng mức
lời chỉ trích có giá trị hay không". Quả
thật là sáng suốt. Tuy nhiên, để trả lời những
lời chỉ trích bất công, vô căn cứ, Đức Phật lại dạy
rằng: “Cũng như người kia ngửa mặt phun nước miếng lên trời. Nước miếng
không hẳn làm dơ trời, mà chỉ rơi xuống người ấy".
-Đánh
đổ tư tưởng hại người: Con
người vì quá chấp ngã và ngã sở nên sẵn sàng tiêu
diệt, hãm hại những kẻ nào đụng đến quyền lợi và danh
dự của mình. Thế thì nếu mình biết tự ái, biết lo bảo
vệ hạnh phúc và sự sống của mình thì tại sao không tôn
trọng hạnh phúc và sự sinh tồn của kẻ khác? Do đó, nếu ta
không muốn đau khổ thì đừng bao giờ tìm hạnh phúc trên
sự đau khổ của người. Vì thế Đức Phật lại dạy rằng:”Ai
ai cũng sợ gươm đao, ai ai cũng đều sợ chết. Do đó không nên giết hại và
cũng không nên bảo ai giết hại mà nên thực hành tâm
hỷ xả, bao dung để diệt trừ tâm niệm hãm hại kẻ
khác”.
Ngày
nay thế giới truyền thông hiện đại như radio, truyền hình
và đặc biệt là internet đang cao trào xâm chiếm vào trong
đời sống của tất cả mọi gia đình. Nếu chúng ta mở tung sáu
cánh cửa (lục căn) để tiếp nhận biết bao luồng tư
tưởng thì chắc chắn tâm không yên ổn. Muốn nổi tiếng,
ăn khách và hái nhiều tiền, các nhà sản xuất đã không ngần ngại tung
ra thị trường rất nhiều phim ảnh, âm nhạc, kịch nghệ, các game giải
trí…với nội dung đầy bạo lực, đâm chém, sát hại, tình dục, lời
lẽ thô tục thiếu văn hóa…khiến cho người xem nó đang sống
trong tà tư duy. Khi các hạt giống bất thiện đó đã ăn
sâu vào trong tiềm thức thì một ngày nào đó khi đối
diện với hoàn cảnh tương tự ở ngoài đời, những hạt
giống bất thiện đó sẽ tác động khiến chúng ta có
những lời nói hay hành động tương xứng nguy hại đến cho người và cho
mình. Tệ hại hơn nữa, chúng ta đồng tình với cách sống đó khiến
cho tâm chọn một hướng đi không sáng suốt có thể biến cuộc
đời vào một khúc quanh đen tối. Vì thế tiến trình
giải phóng tà tư duy để đưa tâm trở về trạng
thái bình yên thoát khỏi mọi vướng mắc của tham, sân,
si và ái dục thì gọi là Chánh tư duy. Tất cả mọi hiện
tượng trong thế gian này luôn có hai mặt cho nên
người thực hành Chánh tư duy luôn cẩn
trọng trong tư duy của mình để thấy rõ bộ mặt thật của hai khía
cạnh cuộc đời trước khi đi vào kết luận chớ
không vội vàng tin vào phía này hay phía kia cho nên cuộc sống sẽ
tránh rất nhiều sai lầm mà nguyên nhân chính vẫn
là dựa vào chủ quan định kiến.
Tư
tưởng thì vô cùng vô tận nhưng chính Đức Phật đã
gom lại 10 tư tưởng chính để giúp chúng sinh dễ
dàng tư duy quán chiếu. Đó là:
- Vô
thường tưởng: Thế
gian, vạn hữu là vô thường. Khi chúng ta suy
nghĩ sự sinh diệt của thân và tâm là để giải phóng tư
tưởng ra khỏi các vọng chấp.
- Khổ
tưởng: Có thân là có
khổ. Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, chết khổ và bao
nhiêu phiền muộn, bất lợi, uất ức, phiền não…làm cho con
người không được an vui tự tại.
- Vô ngã
tưởng: Không có vật
thể nào trên thế gian nầy mà tự nó có thể sanh tồn và phát triển mà
không cần nhân duyên hòa hợp kể cả cái Ta của chúng ta. Vì
thế vạn hữu là vô ngã. Nhờ suy tưởng như thế
mà dần dần chúng ta thoát ra khỏi chấp ngã và ngã
sở để đi đến chỗ tự tại vô ngại.
- Yếm
ly thực tưởng: tư
tưởng không vướng bận trong việc mưu sinh. Chính Đức Phật đã dạy
các vị Tỳ kheo phải tiết độ trong việc ẩm thực, bởi vì
“ăn để sống chớ không phải sống để ăn”. Suy nghĩ như thế là
để chúng ta không còn lệ thuộc vào vật chất một
cách quá đáng. Thật ra con người từ cổ chí kim, từ Đông qua
Tây có chém giết lẫn nhau cũng vì miếng cơm manh áo, tức là tranh giành ảnh
hưởng kinh tế. Như thế chúng ta phải xem ăn uống như
là phương tiện chớ đừng đặt nó làm mục đích của cuộc sống
bởi vì cứu cánh của đời sống phải là cái gì cao thượng hơn.
- Dục lạc
tưởng: là
Tham-Sân-Si mà đó là kết quả của vô minh và ái dục. Ngoài
ra Đức Phật cũng dạy rằng:”chúng sinh bị chi
phối bởi tám pháp thế gian là được lợi, mất lợi, được
danh, mất danh, được khen, bị chê, được vui, bị khổ. Người nào có thể tự
mình giải phóng tư tưởng ra khỏi những căn bản bất
thiện trên thì chắc chắn sẽ được tự do, giải thoát.”
Lửa
tham ghê lắm ai ơi!
Hận
sân cũng vậy, đốt người, đốt ta!
Lưới
nào bằng lưới si mê,
Sông
nào sánh được ái hà sông sâu?
(Pháp
Cú 251)
- Tử
tưởng: Có sanh
tất có ngày chết. Vì đã thông hiểu ngũ uẩn là Không nên con
người không tham sống hay sợ chết. Sống thì an vui tự tại, còn
chết thì bình thản, nhẹ nhàng nghĩa là sinh thuận, tử an vậy.
- Đa
quá tội tưởng:
đây là nói về thân kiến, có nghĩa là quá quý trọng thân xác
và bảo vệ nó với bất cứ giá nào. Chính Đức Phật dạy
phải giữ gìn cho thân thể khỏe mạnh để dễ dàng tu niệm mà
phát sanh trí tuệ chớ Đức Phật không bao giờ dạy chúng
sanh phải quý trọng thân xác của mình bao giờ. Một người khỏe
mạnh có thể hy sinh thân mình cho nghĩa cử vị tha cao
đẹp, ngược lại người quá quý trọng xác thân có thể hãm hại kẻ khác để
mình được vinh thân phì gia.
Nhìn
kia! thể xác mê hồn
Một
đống thịt thối, một hòm đớn đau!
Bận tâm
tính chuyện đâu đâu
Có
chi bền vững mà cầu trường sanh?
Thân
này sẽ bị suy già
Thường
hay tật bệnh, lại hòa uế nhơ.
Mỏng
manh mạng sống từng giờ
Tử
thần bên cửa, đợi chờ mang đi.
(Pháp
Cú 147-148).
- Ly
tưởng: là xuất
ly tam giới để được giải thoát giác ngộ.
Trăm
năm sống có ích gì
Buông
lung, phóng dật, ác tri, ác tà!
Một
ngày trong cõi người ta
Giới
định, thiền tuệ - thật là tốt hơn.
(Pháp Cú 110).
- Diệt
tưởng: là
nuôi hoài bảo tâm niệm tận diệt mọi phiền não khổ đau.
Khéo
thay! tu tập giác chi!
Lành
thay! chánh hạnh, nhiếp trì bền tâm.
Người
không ô nhiễm dục trần
Sống
đời sáng chói, Niết-bàn ở đây.
(Pháp Cú 89).
- Vô
ái tưởng: Cuối
cùng là giải phóng tư tưởng ra khỏi ái dục. Phật lại
dạy rằng: ”Ái dục sinh ra sầu muộn, ái
dục sinh ra lo sợ. Người đã hoàn toàn dập tắt ái
dục thì sẽ không còn sầu muộn và lo sợ”. Thật vậy, ngày
nào tư tưởng của chúng ta còn bị ảnh hưởng ái
dục thì ngày đó chúng ta chưa thể tự tại vô
ngại được.
Người
đắm say ái dục
Tự
lao mình xuống dòng
Như
nhện sa lưới dệt.
Người
trí cắt trừ nó,
Bỏ
mọi khổ, không màng.
(Pháp Cú 347)
Bây
giờ chúng ta hãy tự đặt cho mình một câu hỏi rằng: “Phải
chăng thay đổi cách tư duy thì cuộc đời sẽ đổi thay?”
Không
cần biết trong tâm của chúng ta xuất hiện tư
tưởng hay suy nghĩ gì, mắt thấy gì, tai nghe gì. Người thực
hành Chánh tư duy luôn phải tư duy chuyển hóa tất cả
những ý nghĩ xấu ác thành tốt và thiện, tiêu cực thành
tích cực, người xấu ác thành người tốt thiện, bi
quan thành lạc quan, nghi ngờ thành tin tưởng, sân
giận thành thương yêu và tha thứ, khinh bỉ thành
tôn trọng, buồn khổ thành an vui, thất bại thành những bài học kinh
nghiệm sống,... Biết tư duy chuyển hóa là biết thay đổi
cách nhìn, cách sống thì cuộc đời sẽ có nhiều hạnh phúc và
nhiều an vui, tự tại hơn.
Cuộc
đời là do chính chúng ta tự tạo dựng, hạnh phúc hay
khổ đau cũng chính do tự chúng ta gieo. Tại sao chúng
ta không phản quang tự kỷ để tự nhìn lại những điều có liên
quan đến hành vi, ứng xử của mình và làm thế nào để chấp
nhận những điều mà chúng ta đang phải đối mặt trong cuộc sống
hàng ngày? Vì thế gian này là vô thường, vô ngã thì
tại sao mình phải ôm giữ bên mình những điều làm chúng ta đau khổ?
Hãy buông bỏ những điều không cần thiết mà chúng
ta vẫn luôn cố níu giữ và cố gắng thay đổi và từ
bỏ tất cả những thứ đang trói buộc chúng ta cũng như người
đang bơi trút bỏ hết những tảng đá đè nặng trên lưng:
- Hãy từ
bỏ lối suy nghĩ rằng bạn luôn luôn đúng: Vì cố chấp, xem nặng bản
ngã cho nên có rất nhiều người không thể chấp
nhận mình sai và luôn cho rằng mình đúng, ngay cả khi điều này có thể làm
tan vỡ một mối quan hệ tuyệt vời, và gây ra nhiều căng
thẳng cho bản thân và cho cả những người khác. Bất cứ khi nào
bạn tranh luận về việc ai đúng, ai sai, bạn hãy tự hỏi: Mình muốn chứng
minh là mình đúng hay mình muốn làm người tốt? Mình được gì ở đây?
Có phải là cái tôi của bạn quá lớn khi bạn không thể từ bỏ được?
- Hãy từ
bỏ việc đổ lỗi cho người khác: Hãy từ bỏ việc đổ
lỗi cho người khác về những gì bạn có hoặc không có, về những gì
bạn cảm thấy hay không cảm thấy. Vì tâm luôn hướng ngoại
nên con người chỉ nhìn thấy lỗi của người mà không bao giờ thấy lỗi
của mình. Đừng lãng phí những phẩm chất của mình và hãy cố
gắng chịu trách nhiệm đối với cuộc sống riêng của mình
vì thế gian này không có ai toàn thiện hay toàn ác cả.
Không thấy lỗi của người mà thấy lỗi của mình thì giá trị cuộc sống
sẽ tăng lên, nâng cao nhân cách.
- Hãy từ
bỏ những suy nghĩ tiêu cực: Làm thế nào khiến người khác không
bị tổn thương vì những thái độ tiêu cực dai
dẳng và lặp đi lặp lại? Đừng cho rằng tất cả mọi thứ đang nghĩ trong tâm
là đen tối và tự hủy hoại mình. Bạn có thể làm tốt
hơn nhiều chứ! Dầu cho một đêm có dài như thế nào thì sáng mai ánh bình
minh sẽ đến! Bây giờ nếu thấu hiểu giáo lý Nghiệp thì bắt đầu chuyển
cuộc sống từ tiêu cực sang tích cực nghĩa là chính ta
phải tác động chống lại chớ không chịu chấp nhận an
phận thủ thường. Nói thế có nghĩa là từ nay con
người phải nhận thức sự tai hại và tốt
đẹp của nghiệp và nghiệp quả để vun bồi, tác tạo thêm
nhiều thiện duyên thì chắc chắn cuộc sống của mình sẽ thăng
hoa, hạnh phúc. Nên nhớ, dựa theo thuyết nhân quả thì mỗi người
chỉ nhận được từ cuộc đời những gì mà mình đã bỏ vào đó.
- Hãy từ
bỏ sự tự ti: Hãy từ
bỏ sự tự ti về những gì bạn có thể hoặc không thể làm được, về những gì có
thể hoặc không thể. Bắt đầu từ bây giờ, đừng cho phép niềm
tin của bạn giới hạn và cầm tù chính bạn. Hãy tự tin
vào bản thân mình. Bất cứ sự thành công lớn nào cũng
đều bắt đầu từ những bước khởi đầu nhỏ. Hãy làm những gì bạn muốn làm, mơ những
gì bạn muốn mơ, tới đâu bạn muốn tới, trở thành những gì bạn muốn,
bởi vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả
những gì bạn muốn.
- Hãy từ
bỏ những lời phàn nàn: Hãy từ bỏ việc liên tục phàn nàn về
mọi thứ, về mọi người, về mọi hoàn cảnh hoặc về mọi sự
kiện, những điều làm bạn không vui, buồn hay chán nản. Hãy nhớ rằng không
ai có thể làm cho bạn không hạnh phúc, không có hoàn
cảnh nào có thể làm cho bạn cảm thấy buồn trừ khi bạn muốn
thế. Con người là chủ nhân duy nhất có đầy đủ quyền
năng quyết định cuộc đời theo ý muốn của mình cho
nên thiên đàng hay địa ngục, đau khổ trầm
luân hay giải thoát an lạc tùy thuộc vào sự chọn lựa nghiệp
nhân của mỗi người. Cuộc đời luôn là những thử
thách vì thế hãy luôn nhìn về phía trước, để mỗi thất bại của bạn phải là
một bước tiến dài trên con đường đi tới thành công.
- Hãy từ
bỏ những lời chỉ trích: Hãy từ bỏ việc chỉ trích những thứ,
những việc hay những người khác mình. Tất cả chúng ta đều khác nhau,
nhưng tất cả cũng đều giống nhau. Tất cả chúng ta đều muốn
được hạnh phúc, được cảm thông và được thấu hiểu. Đừng bận tâm
về những điều người ta nói xấu sau lưng bạn, vì họ là những người chỉ
bới móc sai lầm của người khác thay vì lo sửa sai lỗi
lầm của chính mình!
- Hãy từ
bỏ sự không muốn thay đổi: Thay đổi là tốt, nó giúp bạn đi từ A đến B. Thay đổi sẽ giúp
bạn cải thiện cuộc sống của bạn và của những người xung
quanh bạn. Hãy đi con đường của riêng bạn và chấp
nhận thay đổi. Không biết đã bao lần người ta buông tay từ
bỏ khi mà chỉ một chút nỗ lực, một chút kiên trì nữa thôi
là chạm tới thành công. Tuy nhiên, thành công không phải
chìa khóa mở cửa hạnh phúc mà hạnh phúc mới là chìa khóa
dẫn tới thành công cho nên trong cuộc sống nếu bạn thích
thú điều bạn đang làm, bạn sẽ thành công.
- Hãy từ
bỏ nỗi sợ hãi của bạn: Sợ hãi chỉ là một ảo ảnh,
nó không tồn tại, chính bạn đã tạo ra nó vì nó phát xuất từ vọng tâm.
Tất cả là từ trong tâm trí của bạn. Hãy thay đổi cách tư
duy trong nội tâm thì thế giới bên ngoài sẽ bình
yên trở lại. Hãy quán cuộc đời tạm bợ vô thường thì
chẳng có gì để sợ cả. Không tham lam thì không sợ mất, không tham
sống thì không sợ chết. Nên nhớ bạn chỉ sống một lần thôi, nhưng
nếu bạn sống đúng thì một lần là đủ rồi, có gì phải sợ.
- Hãy từ
bỏ việc viện cớ: Đóng
gói những cái cớ và ném chúng đi. Bạn không cần đến chúng. Thường
thì chúng ta chỉ giới hạn bản thân mình trong những
gì chúng ta làm vì nhiều lý do. Thay vì lớn lên, nâng
cao cuộc sống và tinh thần, chúng ta lại kẹt lại, tự
dối bản thân, viện tới tất cả các loại lý do, mà trong
99,9% trường hợp, không phải là có thật. Cuộc đời tạm bợ
ngắn ngủi tại sao mình lại phải dối mình?
- Hãy từ
bỏ quá khứ: Chúng
ta biết điều đó là rất khó khăn, đặc biệt là khi quá
khứ dường như tốt hơn nhiều so với hiện tại và tương lai
lại có vẻ đáng sợ. Thế nhưng, hãy suy nghĩ, hiện tại là tất
cả những gì mà bạn đang có và nó chỉ tồn tại duy nhất một lần.
Bạn mơ ước khao khát quá khứ trong khi bỏ qua hiện tại của
chính mình thì hiện tại biến thành quá khứ, vụt mất khỏi tầm tay
của bạn. Bạn hãy ý thức được mọi việc mình đang làm và hãy
tận hưởng cuộc sống, bởi vì cuộc sống là một hành trình mà không phải
là một điểm đến. Sẽ rất tốt nếu bạn có một tầm nhìn rõ ràng về tương
lai và bạn chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó, nhưng luôn luôn hãy là chính mình ở
đây và ngay bây giờ.
- Hãy từ
bỏ sự quyến luyến: Đây
là một quan niệm mà hầu hết chúng ta rất khó hiểu,
nhưng thế gian này là do duyên sinh duyên diệt cho nên
không có gì sẽ ở mãi với chúng ta. Khi bạn tách mình khỏi tất cả mọi thứ,
bạn trở nên yên bình hơn, khoan dung, thân thiện và thanh
thản hơn, như vậy bạn có thể đến một nơi mà bạn có thể hiểu tất cả mọi thứ
mà không cần phải chịu đau khổ. Nó là một trạng
thái vượt ra ngoài ngôn từ.
- Hãy từ
bỏ việc sống theo mong đợi của người khác: Nhiều người sống cuộc sống của mình
theo những gì người khác nghĩ là tốt nhất cho họ, mà bỏ qua những mong muốn
thật sự của bản thân. Họ cố gắng sống theo sự mong
đợi của người khác chỉ để làm hài lòng những người này, họ tự
đánh mất bản thân mình và cũng không kiểm soát được cuộc
sống của mình. Bạn có một cuộc đời, bạn phải sống cuộc
đời của mình, đừng để cho những ý kiến của người khác lôi kéo
bạn khỏi đường đời của mình.
Nói tóm
lại, không có cuộc cách mạng nào khó khăn cho bằng cuộc cánh mạng
để giải phóng tư tưởng ra khỏi mọi ràng
buộc của ngoại cảnh cũng như những ô nhiễm từ
trong nội tâm, vì tư tưởng đòi hỏi nhiều thử thách, cam go
qua các giai đoạn phấn đấu để tìm tự do. Vì thế Chánh tư duy là
tiến trình suy nghĩ về sự thoát ly các dục
lạc, suy nghĩ không còn sân hận, suy nghĩ về không hại
người. Từ sự suy nghĩ chân chính đó sẽ làm nền tảng vững
chắc hướng tâm đi vào đạo lộ thánh thiện và thoát
ly đau khổ.
Nhưng
quan trọng nhất là suy nghĩ ra khỏi tam giới (dục
giới, sắc giới và vô sắc giới) với quyết tâm đoạn
diệt sinh tử luân hồi thì đây mới thật sự là Chánh tư duy.
3) Chánh
ngữ (Perfected or Whole Speech or Right Speech):
Bây
giờ, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng là ba yếu
tố để kiến tạo một đời sống đạo đức nhân
bản mà nhà Phật gọi là Giới. Giới (morality) trong Phật
giáo không có nghĩa là giáo điều bắt tín đồ phải răm
tắp tuân theo bằng không thì phải chịu hình phạt này hay hình phạt
khác như những tôn giáo khác mà ý nghĩa của Giới
là cách sống đạo đức, trao đồi đức hạnh, sống đúng
với lương tâm. Thực hành đứng đắn Giới thì chắc
chắn có cuộc sống an lành, hạnh phúc. Ngược lại cuộc sống sẽ
nhiều điên đảo đau thương. Đức Phật đưa ra Giới
nhằm mục đích khuyến khích chúng sinh sống đời trong
sạch, đạo đức. Thực hành hay không là tùy ở chúng
sinh chớ Đức Phật không có quyền năng trừng
phạt hay ân thưởng cho ai hết. Tuy nhiên, dựa
theo luật nhân quả nếu mình gieo nhân lành thì chính mình sẽ thọ
lãnh kết quả tốt đẹp, có hạnh phúc. Ngược lại, gieo
nhân bất thiện thì sẽ gánh chịu hậu quả đau thương.
Đức
Phật giới thiệu căn nhà giác ngộ gồm có ba tầng:
-Tầng
thứ nhất là nền móng: Muốn cho căn nhà giác
ngộ được vững chắc thì hành giả phải xây nền
móng cho thật kiên cố cho nên Giới chính là nền
móng cho căn nhà giác ngộ. Vì thế nếu phá Giới thì căn
nhà giác ngộ sẽ sụp đổ. Thực hành Giới viên
mãn nghĩa là sống trong đạo đức nhân bản sẽ biến cuộc
sống trở thành nhẹ nhàng, thanh thoát, không bao giờ còn lo
lắng, buồn phiền.
-Tầng
thứ nhì là Định: Sau khi có đời sống trong sạch thì tâm
mới thanh tịnh, từ đó hành giả mới có thể vào định và thực
hành các tầng thiền định.
-Tầng
thứ ba là Trí tuệ: Đây là tầng tối cao và cũng là cứu
cánh tối thượng của đạo Phật tức là trí tuệ. Một khi
tâm đã an định, hành giả tiếp tục dùng thiền
quán Tuệ Minh Sát, sau cùng trí tuệ sẽ phát sinh
để trực nhận chân lý.
Bát
chánh đạo là tiến trình liên tục, có mối quan hệ khắn khít, tác
động và hỗ tương lẫn nhau. Đức Phật trước nhất
giới thiệu Chánh kiến để con người có cái thấy
biết chính xác, vô tư về mình và về thế giới chung
quanh mình. Sau đó Đức Phật mới giới thiệu Chánh tư duy,
bởi vì có thấy biết đúng thì từ đó trong tâm mới tư duy những
điều chân chính lợi ích cho mình và cho người. Ngược lại thấy
biết sai lầm thì suy tư bất chánh nghiêng về thỏa
mãn những dục vọng của bản ngã (tham, sân, si, ái
dục). Sau Chánh tư duy thì bây giờ Chánh ngữ, Chánh
nghiệp và Chánh mạng mới được Đức Phật đưa vào bởi
vì tư tưởng sẽ biến thành lời nói và hành động. Bộ ba
“thân, khẩu, ý” là ba yếu tố chính giúp con người có cuộc
sống bình yên, hạnh phúc và an lạc. Ngược lại, cũng “thân, khẩu,
ý” lại là nguyên nhân đưa con người đọa lạc vào trong
cảnh khổ biến cuộc sống nhiều sóng gió đau thương và dĩ
nhiên tạo tác tội nghiệp để chịu quả khổ về sau. Tóm lại,
thân gồm có Chánh nghiệp, Chánh mạng và Chánh tinh
tấn, khẩu có Chánh ngữ và ý gồm có Chánh kiến và Chánh
tư duy. Do đó toàn bộ giáo lý Phật Đà không ngoài mục
đích giúp con người thanh tịnh hóa “thân, khẩu, ý” của mình
để cải thiện cuộc sống trở thành thanh cao, nhẹ
nhàng, hạnh phúc và an lạc.
Lời
nói đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống vì nó phản
ảnh trực tiếp sự quan hệ cuộc sống giữa con người. Nó là cánh cửa
giao thông để hiểu nhau, thông cảm với nhau và dĩ
nhiên nó cũng là tác động đưa con người chống
đối, hiềm khích và đố kỵ với nhau. Trong
mọi sinh hoạt hằng ngày, từ gia đình đến xã
hội, lời nói là chiếc cầu nối làm cho mọi người gần
gũi, thân thiện với nhau hơn khiến cho cuộc sống thêm ý
nghĩa và hạnh phúc. Ngược lại, cũng lời nói khiến anh
em bất hòa, vợ chồng ly tán, cha mẹ giận hờn con cái, hàng xóm
bạn bè không nhìn mặt nhau. Trong những hoàn cảnh bình thường, lời
nói phản ảnh tư cách, hay nhân cách của con người ngoại trừ
những người giả nhân giả nghĩa. Ngày nay ở những quốc
gia văn minh tiến bộ, họ còn phát minh ra loại ngôn ngữ ra
dấu (sign language) để mọi người có thể trò chuyện, trao
đổi tư tưởng với nhau. Vì thế lời nói đưa con
người gần gũi với nhau hơn, dễ cảm thông và chia
xẻ bất cứ nỗi niềm trong tâm tư. Một khi nói ra được thì những ấm ức trong
tâm được giải tỏa chẳng khác nào tháo đê để nước chảy xuống nhẹ nhàng.
Một
hôm, Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn viếng thăm Thiền
sư Phật Ấn. Hai người đàm đạo cả ngày, bấy giờ Tô Đông Pha mới
hỏi:
- Bạch
Đại Sư! Ngài ngồi đây nhìn tôi thấy giống cái gì?
Thiền
sư Phật Ấn trả lời một cách trang nghiêm và trân
trọng:
- Xem
ông giống như một vị Phật.
Nghe
xong, Tô Đông Pha hớn hở vui mừng. Thiền sư Phật
Ấn mói hỏi lại ông ta:
- Ông
thấy ta ra sao?
Tô
Đông Pha nhìn Phật Ấn mập tròn bèn đáp:
- Tôi
nhìn ngài giống như một đống phân trâu.
- Ủa
vậy à!!!
Tô
Đông Pha tự cao, tự đại, nhưng ngạc nhiên hỏi lại:
- Ngài
tôn tôi là Phật, nhưng tôi nói ngài là một đống phân, ngài không giận sao?
- Tôi vui
mừng mới đúng, làm sao nổi giận được. Phật Ấn trả lời.
- Tại
sao? Đông Pha hỏi.
Phật
Ấn trả lời:
- Mình
là Phật nên nhìn người khác là Phật, chính mình là đống phân thì nhìn người
khác là đống phân mà thôi.
Trong
cuộc sống gia đình, đấng cha mẹ nào cũng muốn con cái mình
được hạnh phúc, tự tìm ra con đường đi của chính bản
thân mình. Một đứa trẻ thông minh chưa chắc đã hạnh phúc.
Nhưng một đứa trẻ được cảm nhận tình yêu thương là được nuôi
dưỡng để biết tự lập, biết sống có ước mơ, có mục đích sống rõ
ràng và sẽ luôn biết mình phải làm gì trong tương lai để
được hạnh phúc. Và điều đó phụ thuộc vào cách cha
mẹ yêu thương các em, cách cha mẹ nói chuyện, dạy dỗ với
các em ngay từ lúc đầu đời. Cha mẹ muốn dạy con mình học
chữ, muốn con phát huy khả năng trí tuệ, muốn uốn
nắn con tự lập nhưng lại không thành công vì gặp phải
sự phản kháng từ các em. Nguyên nhân chính là bởi vì trẻ em đã thiếu
khả năng tự đánh giá bản thân để làm động lực cho ham
muốn học tập và nghe theo lời cha mẹ. Muốn các em phát huy sự tự tin
và khả năng tự đánh giá bản thân thì bước đầu tiên là
hãy cho các em cảm thấy rằng các em là người quan trọng đối
với cha mẹ, từ đó các em sẽ hiểu được ý nghĩ của cuộc sống.
Muốn cho các em thấy điều đó thì không gì khác ngoài những cử
chỉ hay tác động hằng ngày như “thân thiết”, “trò
chuyện”, “kiên nhẫn” và “khen ngợi”. Đây là những nhịp cầu
nối các đấng cha mẹ gần với con em của họ nhiều hơn. Tuy nhiên,
sự cưng chiều quá đáng, thỏa mãn đòi hỏi của các em khiến các em
phát triển tinh thần ỷ lại, sống trong tiêu cực, không có sức
phấn đấu vươn lên. Nhưng quan trọng nhất, trong bất cứ gia
đình nào, cha mẹ lúc nào cũng là tấm gương ảnh
hưởng trực tiếp đến con cái. Nếu cha mẹ sống đời trung thực, nhân
ái, thân thiện thì con cái sẽ noi theo cách ứng xử đó.
Theo Đức
Phật cha mẹ có năm nhiệm vụ đối với con cái:
- Nhiệm
vụ thứ Nhất: Ngăn
cản các con gây tội lỗi.
Nhà
là trường học đầu tiên, cha mẹ là các thầy giáo đầu tiên.
Trẻ con thường học những bài học vỡ lòng tốt và xấu nơi cha mẹ.
Các bậc cha mẹ thiếu thận trọng trực tiếp hay gián
tiếp tiêm nhiễm vào đầu các con cái những điều nói
dối, gian lận, bất lương, vu oan, báo thù, không xấu hổ,
không sợ hãi các tội lỗi, và các hành động vô
luân trong thời thơ ấu của chúng. Hãy nhớ đến thói
quen bắt chước. Cho nên cha mẹ phải làm gương, không
nên tiêm nhiễm những tật xấu vào đầu óc ngây thơ của con cái. Nhưng
quan trọng nhất là sự tiếp cận, học hỏi những thói hư tật xấu từ bạn
bè vì thế cha mẹ nên theo dõi và khuyến khích con em của
mình nên giao tiếp với những người hoặc gia đình có đạo
đức bởi vì gần mực thì đen gần đèn thì sáng.
- Nhiêm
vụ thứ Hai: Thuyết phục trẻ làm điều lành.
Cha
mẹ là những thầy giáo ở nhà, và thầy giáo là cha mẹ ở trường. Cả
hai cha mẹ lẫn thầy giáo đều chịu trách nhiệm về tương lai
và hạnh phúc của con cái. Chúng có trở nên người tốt hay xấu là đều
do cha mẹ và thầy giáo hun đúc. Gần gũi hay tiếp xúc với
môi trường sinh hoạt hằng ngày ảnh hưởng rất lớn cho
các em trở thành tốt xấu mai sau. Các em noi theo, bắt chước
làm y như người lớn trong tuổi thơ ngây của chúng.
Chúng hấp thụ điều truyền đạt. Chúng theo
dấu chân người lớn. Chúng bị ảnh hưởng về tư
tưởng, lời nói và hành động của người lớn. Do vậy, nhiệm vụ của cha
mẹ là tạo bầu không khí thích hợp cả tại nhà lẫn trường
học. Giản dị, vâng lời, hợp tác, đoàn kết, hy
sinh, chân thật, thẳng thắn, giúp đỡ tự tin, bằng lòng, cử
chỉ tốt, nhiệt thành mộ đạo, những đức hạnh khác phải được
in sâu vào tâm trí thanh xuân của chúng. Tạo môi trường để chia sẻ
những mẩu chuyện đạo đức. Những hạt giống như vậy được đem trồng
sẽ lớn lên thành cây nhiều trái.
- Nhiệm
vụ thứ Ba: Cho con cái một nền giáo dục tốt.
Một
nền giáo dục đứng đắn là một di sản tốt nhất mà các
bậc cha mẹ để lại cho con cái. Một kho tàng quý báu cũng
không bằng. Giáo dục là phước báu tốt nhất mà cha mẹ để cho
con cái. Giáo dục phải được truyền dạy cho con cái ngay từ tuổi ấu
thơ trong bầu không khí đạo đức nhân bản bằng cách huấn luyện
chúng duy trì kỷ luật cao thượng và tính tốt của con người. Việc
đó sẽ ảnh hưởng sâu xa đến đời sống của chúng. Những
đứa trẻ thành công trong cuộc sống lúc nào cũng thừa
hưởng một di sản văn hóa tốt đẹp và có định hướng cho
tương lai.
- Nhiệm
vụ thứ Tư: Lo cho con cái thành lập gia đình với
người xứng đáng
Hôn
nhân là một hành động trọng đại của một đời người; sự
kết hôn không thể hủy bỏ dễ dàng. Cho nên hôn nhân cần được xét kỹ từ
mỗi khía cạnh, tất cả mọi góc độ để hai họ vui lòng trước khi cưới.
Việc cha mẹ quan tâm đến người hôn phối của con cái
rất quan trọng cho đời sống lứa đôi tương lai của chúng. Bậc cha
mẹ phải chấp nhận những lệ thường thời hiện đại như
hẹn hò vân vân..., con cái phải hiểu rõ ràng là cha
mẹ có quyền giám sát hoạt động của chúng, biết bạn của chúng là
ai. Nhưng con cái cũng có quyền riêng tư và tự trọng. Trong hầu hết các trường
hợp, những ai ngược đãi người khác thì chính họ sẽ là nạn nhân của sự ngược
đãi.
- Nhiệm
vụ cuối cùng: Là nên giao lại tài sản cho con cái
lúc thích hợp.
Cha
mẹ không những chỉ thương yêu và săn sóc con cái khi
còn sống trong sự nuôi dưỡng, che chở của mình mà còn
phải lo liệu tương lai và hạnh phúc cho chúng. Cha
mẹ đã phải khó nhọc tạo nên của cải nhưng không nuối tiếc khi
cho các con cái thừa hưởng gia tài. Cha mẹ để lại của
cải cho con cái nhưng không muốn chúng hoang phí mà chỉ muốn
chúng dùng của cải này để nâng cao mức sống. Trong tất cả
các việc này, điểm chủ yếu là tôn trọng lẫn nhau, và quan
tâm đến hạnh phúc của cả cha mẹ lẫn con cái. Đức
Phật nhấn mạnh rằng các bậc cha mẹ nên cẩn
thận và tế nhị về vấn đề tài sản vì tác
động của nó cũng như con dao hai lưỡi. Nếu con cái có định hướng,
có tinh thần tự lập thì đối với chúng tài
sản của cha mẹ không quan trọng vì tự chúng có thể tự tạo lấy.
Ngược lại, nếu con cái không có tương lai, không thành công bằng nghề
nghiệp vững chắc thì chúng tùy thuộc rất nhiều vào tài
sản của cha mẹ. Tuy nhiên, cho dù tài sản có to lớn
bao nhiêu thì một ngày nào đó cũng sẽ tiêu cạn và từ đó tương lai của chúng sẽ
ra sao? Bill Gates là người giàu nhất thế giới tài sản lên đến
76 tỷ đô la thế mà ông chỉ để lại một số tiền nhỏ cho các con của ông, số tiền
còn lại ông sẽ xung vào quỷ từ thiện. Lý do chính là ông muốn
các con của ông phải có trách nhiệm, biết thử thách tài
năng của mình vào trong cuộc sống, phát triển tiềm năng trí óc của mình để
làm lợi ích cho đời, biết thương người nghèo khó, biết sống
đời đạo hạnh, khiêm nhường.
Đức
Phật dạy rằng những người nói lời dịu dàng, tử tế sẽ được
người tin cậy và tôn trọng bởi vì phát xuất từ trạng
thái nội tâm bình lặng và thanh tịnh cho nên lời
nói luôn mang tính chất thân thiện. Trái lại, Đức
Phật luôn nhắc nhở con người nên thận trọng với
loại tà ngữ (thâm độc). Đó là lời nói cộc cằn, thô
lỗ, lời nói cay độc, nói lời kiêu căng, nói lời chửi
rủa thậm tệ. Nói chung đây thuộc về loại khiếm nhã vừa gây bực
bội, đau thương, tang tóc cho mình và cho người. Chẳng những thế, nó làm
giảm nhân cách của mình là dĩ nhiên ác tâm và những khổ
thọ mà ta tạo ra cho người sẽ dội trở lại và chính ta một ngày
nào đó sẽ hứng chịu hậu quả mà mình đã gieo cho kẻ khác.
Khi chúng ta nói những lời nguyền rủa, cay độc chẳng
khác nào như miệng tung ra biết bao gươm đao với mục đích làm cho
người đau khổ thì đây là tà ngữ (ác độc). Vì thế Đức
Phật dạy rằng: “ Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây
dựng người lại mất ngàn lời”.
Lời
nói lúc nào cũng có tác động hai chiều thuận và nghịch cho nên
người có Chánh niệm luôn suy nghĩ, cảnh tỉnh trước khi
nói. Ngược lại, người thiếu ý thức thì phát ngôn bừa bãi,
thiếu tế nhị, dễ chạm tự ái người. Đức
Phật khuyên chúng sinh nên nói trong Chánh
niệm nghĩa là mình biết mình sẽ nói gì và luôn nghĩ
đến nhân quả của lời nói đó. Nói sau lưng thường
đưa đến tranh cải và hiểu lầm, đôi khi làm cho tan vỡ nhiều mối quan hệ.
Có những trường hợp nghiêm trọng, nó có thể đưa đến tố
tụng trong tòa án vì đã mạ lỵ hay làm mất danh tiếng người khác.
Thiền trong Phật giáo là để tư duy, nhìn lại chính mình.
Nhưng tư duy cái gì? Hành giả nhìn lại mình đã nói gì, làm
gì, nghĩ gì để có hạnh phúc, thanh tịnh hay an lạc hoặc
mình đã nói gì, làm gì hay nghĩ gì để khổ đau phát hiện.
Dựa
theo tinh thần Phật giáo, Chánh ngữ là lời
nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện trong lời nói,
nghĩa là không được nói dối, không nói lời cộc cằn thô lỗ, không
nói lời thâm độc nguyền rủa kẻ khác, không nói chuyện người khác thường dẫn đến
tranh cải, hiểu lầm, làm mất thời gian và khiến tâm bất tự
tại.
Tóm
lại, Chánh ngữ không những là lời nói chân chánh, không
tạo nghiệp bất thiện bằng lời nói mà Chánh
ngữ còn là dùng lời nói để tạo các nghiệp lành. Vì thế:
-Tránh
dùng lời phao vu để chia rẽ, hay gây bất hòa giữa người nầy
với người khác. Trái lại chúng ta phải tìm cách đem
lại hòa hợp và thông cảm giữa mọi người. Nói
năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cán
của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa thù thành bạn.
-Tránh
dùng lời thô lỗ để hạ nhục kẻ khác mà trái lại phải
nói lời thanh tao, lễ độ để an ủi, khuyến khích
hay thuyết phục kẻ khác. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó
thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao
nhiêu. Bạn càng nguyền rủa họ, tâm bạn càng bị nhiễm ô, bạn hãy nghĩ, họ
chính là thiện tri thức của bạn.
-Tránh
những câu chuyện phiếm vô bổ mà nên nói
đúng lúc, hợp lý và hữu ích. Cũng có trường hợp,
khi chúng ta nói chân thật và lễ độ mà vẫn chạm
đến tự ái của kẻ khác khiến họ phật lòng.
Nhưng chúng
ta có nói tốt, nói xấu là bởi tại vì tâm mình
nghĩ tốt, nghĩ xấu về người ấy hay việc đó. Do đó ý là nhân mà thân khẩu là quả
của nó. Vì thấy tầm quan trọng nầy cho nên Chánh ngữ phải đi
sau Chánh tư duy. Nếu khen một người nào bởi vì chúng ta đã
có ấn tượng tốt về người ấy. Ngược lại nếu muốn chửi người đó thì
trong tâm chúng ta phải ghét họ trước. Do đó lời nói là sản
phẩm phản ảnh những gì trong tâm khảm của chúng ta.
Muốn thực
hành Chánh ngữ được rốt ráo, Đức Phật mô tả lời
nói của bậc thiện tri thức như sau:
- Phát
biểu đúng lúc:
Nếu lời nói chân thật mà không phát biểu đúng
lúc thì thành ra vô ích do đó người thiện
trí phải tế nhị áp dụng lời nói của mình cho đúng
chỗ, đúng lúc.
- Hợp
với sự thật:
Bậc thiện trí thức nói một lời phải dựa trên sự
thật, không ngụy biện và không lừa dối. Đức Phật dạy rằng:
“Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối
người, và bị người dối”. Nên nhớ rằng lương tâm là tòa
án công bằng nhất của mỗi người, bạn dối người khác được nhưng không
bao giờ dối nổi lương tâm mình cho nên nói một lời dối gian
thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì phải khổ
như vậy?
- Đem
lại lợi ích: Lời
nói phải có mục đích và ý nghĩa của nó. Cho dù
là lời nói thật nhưng không có mục đích đem lại lợi
ích cho ai thì đó cũng chỉ là lời nói nhảm, vô ích mà
thôi.
- Thích
ứng với lý trí:
là lời nói phải hợp với đạo lý thì dĩ nhiên sẽ
hợp với lý trí.
- Hợp
với đạo đức:
Thông thường chúng ta thường hiểu chữ thiện là hữu ích, nhưng
trên thực tế có lợi ích chưa hẳn đã là thiện. Vì
vậy lời nói của bậc thiện trí phải có ích và hợp
với đạo đức nữa.
Nhưng
nói lời thế nào để thích ứng với lý trí và hợp với đạo đức?
- Nên
nói về đức từ bi vì lòng từ bi giúp chúng ta có
được tâm hồn vị tha, không tham lam, không ích kỷ và
không bỏn xẻn.
- Nên
nói về đức tính tri túc để giúp chúng ta bỏ những ước
vọng thái quá và sống an vui trong bất cứ hoàn cảnh nào.
- Nên
nói về đức thanh tịnh để giúp cho chúng ta có tâm
hồn trầm tĩnh, trong sạch và tự tại.
- Nên
nói về đức tính độc lập để giúp chúng ta không xu
hướng phe đảng, không ỷ lại và phát triển đức tự tin.
- Nên
nói về đức tinh tấn để giúp chúng ta từ
bỏ tính biếng nhác, do dự và không nhất quyết.
- Nên
nói về giới hạnh vì giới hạnh có khả năng loại
bỏ những thói hư tật xấu mà đã kết tập từ vô
lượng kiếp đến nay.
- Nên
nói về thiền định vì thiền định có khả năng tiêu
trừ dục vọng, oán thù và phát triển sức mạnh tinh thần.
- Nên
nói về trí tuệ để giúp chúng ta rèn luyện một tâm
hồn trong sáng và phát triển trí năng hầu thấu
triệt chân lý.
- Nên
nói về sự giải thoát giác ngộ vì đây là mục đích cuối
cùng của người Phật tử trên đường tận diệt vô
minh phiền não.
- Nên
nói về giải thoát tri kiến có nghĩa là nói đến sự
thật chứng của các chư Thánh hay Phật để giúp chúng ta trên
đường tu tập vì tin rằng một ngày nào đó chúng ta cũng
sẽ được giải thoát tri kiến như thế.
Bản
chất của lời nói tùy thuộc vào sự biến
dạng của tâm thức. Nếu tâm đang ở trạng thái giận
hờn, bực tức, nóng nảy thì lời nói sẽ mang sắc thái
nặng nề, hung dữ. Ngược lại, nếu tâm đang ở trạng thái nhẹ
nhàng, an ổn, bình thản thì lời nói sẽ dễ nghe, dịu dàng,
hài hòa. Vì Chánh kiến và Chánh tư duy là mầm
móng của Chánh ngữ cho nên khi lời nói gây ra đau
khổ thì phải tự biết rằng cái thấy biết của mình chưa rõ ràng và
việc tư duy chưa đúng.
Đức
Phật khuyên con người nên ái ngữ, nói những lời văn
hóa và có nhân cách để thăng hoa cuộc đời mình và cho người.
Và Đức Phật khuyên con người luôn sống trong tỉnh
thức Chánh niệm để kiểm soát lời nói của mình
với quyết tâm không nói điều gì gây tổn hại cho mình và cho
người mà chỉ nói những lời nhẹ nhàng có thể mang lại sự hòa hợp, ích
lợi cho mọi người trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn
nào. Lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng
không những đối với đời sống hạnh phúc của mỗi cá
nhân mà còn có thể định đoạt được cả sự an nguy của xã hội.
Đối
với người đắc đạo thì lời nói không quan trọng, nhưng quan
trọng là lời nói kia phải đi đôi với sự thật và sau
cùng Đức Phật dạy rằng: “Người có Chánh tư duy, Chánh
ngữ sinh”.
4) Chánh
nghiệp (Integral Action or Right Action) là hành động chân
chính để sống đúng với chân lý, sống phù hợp với đạo
đức, đó là những hành động thuộc về thân. Sau Chánh ngữ, Đức
Phật mói nói Chánh nghiệp và Chánh mạng vì lời
nói luôn đi đôi với hành động. Hành động chân
chính là không sát hại, không trộm cắp dưới bất
cứ hình thức nào và sau cùng là không tà
hạnh trong dục lạc. Muốn chấm dứt hoàn
cảnh khổ đau trong cuộc sống, vượt thoát cảnh tù tội của thế gian,
hoặc những tai nạn hiểm nghèo, những bệnh tật khó trị,
những xung đột tỵ hiềm, nhỏ mọn, ích kỷ... Đức
Phật khuyên chúng sinh phải biết thực hành Chánh
nghiệp. Đức Phật khuyến khích con người tránh xa tà
hạnh nhằm mở rộng cho các hành động đạo đức cao hơn
và thúc đẩy con người luôn hành động với đầy lòng từ
bi đối với tất cả mọi chúng sinh.
“Mọi người sợ hình phạt
Mọi
người đều sợ chết
Lấy mình
làm thí dụ
Không
giết, không bảo giết” (Pháp Cú 129).
Tuy
không giết hay không bảo ai giết hại, nhưng bất cứ hành động nào gây tổn
thương cho người khác dù hình thức này hay hình
thức khác đều là những hành động thiếu đạo đức. Ngày
xưa chính Đức Phật và hàng Tỳ kheo không phải là
người ăn chay. Các Ngài cũng ăn thịt, cá khi được cúng dường,
nhưng các Ngài chỉ ăn thịt chớ không bao giờ có ý sát hại. Kinh
Jivata (Trung Bộ II, số 55) nói về Tam tịnh nhục hay Ngũ
tịnh nhục nghĩa là ba thứ (hay năm thứ) thịt mà các Tỳ kheo được
phép thọ dụng: “Này Jivaka, những ai nói như sau: Vì Sa
môn Gotama, họ giết hại các sinh vật. Và Sa môn Gotama tuy biết
thế vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình, được làm cho mình,
những người ấy không nói chính lời của Ta, họ xuyên tạc Ta, không như
chân, không như thật. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt
không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta
nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này
Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy,
không nghe và không nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta nói trong
ba trường hợp này, thịt được thọ dụng”. Ngoài ra, còn có
thuyết Ngũ tịnh nhục, tức tam tịnh nhục vừa kể trên cùng
với thịt của các con thú tự chết và thịt mà các loài thú khác ăn còn dư. Vì thế
dựa theo lời dạy của Đức Phật thì không thấy, không nghe, không biết
và dĩ nhiên không tự mình giết con vật đó cho mình ăn thì
không phạm Giới nghĩa là hãy đi và tìm (mua) thịt đã được làm sẵn
(bày bán ngoài thị trường).
Đức
Phật dạy rằng:
- Người
không tạo nghiệp sát hại chúng sanh, thì được thọ mạng lâu
dài. Người tạo nghiệp sát, đoản mạng sống của chúng sanh, nên thọ
mạng yễu. Do nghiệp ác làm cho người đau khổ, nên thọ thân
hay bệnh tật đau yếu.
Vấn
đề ăn chay, ăn mặn là một đề tài (tranh luận) rất tế
nhị, tuy nhiên ở Việt Nam vào thời nhà Trần, Ngài Tuệ
Trung Thượng Sĩ Trần Tung có em gái là Hoàng Thái
Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm mở tiệc trong cung điện. Trên
bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chay. Thượng sĩ gắp thức
ăn không phân biệt chay hay mặn. Hoàng Thái hậu hỏi :
“Anh tu
Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?”
Thượng
sĩ cười đáp:
“Phật
là Phật, Anh là Anh. Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành
Anh. Em không nghe các bậc cổ đức nóí Văn Thù là Văn
Thù, Giải thoát là giải thoát đó sao”.
Mạn
đàm: Thượng sĩ nói: “Phật là Phật, Anh là Anh…” nghĩa là miệng là
miệng còn tâm lúc nào vẫn là tâm. Vì thế miệng ăn thịt chớ tâm đâu
có ăn thịt cho nên tâm không ăn thịt thì lấy gì làm ô
nhiễm? Ở đây Thượng sĩ muốn phá cái chấp trong phương
tiện tu hành và tầm quan trọng của tu tâm. Do đó đối với
người giải thoát, cho dù miệng có nhai thịt thì tâm vẫn bình thản như
miệng nhai đậu hũ vậy. Đây chính là biểu hiện câu “Ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm” nghĩa là tuy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý có tiếp
xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà tâm vẫn thản
nhiên, vô tư, không dính mắc thì tâm kỳ diệu mới hiện
ra tức là đang sống trong tự tại, thanh tịnh Niết bàn. Đây
là câu chuyện của người giải thoát, còn chúng
ta là phàm nhân thì nên cẩn trọng vì tâm chúng
ta còn nhiều dính mắc.
Khoảng
500 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết bàn, Phật giáo Đại
thừa ra đời và các vị luận sư Đại thừa giới thiệu 5 tư
tưởng mới để có sự khác biệt so với Phật giáo Nguyên thủy. Đó là:
1) Chuyển lý
tưởng Niết bàn của các vị A la hán thành ra lý
tưởng Bồ-tát.
2) Giới
thiệu Lục độ Ba-la-mật mà trong đó hạnh nguyện từ
bi được xếp ngang hàng với trí tuệ.
3) Phật
giáo vào thời Đức Phật còn tại thế chỉ xiển
dương con đường tự giác, không tín ngưỡng. Vì thế
trong kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy rằng: “Các người hãy tự thắp
đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà
tu giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng
tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các người”. Ngược
lại, Đại thừa bị ảnh hưởng đạo Bà la môn là
một tôn giáo đa thần cho nên các luận sư Đại thừa đưa
ra một loạt các vị Thánh, các vị Bồ Tát, các chư Phật có khả năng cứu
rỗi chúng sinh biến Phật giáo trở thành tín
ngưỡng và dĩ nhiên đức tin bây giờ là tất yếu.
4) Phương
tiện thiện xảo trở thành thiết yếu vì thế những cảnh
giới bất tư nghì, thế giới chư Phật hay chư Phật
hiện ra như Phật Đa Bảo hay Đức Phật vận
dụng thần thông làm cho thế giới rung chuyển như trong kinh
Pháp Hoa hay Duy Ma Cật. Những cảnh giới đó không bao giờ
có vào thời Đức Phật còn tại thế.
5) Để thích
hợp với giáo lý bản thể của thế giới vô
vi, Đại thừa giới thiệu tư tưởng tánh không và định
nghĩa lại tất cả những lý thuyết về chữ “không” cho phù
hợp với giáo lý mới để có sự khác biệt với Nguyên thủy.
Vì
muốn xiển dương lý tưởng Bồ Tát cho nên Phật giáo Đại
thừa chủ trương bất sát nghĩa là Bồ Tát sao lại
nở ăn thịt chúng sinh cho nên có những trường phái Đại
thừa chủ trương ăn chay. Tư tưởng này có thể tìm
thấy trong Kinh Lăng Già, Lăng Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn…Tuy nhiên cũng
có những trường phái Đại thừa hay Mật tông không ăn
chay chẳng hạn như nhiều trường phái Đại thừa Nhật
bản, Phật giáo Tây Tạng (áo đỏ). Hãy lắng nghe Đức Đạt Lai Lạt
Ma thứ 14 nói về vấn đề ăn chay: “Chính tôi cũng đã từng ăn
toàn chay từ năm 1965 và giữ được cách ăn uống này được khoảng hai
mươi hai hay hai mươi ba năm. Sau đó thì tôi trở nên èo uột và bác
sĩ khuyên tôi nên thay đổi cách ăn uống. Đối với những người có
thể chịu đựng được thì tốt hơn hết nên ăn toàn chay”. Vì
vậy, ăn chay là một đức hạnh tốt, nhưng quan trọng hơn hết
là phải thanh tịnh thân, khẩu, ý của mình.
Bây
giờ nếu đứng về phương diện phát triển tâm linh thì ăn
chay hay ăn mặn không phải là yếu tố chính
đưa hành giả đến chổ giải thoát mà hành
giả phải thực hành ly dục, ly bất thiện pháp thì
tâm dần dần sẽ có thanh tịnh. Ly dục nghĩa
là hoàn toàn thoát ly những đối tượng của dục tức là
thân viễn ly. Còn ly bất thiện pháp là từ
bỏ những cấu uế (dục vọng) của tâm tức tâm viễn ly.
Nói cách khác ly dục là thanh tịnh thân nghiệp, ly bất
thiện pháp là thanh tịnh ý nghiệp. Vì thế Đức Phật dạy
rằng sự giải thoát không do nơi ăn uống (chay, mặn) mà
cốt yếu là do nơi thanh tịnh ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Trong
cuộc sống hiện nay, có rất nhiều thứ góp phần vào việc giết hại một
cách gián tiếp mà đôi khi chúng ta không bao giờ để
ý đến. Thí dụ khi làm vườn, cuốc đất chúng ta vô tình
giết chết côn trùng. Khi bị bệnh nhiễm trùng, chúng ta uống thuốc
trụ sinh. Nhưng thuốc trụ sinh sẽ giết biết bao vi trùng (chúng sinh)
trong người của chúng ta…Đối với những người ăn chay, ăn
rau quả. Tuy chúng ta chỉ ăn toàn thực vật, nhưng
trong tiến trình trồng trọt, vun xới phân bón, nhà nông (farmers) đã vô tình
giết hại biết bao côn trùng nằm dưới lòng đất. Đó là chưa kể họ còn dùng thuốc
xịt sâu bọ để bảo vệ mùa màng. Thế thì khi ăn những sản phẩm
đó chúng ta cũng gián tiếp sát sinh rồi. Thậm chí khi
nhổ một cộng rau thì chúng ta cũng đã giết đi một sự sống. Tuy
nhiên, Đức Phật dạy rằng: ”Bất cứ hành động nào với chủ tâm thì
hành động đó mới đáng kể, mới gọi là tạo nghiệp”.
Trộm
cướp không nhất thiết là cướp của ngân hàng, hay đánh cắp hàng hiệu
bỏ vào túi…mà trộm cướp là lấy (lấy của) những gì không thuộc về mình. Đây là
biểu hiện của lòng tham cho nên một khi lòng tham nổi dậy, che
lấp nhân tính khiến con người mạnh dạn cầm nhầm bất
chấp hậu quả gì sẽ xảy ra. Ngày nay có những quốc gia chậm
tiến, nhân viên chính phủ từ trung ương đến hạ cấp bất chấp liêm sĩ,
dùng quyền lực xâm chiếm tài sản và tiền bạc của quốc
gia nghĩa là “dĩ công vi tư” cho nên họ đều là những kẻ
trộm cắp. Tuy ngày nay, họ sống trong những dinh thự đồ sộ nguy
nga, nhưng đó là xương máu của nhân dân chớ đâu phải tài
sản riêng của họ. Trái lại, trên thế giới có
những quốc gia như Nhật Bản hay Singapore đã chứng
tỏ tinh thần đạo đức của họ đến cao độ khiến cho thế
giới khâm phục. Ở Nhật Bản năm 2011, có trận động đất Tohuku rất
lớn (9.0 Richter scale) kéo theo nhiều đợt sóng thần cao đến gần 40
thước, tàn phá rất nhiều nhà cửa và giết hại biết bao chúng sinh. Thế mà
không bao giờ có ai trộm cắp bất cứ tài sản gì của ai. Hay
hơn nữa, tiền bạc hay vật dụng rơi rớt đều được người dân trả lại hết
cho chủ hoặc gởi trả lại cho chính quyền.
Có
một ông giám đốc người Nhật Bản sang làm việc tại Việt Nam. Vì
sợ cảnh lái xe hỗn tạp ở Sài Gòn nên ông ta thuê một tài xế người Việt. Trước
khi về nước ông giám đốc nói với vị tài xế rằng: “Chúng tôi biết anh đã
từng ăn (bán) bớt xăng trong rất nhiều năm và cứ đòi tăng lương mỗi
năm. Chúng tôi chấp thuận là vì sự an toàn tính
mạng do anh lái. Nhưng thật ra nếu anh không làm như vậy
thì chúng tôi vẫn thưởng cho anh còn nhiều hơn thế nữa mà”.
Ngoài sát
sanh, trộm cướp thì tà dâm cũng đóng vai trò không kém
quan trọng trong cuộc sống gia đình. Đức Phật luôn khuyến
khích chúng sinh nên một lòng chung thủy, không nên nhìn trước ngó
sau người khác phái. Khi khởi ý nhìn ngó một đối tượng khác phái mà sinh lòng
yêu thích thì biết ngay đây là tâm trạng tà dâm. Người có tâm
trạng tà dâm thì tâm bất chính nghĩa là vương vấn
những tư tưởng lang chạ, không đứng đắn. Tâm niệm bất
chính đó trước sau sẽ làm đau khổ gia đình mình và gia
đình người khác. Nó có thể đem đến cảnh nhà tan, cửa nát thậm chí nó còn
tạo nên cảnh tượng đau thương, giết chóc vào tù ra khám khi tâm ghen
tuông không dừng được khiến cho những đứa trẻ thơ vô tội phải sống bơ vơ mất
cha, mất mẹ. Ngày nay chúng ta đang sống trong những quốc
gia văn minh cho nên vấn đề ăn mặc hở hang được cho là
đẹp và thích hợp với thời trang. Tuy nhiên, người có văn
hóa và đạo đức thì đẹp và thời trang không nhất
thiết phải là hở hang, trống chỗ này, thiếu chỗ kia để khiêu gợi mà là nét
đẹp tự nhiên, kín đáo và duyên dáng. Các nhà tâm lý học nói
rằng những người thích khoe khoang bày da hở thịt, bày ngực, bày mông… là những
người thiếu tự tin, nhiều mặc cảm và dĩ
nhiên thiếu văn hóa và kém đạo đức chỉ cốt thỏa
mãn dục tính nhất thời. Do vậy, tà dâm là con
đường đau khổ của kiếp người, phá vở hạnh phúc gia
đình và biến cuộc đời yên ổn trở thành bẽ bàng ngang
trái.
Dục
tình là sự thu hút, lôi cuốn và quyến rũ của người đối
tượng làm cho con người thiếu sáng suốt, sống trong ảo
giác mê mờ. Vì sự nguy hại của dục tình, Đức Phật dạy rằng:
“Này
các Tỳ kheo, ta không thấy có một sắc (thanh, hương, vị, xúc ) nào khác do
nó mà tâm người đàn bà trở nên rất nô lệ như là bị nô
lệ bởi sắc (thanh, hương, vị, xúc) của người đàn ông. Này các Tỳ
kheo, tâm người đàn bà bị ám ảnh bởi thứ đó”. Lịch
sử nhân loại từ đông qua tây, từ cổ chí kim có biết bao
chuyện anh hùng lụy với thuyền quyên tất cả cũng chỉ vì đắm say
theo sắc dục.
Thực
hành Chánh nghiệp không phải chỉ vì chúng ta muốn
tránh phạm giới hoặc vì chúng ta sợ người trả
thù hay luật pháp sẽ trừng phạt, nhưng quan trọng
nhất chúng ta tránh những hành động tàn nhẫn, ác độc sẽ mang
lại sự bất hạnh khôn lường chẳng những đến cho người mà còn cho chính
mình ở hiện tại cũng như tương lai. Thấu hiểu luật Nghiệp
quả giúp con người tăng thêm sức mạnh để từ
bỏ những hành động bất thiện bởi vì ngày nay mình gây nhân thì
ngày mai chính mình phải thọ lãnh quả nghiệp đó. Đức
Phật khuyến khích chúng sinh luôn thực hành Chánh
nghiệp trong cuộc sống bởi vì tà hạnh làm tâm bất tịnh,
luôn sống trong phiền não, lo âu, sợ hải. Ngược lại, hành
động chân chính có lợi ích cho mình và cho người khiến tâm
nhẹ nhàng, thanh thoát và an lạc.
Tóm
lại, thực hành Chánh nghiệp không nhất thiết chỉ là
không làm các việc ác mà còn làm tất cả các việc lành nghĩa là “Chư
ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành”. Nếu
không được rèn luyện đạo đức thì con
người sẽ trở thành ác nhân và cuộc đời sẽ là nạn
nhân của nó. Con người sống, không ai dám tự xưng mình là
người toàn thiện, nhưng nếu chúng ta có hành động chân
chính, không sát hại, không trộm cắp, không tà
hạnh trong dục lạc và thực hành sự yêu
thương cứu giúp, tạo thiện nghiệp trong mọi hoàn
cảnh thì con đường ta đi sẽ mát dịu, có muôn hoa đua nở.
Nhưng Chánh
nghiệp cao nhất là tạo dựng phước đức cũng như công
đức hướng về giải thoát giác ngộ. Đức Phật lại dạy
rằng: “Người có Chánh ngữ, Chánh nghiệp sinh”.
5) Chánh
mạng (Proper Livelihood or Right Livelihood) là phương
tiện sinh sống chân chính bằng một nghề nghiệp lương thiện.
Nhưng thế nào là một nghề nghiệp lương thiện? Trong bất cứ xã
hội nào, có biết bao phương tiện sinh sống, phù
hợp với khả năng và kiến thức phục vụ của mình. Tuy
nhiên, có những nghề nghiệp gây tai họa hay khổ đau cho kẻ khác
trong hiện tại cũng như trong tương lai. Ngược lại, có những nghề
nghiệp sinh sống không lừa đảo, không gieo rắc đau thương,
không bóc lột, không xâm phạm quyền tự do và bình
đẳng kẻ khác, không phá hoại hay hủy diệt môi trường thiên
nhiên. Một khi thấu hiểu luật nhân quả nghiệp báo, chúng
ta nên sinh sống bằng những nghề nghiệp không bắt buộc phải sát
hại các loài chúng sinh, tàn phá và nhiểm ô môi trường
sinh sống của các loài ấy. Không làm và không đầu tư vào những doanh
nghiệp làm hại đến sự sống của con người trong đó có chế tạo, buôn
bán súng đạn, phát triển những vũ khí hóa học, tên lửa, buôn bán hay sản xuất
những thuốc trừ sâu bọ…Buôn bán ma túy đem sa đọa và hủy
hoại cuộc đời và gia đình của người tiêu thụ. Không
sinh sống bằng nghề gieo rắc mê tín, xem tướng, bói quẻ,
lên đồng, nhập cốt làm cho con người sống trong điên
đảo, mất định hướng cuộc sống vì không tin và thực hành luật nhân
quả. Và còn biết bao nghề khác. Nói chung, nghề nghiệp nào trong thế
gian không làm chúng ta phạm năm giới: không trộm cắp,
không giết hại, không nói dối, không tà dâm và không uống rượu
thì những nghề nghiệp đó được xem như là nghề nghiệp lương
thiện. Nếu sinh sống thẳng thắn như thế là có Chánh mạng. Theo
cái nhìn của Đức Phật thì tất cả suy nghĩ và hành động
của con người đều khởi nguồn từ tâm. Nếu con người có
tâm tốt và biết lo lắng tới việc phát triển xã hội loài
người, bằng hành động thực tế, thì kết quả sẽ có ích cho nhân
loại nghĩa là họ có lối sống trong lành, không
sinh sống trên sự đau khổ của người khác. Thế thì nếu mình biết
lo bảo vệ hạnh phúc và sự sống của mình thì tại sao
không tôn trọng hạnh phúc và sự sinh tồn của kẻ khác?
Do đó, nếu ta không muốn đau khổ thì đừng bao giờ tìm hạnh
phúc trên sự đau khổ của người.
Nhưng
nghề thường đi đôi với nghiệp cho nên bất cứ sinh sống bằng nghề gì thì bắt
buộc phải tạo nghiệp. Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật dạy
rằng: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp.
Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyền
thuộc, là nơi nương tựa". Như vậy, điều này cho thấy sự có mặt
của con người, cũng là sự hiện diện của Thiện và Ác, và mỗi
người phải đối diện với nghiệp do mình tạo ra. Tuy
nhiên, chúng ta đang sống trong một thế giới tương
đối nghĩa là một việc đúng đối với người này có thể sai đối với người
khác. Vấn đề thiện, ác và tốt, xấu cũng thế. Tháng 8 năm 1945,
Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman ra lệnh thả hai trái bom nguyên tử
xuống Hiroshima và Nagasaki để chấm dứt đệ nhị thế chiến.
Đối với Nhật bản thì đây là hành động cực kỳ tàn ác đã man, nhưng
phía Hoa Kỳ thì cho đó là quyết định chánh đáng bởi vì nếu
không thì chiến tranh còn tiếp diễn và sẽ có không biết bao
nhiêu binh sĩ và thường dân hai bên sẽ thiệt mạng. Tuy
nhiên, Phật giáo quan niệm rằng: “Thiện” thường được xem
như là ánh sáng tượng trưng cho sự an lành, thánh
thiện, hạnh phúc, trí tuệ…và “Ác” được coi như là bóng tối biểu trưng cho
sự tội lỗi, bất hạnh, buồn rầu, đau khổ, vô minh...cho
nên thiện hay ác nghiệp không dựa theo định kiến hay chủ
kiến của con người.
Vì
thế tuy cùng sinh sống, nhưng hằng ngày có người tạo rất nhiều phước
báu và cũng có người gây ra biết bao tội nghiệp. Nhưng xét cho cùng, nghề
nghiệp cũng là do phước đức của đời trước đưa đến. Kẻ có phước thì
có việc làm dễ dàng, dư ăn dư để và có cơ hội để tạo thêm phước
đức cho mai sau. Còn kẻ thiếu phước đức thì có việc
làm khó khăn, không giàu có và dĩ nhiên nghề nghiệp
không tạo thêm phước đức cho họ về sau. Nếu nhìn kỹ thì cơ hội để tạo thiện
nghiệp trong Chánh nghiệp không nhiều, nhưng trong Chánh
mạng con người có nhiều cơ hội để tăng trưởng phước
đức của họ hàng ngày. Nhiều nghề càng làm thì phước
đức càng lớn cho nên về sau những phước đức nầy sẽ mang lại
sự giàu có thịnh vượng cho họ. Vì thế nghề nghiệp tốt cũng
là phương cách tu phước hữu hiệu nhất. Nên nhớ rằng phước
đức mà chúng ta nhận ở đời nầy là quả mà do thiện
nghiệp chúng ta tạo ra ở đời trước. Tất cả sự bố thí, cúng
dường và cứu giúp người hoạn nạn sẽ đem lại sự giàu có, thông
minh và trường thọ trong đời nầy cho chúng ta. Nói thế
thì không ai có thể phủ nhận rằng đạo Phật là con
đường chân chính luôn hướng dẫn con người thực
hành theo chánh đạo để có cuộc sống an vui tự tại.
Hằng
ngày chúng ta tu phước, làm thiện, nhưng phước đức thật sự
có đem lại hạnh phúc cho chúng ta không?
Nên
nhớ phước là do bố thí, cúng dường hay làm việc tốt
cho chúng sinh mà có. Còn đức là cái tốt của tự tâm nghĩa
là con người có tâm hồn trong sáng, vô ngã vị
tha. Một người rất giàu có mà thiếu đạo đức, nhân cách có nghĩa
là họ có rất nhiều phước mà thiếu đức thì sự giàu có nầy sẽ là
những phương tiện để đưa họ đi mau vào con
đường sa đọa, tội lỗi. Phước đức ví cũng như là một cái ly
và nước ở trong đó. Cái ly là đức còn nước chính là phước. Nếu đức tròn và
phước đủ thì cuộc sống sẽ rất an vui tự tại ví cũng như nước chỉ nằm
trong cái ly và không tràn ra ngoài, có nghĩa là cho dù có nhiều tiền bạc nhưng
họ vẫn sống cuộc đời thanh cao đạo hạnh, dùng phước cũ để tạo
thêm phước mới là người trí, là người tu Phật. Người có đức
độ thì nhìn sự giàu có chỉ là phương tiện của cuộc
sống chớ không chạy theo dục vọng làm cho họ dễ bị sa ngã.
Ngược lại nếu phước to mà đức kém thì cuộc sống sẽ điên đảo đau
thương ví cũng như nước nhiều quá sẽ tràn ra ngoài cái ly, có nghĩa là
phước có dư đủ mà đức không tăng làm cho cuộc sống thiếu thăng bằng. Thí
dụ hiện nay ở Việt Nam có nhiều người vì thời thế trở
thành rất giàu có. Tiền thì càng ngày càng giàu có, nhưng nhân
cách và đạo đức không tăng trưởng khiến họ sa đọa vào những
chỗ trụy lạc làm cho gia đình mất hạnh phúc, dễ tan
vỡ. Như thế, phước không thật sự đem lại hạnh phúc, an vui
cho con người nếu đạo đức của họ không tăng trưởng.
Sống
trong thế gian này, không ai dám tự xưng mình là người toàn
thiện, nhưng muốn hướng về con đường thiện, chúng
ta nên rèn luyện bản thân sống trong khuôn khổ
đạo đức nhân bản nghĩa là phải cố gắng tu
tâm dưỡng tánh, tu nhân tích đức và dừng tạo nghiệp bất
thiện. Ngược lại, nếu không sống trong tinh thần đạo đức,
thì chúng ta sẽ trở thành ác nhân và cuộc
đời sẽ là nạn nhân của chính chúng ta.
Tóm
lại, người sống đúng Chánh mạng có một cuộc đời ngay
thật, không gian tham, không làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của người
khác, không làm cho người và vật phải đau khổ vì nghề nghiệp của
mình. Nghề nghiệp đem lại cuộc sống vừa lợi mình, lợi người và quan trọng nhất
là tạo nhiều phước đức cho bây giờ và cho mai sau. Nhưng ý
nghĩa thâm sâu của Chánh mạng là sự trong sạch để
hướng tâm về giải thoát Niết bàn.
Đứng
về phương diện thực hành, người nào sống đúng với Chánh
mạng thì mới có cơ hội thành tựu những nhánh Chánh
đạo còn lại. Trái lại, người không có Chánh mạng thì sẽ
không có Chánh kiến (và ngược lại). Còn người sống trong tà
hạnh thì chỉ có tà tư duy bởi vì tư duy đó dựa
trên cơ sở của tham, sân, si, ái dục.
Thiền
trong Phật giáo không nhất thiết phải là ngồi kiết
già hay vào định để có giải thoát, nhưng thiền trong cuộc sống
là phản quang tự kỷ nghĩa là hằng ngày chúng ta cần
những giây phút yên lặng để tĩnh tâm và nhìn lại về mình. Nhìn lại
thân, khẩu, ý đã làm những gì khiến cho chúng ta có hạnh
phúc, an lạc và nhìn lại thân, khẩu, ý đã làm những gì biến cuộc sống
nhiều phiền não, lo âu. Từ đó chúng ta có định
hướng sáng suốt và thiết thực hơn cho cuộc sống chính mình.
Vì thế chìa khóa để có hạnh phúc hay khổ đau nằm gọn trong bàn tay
của chúng ta. Do đó học Phật là biết cách sống, biết cách mở
cánh cửa thiên đàng hạnh phúc. Ngược lại, sống trong vô
minh bất giác sẽ đưa con người đọa lạc vào
chốn khổ não trầm luân.
Chánh
ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh mạng được xem là nền tảng đạo
đức nhân bản của con người mà nhà Phật gọi là Giới
(morality). Thực hành Giới đứng đắn chắc chắn sẽ mang
lại hạnh phúc ấm êm cho bạn và cho gia đình của bạn. Nên
nhớ Giới của đạo Phật chỉ là lời kêu gọi (lời khuyên nhủ) của Đức
Phật với mục đích khuyến khích con người làm lành lánh
dữ, tu tâm dưỡng tánh để tự mình có kết quả tốt đẹp cho
cuộc sống của mình chớ Đức Phật không có quyền
năng để trừng phạt kẻ phạm giới hay ban
thưởng cho ai cả. Nhưng dựa theo luật nhân quả, mình gieo nhân thì
một ngày nào đó, chính mình sẽ thọ báo kết quả thiện, ác đó khiến cho
cuộc sống có hạnh phúc hay khổ đau. Đối với tiến trình
giải thoát tam vô lậu học Giới, Định, Tuệ thì Giới là nền tảng
để kiến tạo căn nhà Bát chánh đạo. Bởi vì người thực
hành đứng đắn Giới thì tâm mới có thể vào định. Tâm an
trú trong định thì trí tuệ sẽ phát sinh mà trực
nhận chân lý, có giải thoát. Ngược lại, kẻ phá Giới thì chỉ
có tà định và dĩ nhiên cuộc sống sẽ có nhiều sóng
gió, đau thương.
6) Chánh
tinh tấn ( Complete or Full Effort or Right Effort) là yếu
tố quan trọng tạo ra mối liên hệ mật thiết về nhân
quả hành trì với bảy yếu tố khác. Nếu bất cứ nhánh nào
trong tám nhánh không có Chánh tinh tấn thì nhánh đó khó
lòng đạt đến kết quả. Vì thế Chánh tinh tấn là động
lực thôi thúc, động viên giúp các nhánh khác hoàn thành mỹ
mãn.
Đức
Phật dạy rằng: “Và này các
Tỳ-kheo, thế nào là chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỳ-kheo:
- Với mục đích khiến cho các ác, bất
thiện pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi
lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm.
- Với mục đích khiến cho các ác, bất
thiện pháp đã sanh được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố
gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm.
- Với mục đích khiến cho các thiện
pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý
muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm.
- Với mục đích khiến cho các thiện
pháp đã được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng
trưởng, được quảng đại, được tu tập, được viên mãn, khởi
lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm. Này các
Tỳ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn”.
Chánh
tinh tấn nhắm thẳng vào ba mục đích bỏ ác, làm thiện
và thanh tịnh tâm được Đức Phật mô tả qua bài
kệ như sau:
“Không làm
mọi điều ác
Thành
tựu các hạnh lành
Tâm ý
giữ trong sạch
Chính lời
chư Phật dạy”. (Pháp Cú 183).
Do
đó, thực hành Chánh tinh tấn là để phát triển lòng
từ bi, tâm Bồ-đề.
7) Chánh
niệm (Complete or Thorough Awareness or Right Mindfulness) là
ghi nhớ những đạo lý chân chính. Chánh niệm thanh
tịnh hóa bản tâm bằng cách ngăn chận và diệt trừ tâm
Tà và phát triển cũng như vun bồi tâm Chánh. Vì thế chánh niệm có nghĩa
là sửa cái tâm cho nó đi theo con đường Chánh mà còn được gọi
là thiền quán. Chánh niệm chính là chìa khóa của giây
phút hiện tại. Nếu không có nó con người không thể nào
nhìn thấy thế giới mình đang sống một cách đơn giản, rõ
ràng mà chúng ta sẽ lạc bước vào thế giới quay
cuồng của ý thức hay vô thức. Có thể nói Chánh
niệm được xem như là một người canh cửa, một người bảo
vệ luôn trông chừng cho chúng ta khỏi bị lôi
cuốn vào tà niệm. Chúng ta không nên để tâm dong ruổi
bất cứ nơi nào, không gởi tâm vào thế giới mộng tưởng, cũng không đưa
tâm về quá khứ hay tương lai. Đức Phật đã ví thời
gian như sau:
“Quá
khứ như giấc mộng
Tương
lai như ảo ảnh
Hiện
tại như đám mây”.
Nói
như thế thì trong khi tâm chạy qua chạy lại giữa các giấc mộng, ảo
ảnh và các đám mây, chúng ta có thể thực
tập Chánh niệm để đem tâm trở về và làm cho tâm ra khỏi
những rối ren trong đời sống hằng ngày. Ý
thức luôn thôi thúc con người thỏa mãn những dục
vọng lôi kéo từ bên ngoài. Thí dụ đang đọc sách, chợt một ý
nghĩ lóe lên rằng: “Bây giờ hãy đi kiếm món gì để ăn mặc dù
mình không đói”. Thế là mình bỏ đọc sách, mở tủ lạnh, lục lọi để tìm
kiếm từ món này đến món khác. Cái gì thúc đẩy chúng ta hành
động như thế? Tất cả chỉ bắt đầu bằng một ý nghĩ. Trong cuộc
sống, chúng ta đã bị các ý nghĩ (ý thức) điều khiển gần
như cho tất cả mọi hành động mà chúng ta không hề để ý đến.
Vì thế thực hành Chánh niệm giúp hành giả nhận
thức được bộ mặt thật của ý thức, không cho nó lôi cuốn, nhận
chìm vào trong quỹ đạo của thế giới vô minh. Khi nhìn rõ những
gì đang diễn ra ở giây phút hiện tại thì tuệ giác sẽ hướng
dẫn chúng ta chọn lựa và hành động đúng với thiện pháp thay
vì chạy theo thỏa mãn những dục tính của bản ngã.
Chỉ khi nào chúng ta thấy được dục vọng thiêu đốt người đắm
say nó như thế nào thì chúng ta mới thấy dục vọng là
đáng từ bỏ. Chánh niệm cũng có trách nhiệm cảnh
giác chúng ta trong lúc giận dữ để quay tâm sang
những ý niệm chân chính khác. Chính chánh niệm báo
trước cho chúng ta một tình trạng giận
dữ sắp sinh khởi để có thể chuyển hóa khiến cho tâm
được an lành. Do đó Phật giáo luôn luôn kêu gọi con
người hãy đạt cho được sự thanh bình trong tâm của chính mình
trước thì sau đó tự nhiên thanh bình của thế giới sẽ
đến theo, nghĩa là “tâm an thì thế giới an và tâm
bình thì thế giới bình”. Con người hằng
ngày luôn chạy theo vọng tưởng vì chúng
ta quên chánh niệm. Lục dục, thất tình lôi
cuốn tâm của chúng ta chạy theo nó. Vì thế chánh
niệm lúc nào cũng có thể đưa con người trở
về với chánh đạo.
Với
sự giảng dạy về sự tu tập Định học và Tuệ học, trong Kinh
Đại Niệm Xứ, Đức Phật đã giảng về Bốn Niệm Xứ:
-Này các Tỳ kheo, đây
là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành
tựu chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn niệm xứ.
Thế
nào là bốn? Này các Tỳ kheo, ở đây vị Tỳ kheo sống quán
thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán
tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế
ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.
Như
vậy, con đường độc nhất đi đến giải thoát là phải thực
hành viên mãn cả Bốn Niệm Xứ bao gồm thân, thọ,
tâm, pháp. Với tầm quan trọng của Tứ Niệm Xứ, Đức Phật đã khẳng
định rằng hành giả chỉ chuyên cần thực hành viên
mãn thì chỉ Tứ Niệm Xứ thôi cũng có thể đưa hành
giả thoát khỏi sầu khổ, tham ưu ở đời và sau cùng chứng ngộ Niết
bàn.
Thực
hành chánh niệm tức là thực hành Tứ Niệm Xứ để biết
thật rõ ràng những biến hành của thân, thọ, tâm, pháp đang
xảy ra trong hiện tại một cách vô tư như một tấm gương soi
chỉ phản chiếu những gì diễn ra trước mặt để hành
giả thấy nó thật sự là (as is) và từ đó mới có thể làm chủ thân, khẩu, ý
của mình để điều phục mọi tham ưu ở đời. Thí dụ khi tâm
khởi tham, ta biết tâm đang khởi tham. Tâm không khởi tham thì ta
cũng biết tâm không khởi tham. Sân và si cũng thế. Do đó, khi
biết tâm có tham hay tâm không có tham thì chỉ biết mà không
cần tác ý làm gì cả bởi vì khi duyên diệt thì tâm tham hay tâm
không tham tự nó biến mất. Vì thế thấy biết “như thật”
là thấy biết bản chất thật đang là của tất
cả hiện tượng ngay vào thời điểm đó từ tâm lý đến sinh
lý mà không phê phán, không phán xét hay cộng thêm ngã
kiến vào. Thí dụ ngay bây giờ vì mắt thấy tiền nhiều nên tâm
tham phát khởi. Bây giờ dựa theo giáo lý Duyên Khởi nghĩa
là khi cái nầy có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia sẽ diệt nghĩa là vì
mắt thấy tiền (có cái nầy) nên tâm tham phát khởi (cái kia có). Bây
giờ Chánh niệm tỉnh thức để biết tâm đang ở trạng
thái tham, rồi buông xả ý niệm tham (cái này diệt) thì tâm
tham cũng biến mất (cái kia diệt). Sân và si cũng như vậy. Vì thế Chánh
niệm là cẩm nang đời sống tâm linh, là phương
pháp thực tập hữu dụng hằng ngày của tất cả hành
giả muốn diệt khỏi tham, sân, si. Người có Chánh niệm thì
ăn biết mình đang ăn, đi biết mình đang đi, nói biết
mình đang nói, làm biết đang làm. Người có Chánh niệm dù làm bất
cứ một việc gì cũng thong thả, chủ động, ý tứ, ngăn nắp và
luôn dựa theo tinh thần chân chánh lợi tha. Do đó họ có một
phong cách nhẹ nhàng, tế nhị, thanh thoát. Khi nói năng tiếp xử, họ
nói một cách từ tốn thành thật, không làm thương
tổn đến danh dự của người khác. Ngược lại, một nguời sống
thiếu Chánh niệm mà đầy vọng tưởng Tà niệm thì việc
làm của họ sơ suất, cẩu thả mà cầu cao. Lời nói của họ
huênh hoang tự đắc, ngạo mạn mà thiếu trung thực hay thiên
lệch làm cho người khác chán ghét lánh xa. Vì lời nói, hành
động, suy nghĩ của họ được phát xuất bởi lòng tham dục, tính tự
cao và thiếu ý thức chân chánh. Thế thì Chánh
niệm giúp chúng ta chọn lựa một cách sáng suốt những
gì nên vun trồng và phát triển và dĩ nhiên những gì
cần từ bỏ. Chánh niệm cho ta thấy thật chất của mọi hiện
tượng. Người thực hành Chánh niệm luôn hành động một
cách sáng suốt thay vì phản ứng trong vô minh cho
nên cuộc sống trở nên bớt căng thẳng và dĩ nhiên có
nhiều an lạc. Chánh niệm thường đi đôi với tỉnh giác nghĩa
là hành giả luôn thức tỉnh để quan
sát và hiểu biết chuyện gì đang xảy ra ngay vào thời
điểm hiện tại đó. Tỉnh thức Chánh niệm nhắc
nhở con người luôn cẩn trọng, cẩn trọng và cẩn
trọng trong mọi suy nghĩ, lời nói và hành động để khỏi
gây phương hại đến cho mình và cho người.
Ngày
xưa có một vị Tỳ kheo sống trong một cái am bên một bờ ao. Vào
một đêm nọ trời trong trăng tỏ, vị Tỳ kheo thấy một con rùa từ dưới
ao bò lên. Bỗng đâu có một con chó rừng xuất hiện. Thấy mồi, chó vội
vàng chạy lại cắn vào chân rùa, rùa liền thụt chân vào, chó cắn vào đầu,
rùa vội thụt đầu vào. Cả đầu, bốn chân và đuôi là sáu phần đều thụt
vào mai một cách an toàn. Con chó rừng cắn mãi vào thân rùa rồi
lật qua lật lại mà con rùa vẫn không hề hấn gì cả. Cuối
cùng chó mệt nhoài và đành bỏ đi. Thấy vậy, vị Tỳ kheo liền giác
tỉnh bảo rằng việc tu hành của mình cũng như rùa thụt đầu vậy
nghĩa là mình phải biết làm chủ, kiểm soát và cẩn trọng mỗi
khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Nhờ an
trú trong Chánh niệm và tinh tấn tu hành chẳng
bao lâu vị Tỳ kheo đắc quả A la hán.
Dựa
theo Kinh Trung Bộ (bài kinh số 10) thì Pháp Tứ Niệm
Xứ thường được hiểu là “Con đường duy nhất “ để tiến
đến giải thoát giác ngộ, nhưng thật ra “Con đường duy nhất” đã
được Đức Phật nhắc đến không phải là Tứ Niệm Xứ mà chính
là Bát Chánh Đạo. Trong kinh Pháp Cú (273-274), Đức
Phật dạy rằng:
Trong tất cả các con đường
Con Đường Tám Chánh là thù thắng nhất
Đây là con đường duy nhất
Không có con đường nào khác
Để đi đến tri kiến thanh tịnh
Vì
thế con đường duy nhất để đi đến giải thoát giác
ngộ là Bát Chánh Đạo mà Tứ Niệm Xứ với bốn nền tảng của Chánh
niệm chỉ là một phần của con đường đó.
Tóm
lại, mặc dầu ngày nay các cuộc hành trình để đưa con
người ra ngoài không gian và đến mặt trăng hay những
hành tinh xa xôi khác được thực hiện một cách dễ dàng, nhưng con
đường đi đến thanh tịnh Niết Bàn vẫn còn xa xôi và cần rất
nhiều nỗ lực. Nhưng nếu con đường chúng ta đi có khi buồn
tẻ thì chánh niệm sẽ là ánh sáng êm dịu hướng dẫn tốt nhất để
giúp con người sống an vui tự tại trong đời nầy vậy.
8) Chánh
định ( Full, Integral or Holistic Samadhi or Right
Concentration) là nhánh cuối cùng của con
đường tám nhánh. Tại sao lại cuối cùng? Bởi vì trước khi thực
hành chánh định, hành giả đã trải qua 7 nhánh đầu để
thanh lọc thân, tâm sống đời đạo đức nhân bản tức là có Giới. Từ
đó hành giả thực tập buông xả, luôn giữ tâm ở giây
phút hiện tại và duy trì chánh niệm mà có an
định. Hoặc là hành giả có thể thực tập trong tư
thế ngồi thiền, tâm cột chặt vào một đối tượng trong một thời
gian dài, không tán loạn thì sẽ có định. Bát Chánh
đạo là tám sợi dây luôn quyện tròn lại với nhau, bổ túc cho nhau
giúp hành giả đạt đến cứu cánh tối thượng là giải
thoát. Chánh định là cái mầm của chánh kiến vì nếu
không có định thì sẽ không có tuệ. Nhưng khi trí tuệ phát sinh
thì định sẽ vững chắc hơn. Trong khi đó chánh định là hoa
trái của chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn bởi vì nếu không có Giới, có đời sống trong
sạch đạo đức nhân bản thì không bao giờ có định. Nhưng một khi
tâm đã an định, hành giả sẽ dễ dàng buông xả và sống
đời đạo đức hơn. Nói cách khác, tám nhánh luôn luân
chuyển từ nhân thành quả rồi từ quả thành ra nhân, nhân này quả
nọ, bổ túc cho nhau khiến cho hành giả có được năng lực sâu
mạnh để phát sinh trí tuệ, và trực nhận chân lý. Thực
hành Chánh định giúp hành giả nhận chân bản
chất vô thường, khổ và vô ngã của tất cả nhân sinh vũ
trụ trong thế gian này. Đây là cái biết trực
nhận từ bản tâm chớ không còn qua sách vở nữa. Từ đó, hành
giả sẽ nhận thức rất rõ ràng rằng niềm vui,
nỗi khổ không phải là Tôi mà chỉ là sự vận
hành của ngũ uẩn. Khi vui thì chỉ biết là vui chớ không phải
là Tôi vui. Nỗi đau đớn có đến thì biết hiện giờ thân
đang đau chớ không phải là Tôi đau. Sự biến hoại vô
thường cũng không phải là Tôi hay là tự ngã của Tôi. Đối với
người đời, vô thường dẫn đến khổ. Nhưng một khi tâm đã an
định, trí tuệ phát sinh thì hành giả sẽ thấy biết rõ
ràng rằng thế gian là vô thường, vô ngã chớ không
có chi là chân thật cả. Vì thế nếu còn chấp vào ngã nghĩa là chấp
thân, tâm này là Ta, là của Ta và tất cả những vật sở hữu là của Ta
thì người đó không bao giờ có được Chánh định.
Trong Kinh
Định, Đức Phật đã giảng làm thế nào để như
thật rõ biết Bốn Thánh đế (Tứ Diệu Đế) như sau:
-
Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo có định, như thật rõ biết (pajānāti). Và như
thật rõ biết gì?
Như
thật rõ biết: “Đây là Khổ”. Như thật rõ biết: “Đây là Khổ
tập”. Như thật rõ biết: “Đây là Khổ diệt”. Như thật rõ
biết: “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”. Đường đưa đến Khổ
diệt”.
Như
vậy, nếu không có Chánh Định, chúng ta sẽ không
thể viên mãn được Bát chánh đạo cũng như
không thể như thật rõ biết Khổ Đế, Khổ Tập Đế và
càng không thể chứng ngộ Niết-bàn. Vai trò quyết
định của Chánh Định đối với sự giải thoát lại được Đức
Phật chỉ dạy một lần nữa trong Kinh Đại-Bát-Niết-bàn,
trước khi Ngài nhập Vô Dư Niết-bàn như sau:
Này
các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta
và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào
là bốn? Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng
đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn
trong biển sanh tử. Này các Tỳ-kheo,chính vì không giác ngộ, không
chứng đạt Thánh Định mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn
trong biển sanh tử. Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ, không
chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn
trong biển sanh tử. Này các Tỳ-kheo, chính vì không giác ngộ,
không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu
đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Khi
mở toang sáu cánh cửa thì gió bên ngoài thổi vào làm giao động ngọn
đèn trên bàn và một khi ngọn đèn bị giao
động thì ánh đèn không tỏ, lu mờ. Con
người thì cũng thế, nếu chúng ta để cho lục
căn tha hồ tiếp xúc với lục trần thì vọng tưởng tự
do tràn vào xâm chiếm và quậy phá thanh tâm của chúng
ta. Khi tâm chứa đầy vọng tưởng thì Tham-Sân-Si dấy lên và đây
là nguyên nhân làm con người đau khổ. Đèn tâm bị lu
mờ có nghĩa là tâm bị giao động thì chúng ta không thể
thấy rõ được bản chất chân thật của đối tượng. Vì thế muốn đánh
tan vọng tưởng để tâm được ổn định, tức là an tâm,
thì chánh định sẽ giúp chúng ta rèn luyện tâm
định để thấy rõ được bản chất thực của đối tượng mà đào
thải nó. Vì thế chánh định còn được gọi là thiền Chỉ, có
nghĩa là dừng. Ngày xưa Đức Phật nhờ thiền
định mà được giác ngộ. Vì thế thiền định là cốt nhìn lại,
tức là phản quang tự kỷ để tìm cho ra con người thật của
chính mình một khi đã lắng hết tâm tư để thấy con người thật
ấy. Con người vì lăn lộn trong sinh hoạt hằng ngày làm
cho hao tổn tinh thần. Nếu bây giờ ngồi lại cho tinh
thần sáng suốt thì mới nhìn thấy mọi hiện tượng một
cách chính xác. Có thiền định mới mong trí tuệ được
phát sinh để tiến đến giải thoát.
Đối
với những ai muốn đạt đến cứu cánh tối thượng giải
thoát giác ngộ, Chánh định là chứng và an trú tứ
thiền để có giải thoát trở thành Thánh giả:
-
Sơ thiền: Còn được gọi là tầng thiền thứ nhất. Hành
giả sau khi tìm được một nơi vắng vẻ, ngồi xuống và giữ cơ thể cho được
thẳng trong tư thế thoải mái tự nhiên. Sau đó bắt đầu quán
sát hơi thở. Trong khi bám sát hơi thở, hành
giả phải tác ý trong tâm là phải ly tất cả những tham
muốn dục vọng ngay cả dục vọng trở thành giải
thoát giác ngộ cũng phải bỏ luôn. Rồi sau đó hành giả phải
ly tất cả các bất thiện pháp cho nên kinh nói rằng “ly dục ly bất
thiện pháp” là vậy. Ly dục nghĩa là hoàn
toàn thoát ly những đối tượng của dục tức là thân viễn ly. Còn
“ly bất thiện pháp” là từ bỏ những cấu uế (dục
vọng) của tâm tức tâm viễn ly. Nói cách khác ly
dục là thanh tịnh thân nghiệp, ly bất thiện pháp
là thanh tịnh ý nghiệp. Sau đó hành giả phải tìm cho mình
một đề mục và phải bám sát để mục đó. Nếu tâm
không còn vọng tưởng, chỉ còn một đề mục thì lúc
ấy hành giả có tầm, có tứ nghĩa là không còn vọng tâm xen
tạp. Lúc đó hành giả sẽ chứng và an trú sơ thiền, có được
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh và phải có tầm, có
tứ. Nói cách khác một khi hành giả đã từ bỏ tất cả dục
vọng, tham muốn cuộc đời thì tâm sẽ phát sinh một trạng
thái hỷ lạc nhưng với điều kiện là phải bám sát một đề
mục hành thiền của mình, đừng để cho vọng tâm xen tạp trong bất
cứ giây phút nào.
- Nhị
thiền: Sau khi chứng và an trú sơ thiền, bây giờ hành
giả tiếp tục hành trì bằng cách diệt tầm diệt tứ. Hành
giả lúc đó sẽ chìm vào trong trạng thái định và tâm rất an
bình mà không cần bám víu vào bất cứ đề mục nào
nữa. Lúc ấy hành giả chứng và an trú vào tầng thiền
thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh và dĩ
nhiên không tầm, không tứ nghĩa là lúc đó hành giả sẽ không còn
bất cứ điều gì suy nghĩ trong đầu cả tức là ý thức bị
diệt, buông xả tất cả. Đến đây hành giả sẽ đạt
được trạng thái nội tỉnh nhất tâm.
- Tam
thiền: Ở tầng thiền thứ hai, hành giả có hỷ (niềm vui)
là do định sanh, nhưng bây giờ nếu muốn đi sâu thì hành
giả phải bỏ luôn hỷ (không còn bám vào niềm vui nữa). Hành
giả quán vào thân để biết toàn thân có sự an lạc do
định sanh. Sau khi ly hỷ (gạt bỏ niềm vui trong tâm, đừng có thích
thú nữa), trú xả (không chấp bất cứ ý niệm nào, chỉ biết
những biến hành trong thân của mình một cách trung
thực chẳng hạn như trạng thái lạc thì biết rằng thân mình có lạc
hoặc trạng thái khổ thì biết rằng thân mình có khổ, nhưng đến tầng
thiền này thì trạng thái khổ sẽ không còn nữa mà chỉ có
lạc), chánh niệm tỉnh giác (luôn luôn thức
tỉnh để quan sát và hiểu biết chuyện gì đang xảy ra
trong cơ thể của mình. Tỉnh giác cần phải có chánh
niệm bởi vì nếu niệm bây giờ nghiêng về tà niệm thì lúc đó chánh
định sẽ biến mất mà trở thành tà định vì thế tỉnh
giác cần đi đôi với chánh niệm), thân của hành giả sẽ có
sự lạc thọ phát sinh (ở tầng thiền thứ ba này cơ thể của hành
giả sẽ không còn đau đớn, không còn bực bội, không còn mỏi mệt
mà cơ thể hoàn toàn ở trạng thái thoải mái, khinh
an, thanh thoát). Kinh điển gọi trạng thái này là xả
niệm (bỏ hết ý niệm), lạc trú (trú trong an lạc) và hành
giả lúc ấy chứng và an trú tầng thiền thứ ba.
- Tứ
thiền: Ở tầng thiền thứ nhì hành giả có hỷ, lạc rồi đến tầng
thiền thứ ba hành giả bỏ hỷ mà chỉ có lạc. Đến tầng thiền thứ
tư hành giả phải bỏ luôn lạc, bỏ luôn khổ nghĩa là phải bỏ hết, đừng
cảm thú những lạc thọ của thân nữa và ngay cả những cảm
giác khổ nào ở trong thân thì cũng bỏ đi, diệt hỷ, diệt ưu (tuy niềm vui,
hay đau buồn đã được bỏ ở tầng thiền thứ nhì, nhưng nếu hành
giả không chú ý thì nó sẽ trở lại cho nên ở tầng thiền thứ
tư hành giả phải bỏ hết) do vậy hành giả sau khi xả lạc, xả
khổ rồi còn phải diệt cả hỷ, diệt cả ưu để cho hết các cảm thọ của
thân, tâm. Nói cách khác hành giả phải bỏ hết, không bám
víu vào hạnh phúc, không đau khổ bực
tức vì nghịch cảnh, không còn cảm thọ của thân và cảm
thọ của tâm. Đến đây hành giả không khổ, không lạc, không hỷ,
không ưu, xả niệm thanh tịnh (buông bỏ hoàn toàn tất
cả ý niệm nghĩa là nếu có lạc đến thì hành giả cứ bình
thản, nếu có khổ, có hỷ hay có ưu đến thì hành giả vẫn bình thản lúc
nào cũng ở trạng thái xả) thì hành giả chứng và an
trú tầng thiền thứ tư. Ở đây thân, tâm của hành giả hoàn
toàn trong sáng, không lạc, không khổ, không hỷ, không ưu, nhưng hành
giả vẫn biết với tâm rất thanh tịnh, thanh thoát, nhẹ nhàng.
Khi
đã đắc thiền, hành giả phải quan sát thật kỹ phương thức
nào đã đem lại sự đắc thiền. Như một nhà thiện xạ bắn tên chẻ một sợi tóc.
Người đó phải chăm chú, quan sát và nhớ rõ từng giai đoạn từ cách giữ
chân sao cho được thăng bằng, vị trí dây cung, cây cung và mũi tên…để
về sau làm lại giống y như vậy và sẽ chẻ được sợi tóc. Thiền giả cũng
thế, cần quan sát kỹ những yếu tố đưa đến đắc thiền.
Khi định tướng bị mất, hành giả sẽ lập lại những tiến trình
cũ và cố quen thuộc với định tướng ấy thì sẽ đắc
định trở lại như ý muốn. Hành giả chứng một tầng thiền
sau khi đã hoàn toàn thanh lọc cho hết những chướng ngại và
vị ấy sẽ an trú trong định ấy suốt cả ngày như một vị vua đi
vào một khu vườn đã được dọn sạch hoàn toàn.
Hành
giả sau khi đắc tứ thiền, tâm hoàn toàn trong
sáng, hoàn toàn thanh tịnh tức là có Định. Nhưng đối
với Phật giáo, Định không phải là mục đích sau cùng
bởi vì cứu cánh tối thượng của Phật giáo vẫn
là trí tuệ (wisdom). Tiến trình Giới - Định - Tuệ thì Định
đóng vai trò cũng quan trọng, nhưng việc đạt được Định
không đưa lại sự giải thoát vì Định chỉ có thể thanh lọc tâm ở
những trạng thái bình thường chớ không thể phá vỡ những tập
khí, hành động hay phiền não ăn sâu thẳm trong tâm. Vì thế, vào
thời Đức Phật còn tại thế, ngoài Phật giáo ra còn
nhiều tôn giáo khác có thể đưa hành giả vào định, xa
hơn nữa có rất nhiều ngoại đạo cũng luyện được ngũ
đại thần thông, nhưng họ đâu có giải thoát. Chỉ có thiền
quán đưa hành giả đi sâu vào tâm thức, tìm đến cội nguồn
của phiền não, ô uế bất tịnh ngay cả những phiền
não vi tế núp sâu thẳm trong tâm để quán sát sự thật, hóa
giải chúng và sau cùng đưa đến trí tuệ viên mãn và giải
thoát. Chính tuệ giải thoát đã tạo ra sự giác
ngộ chớ tuyệt đối không phải do sự nương tựa từ tha
lực của bất cứ một vị Phật nào và dĩ nhiên không phải là
do ngẫu nhiên mà hốt nhiên đại ngộ. Do đó, một khi tâm
đã hoàn toàn thanh tịnh, hành giả bắt đầu thiền
quán (Minh Sát Tuệ) cho đến khi trí tuệ bừng sáng
và khám phá ra chân lý tối thượng Tứ Diệu Đế mà
trong đó Bát chánh đạo là độc lộ để có giải thoát giúp hành
giả thấy biết như thật về vô thường, vô ngã,
về nhân duyên, về Niết bàn và về khổ, nguyên nhân của
khổ, sự diệt khổ và con đường thoát khổ.
Tuệ
quán là một tiến trình tu tập rất phức tạp cho
nên Tôn giả Xá Lợi Phất diễn tả trong Tiểu Bộ
Kinh rất chi tiết về 73 loại trí vì thế
sự giác ngộ vào thời Đức Phật còn tại thế là
sự tu tập viên mãn các loại trí đó. Trí có thể được hiểu
như là khi tuệ đã hoàn mãn. Dựa theo pháp tu Thiền Quán (Thiền Minh
Sát)(Thiền Trí Tuệ) (Vipassana) muốn phát triển trí, có 16 Tuệ
Minh Sát cần phải tu tập để đạt đến tứ
quả Thánh bởi vì Trí tuệ là yếu tố trực tiếp đưa
đến giải thoát giác ngộ sau cùng trong khi đó Giới và Định chỉ
đóng vai trò gián tiếp. 16 tuệ đó là:
1) Tuệ
phân tích Danh Sắc: quán chiếu thân và tâm đều vô ngã,
không có cái Ta.
2) Tuệ
phân tích nhân quả: quán rằng mình muốn đi. Tâm muốn đi là nhân, chân
bước đi là quả nghĩa là Tâm muốn là Danh, chân đi là sắc cho nên Danh là nhân
và Sắc là quả.
3) Tuệ suy
xét thấy danh sắc vô thường, khổ, vô ngã: Ở tầng tuệ
này là do sự suy xét mà thấy chớ không phải thấy bằng trí
tuệ. Suy xét thấy thân ngày nào tráng kiện mà giờ đây lưng
mỏi gối mòn da nhăn má hóp. Khi còn trẻ thấy đâu nhớ đó, bây giờ nhớ trước quên
sau thế thì thân và tâm đều vô thường, hoại diệt. Bất cứ ai sống trền
đời cũng đều phải đối diện với biết bao nỗi khổ của sinh, già, bệnh,
chết. Cuộc đời thì mơ ước mong đợi từ tất cả mọi lãnh
vực. Có khi mơ ước thành sự thật thì hạnh
phúc quá mong manh, chợt đến chợt đi rốt cuộc rồi lo
lắng, buồn phiền. Còn ước mơ mà không được thì dĩ
nhiên quá khổ. Đó là chưa kể cái khổ này chưa hết nỗi khổ khác lại đến…Thế
gian, nhân sinh vũ trụ đều là sự cấu hợp của biết bao nhân
duyên cho nên vạn vật không có tự thể tức là vô ngã. Nếu
tuệ này mạnh thì có mười vi tế phiền não phát sinh làm
cho Thiền Minh Sát ô nhiễm hay lu mờ khiến
cho hành giả không biết đó là phiền não mà ôm lấy nó cho là
vật cao quý, dính ở đó, không tiến tới được. Do tâm ái
dục, ngã mạn, tà kiến, cho mình đã đắc đạo quả nên
không tiến tới và bị kẹt ở tẩng tuệ thứ 3 này thì gọi là phiền
não vi tế. Có 10 vi tế phiền não: Ánh sáng, Phỉ lạc, Sự an vui,
Tịnh, Đức tin, Tinh tấn, Trí nhớ, Tuệ, Xả, Vọng.
- Ánh
sáng: Khi ngồi tham thiền hay đi kinh hành, ánh sáng
phát sinh, có khi yếu ớt như đom đóm, có khi sáng lòa như đèn pha,
xẹt qua xẹt lại khiến cho hành giả lầm tưởng rằng mình đắc quả.
- Phỉ
lạc: hành giả có thể thấy màu đỏ, ánh sáng bình minh, ngứa
ngáy, thân mình lúc lắc, nghiêng qua, nghiêng lại, hất tay, hất chân…Phải niệm
“ngứa ngáy…” cho mất phỉ lạc nếu không thì hành giả sẽ dính
mắc ở đó.
- Sự
an vui: Đây là sự an vui của chư Thiên. Vì chưa từng thấy, hành
giả lầm tưởng cho đây là Niết bàn rồi dính kẹt ở đó.
- Tịnh:
Lúc niệm thiền quán, hành giả thấy từ từ nhẹ nhẹ, rồi mất, như
mê vậy. Hành giả lầm tưởng mê là tịnh, là chứng Niết bàn. Tịnh
là thiện pháp, nhưng bởi do hành giả còn tham dục, ngã
mạn, tà kiến…cho nên gọi là vi tế phiền não.
- Đức
tin: Lúc hành giả đang hành tầng tuệ thứ 3, đức
tin phát sinh khiến tâm lo lắng quá nhiều cho tương lai
hay quan tâm cho quá khứ mà quên đi giây phút hiện
tại cho nên hành tuệ không đến nơi đến chốn. Vì thế đức tin biến
thành vi tế phiền não.
- Tinh
tấn: Quá sức tinh tấn, không biết mệt mỏi, không nghỉ
ngơi, quá sức lại ít ngủ khiến cho hành giả kém trí
nhớ, có hại cho sức khỏe thì cũng là vi tế phiền não.
- Trí
nhớ: Hành tầng tuệ thứ 3 làm cho trí nhớ phát sinh khiến hành
giả thấy mình sáng suốt, hiểu biết nhiều. Rồi từ đó nhớ
những chuyện viễn vông ở quá khứ, lơ là không tiếp
tục thiền quán cho đến nơi đến chốn thì cũng là vi
tế phiền não.
- Tuệ: Trong
lúc thiền quán thì trí tuệ phát sinh để biết rằng Danh
Sắc đều trống không, không phải là Ta hay là của Ta. Hành
giả nghĩ rằng sau này mình sẽ thông thái, biện tài vô
ngại mà quên đi hành thiền. Đó cũng là vi tế phiền não.
- Xả:
Khi thực hành xả, hành giả thấy mình có tâm bình
thản, không buồn, không vui. Thấy thế sự dửng dưng,
không thỏa thích cũng không giận hờn khiến hành giả nghĩ
mình đã đắc đạo vì không còn phiền não khuấy động. Nghĩ như
vậy là không đúng vì hành giả chưa đắc gì cả.
- Vọng:
Trong khi thực hành thiền quán, hành giả muốn thấy lại
những hình ảnh. Thí dụ người có tâm tham, thường thấy
cảnh đẹp đẽ. Người có tánh si thường thấy những cảnh lu mờ,
không sáng tỏ. Hoặc những người có tánh sân thường thấy thú dữ, hay
những cảnh đáng ghê sợ. Những hình ảnh đó đều là vi
tế phiền não chớ không phải đắc đạo.
Nói
chung, trong 10 loại vi tế phiền não trên, hành giả có
khi chỉ có 1 hay vài, ít khi có đủ 10 loại.
4)
Tuệ thấy về sinh và diệt của Danh, Sắc: Thân thì càng ngày càng cỗi rồi sau
cùng hoại diệt. Còn tâm thì không thật cho nên tâm
luôn sinh diệt trong ta. Ý niệm, cảm thọ, hành tác
luôn biến đổi sinh diệt. Vì sự vô thường hoại
diệt của Danh Sắc cho nên Đức Phật dạy rằng: "Người
thấy Pháp Sanh-Diệt của Danh Sắc, dù là có sanh mạng chỉ trong một ngày,
cũng quí báu hơn kẻ không thấy pháp Sanh Diệt của Danh Sắc, sống
đến trăm tuổi". (Kinh Pháp Cú).
5) Tuệ
quán sự hoại diệt: quán về sự hoại diệt của thế
gian, vạn vật.
6) Tuệ sợ
hãi: quán thâm sâu những nỗi lo sợ, tận gốc rễ.
7) Tuệ
bất toại nguyện: Thế gian này không có gì thật sự là của Ta
cho nên càng có nhiều thì càng lo nhiều, giữ dùm cho thế gian cho nên
đến khi nhắm mắt của cải thế gian phải trả lại hết cho thế
gian. Ngũ uẩn thì sinh diệt cho nên có thân thì phải chịu
các bệnh tật, khổ não, không bao giờ hài lòng, thỏa nguyện.
8) Tuệ chán
ghét: quán Danh Sắc vô thường vô ngã cho nên cuộc
đời luôn bất toại ý.
9) Tuệ ham
muốn giải thoát: quán thế gian là vô
thường vô ngã cho nên khổ nhiều hơn vui, hạnh phúc có đó
rồi mất đó cho nên hành giả muốn hướng về giải thoát, không
còn phiền não khổ đau.
10)
Tuệ suy tư: tuệ này ôn lại các tuệ trước cho đến khi thấy
biết rõ ràng rốt ráo.
11)
Tuệ hành xả: quán chiếu sự buông xả để không
buồn, không vui, không đam mê ngũ uẩn mà cũng không còn
sợ ngũ uẩn. Nếu thiếu tuệ này, không thể đi đến Niết bàn.
12)
Tuệ thuận thứ: tuệ này còn có tên là tuệ “Hướng về Niết bàn”.
Tuệ hành xả và tuệ thuận thứ quan hệ và giúp đở cho nhau.
Đến đây hành giả phải cân bằng ngũ căn là Tín
căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn.
Tín
căn phải đi đôi với tuệ căn bởi vì nếu Đức tin phát
sinh nhiều hơn Trí tuệ thì sinh ra tà kiến. Còn Tuệ
căn nhiều mà Tín căn ít thì sinh ra hoài nghi.
Tấn
căn phải đi đôi với Định căn bởi vì nếu Tinh tấn nhiều
hơn Định thì sinh ra phóng tâm. Còn Định nhiều mà Tinh tấn kém thì
sinh ra ngủ gục. Tuệ này còn được gọi là tuệ “Ôn lại” từ tuệ thứ 4 đến tuệ thứ
11. Đến đây tâm hành giả phát sinh 37 Pháp chứng quả Bồ
đề (Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ
căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo). Tam
tướng phát sinh: đến đây hành giả thấy tam pháp ấn “Vô
thường, khổ, Vô ngã” cùng phát sinh một lúc. Đức Phật dạy rằng
khi hành giả thấy vô thường thì cũng thấy khổ
não, vô ngã. Khi thấy khổ não thì cũng thấy vô
thường và vô ngã. Khi thấy vô ngã thì cũng thấy vô
thường và khổ não. Nhưng tùy duyên, tùy nghiệp khiến cho hành
giả chú ý cái nào nhiều hơn thì thấy cái đó rõ rệt hơn hai cái kia.
13)
Tuệ cắt đứt dòng phàm còn gọi là tuệ chuyển tộc: Sau khi quán
chiếu từ tuệ thứ 1 đến đây thì hành giả chỉ biết Niết
bàn một chút thôi mà nhà Phật gọi là chuyển tánh. Cũng như người đu dây
muốn nhảy từ bờ bên này sang bờ bên kia. Khi chân vừa chạm đất của bờ
bên kia là cảm biết Niết bàn, nhưng chưa hoàn toàn đạt
được cảnh giới đó bởi vì tay vẫn còn nắm dây đu nghĩa là tâm
chưa hoàn toàn lìa phàm giới.
Từ
tuệ thứ 1 đến tuệ thứ 12 là phàm tuệ.
Từ
tuệ thứ 13 đến tuệ thứ 16 là Thánh tuệ.
14)
Tuệ đạo: Đến đây mọi phiền não bị cắt đứt. Trong 8 cái
tham diệt được 4 còn 4. Trong 2 cái Si diệt 1 còn 1. Trong 2 cái Sân còn nguyên
chưa diệt được cái nào. Đến tầng tuệ thứ 14 này thì mọi hoài nghi mới
thật sự chấm dứt cho nên hành giả sẽ không còn hoài
nghi về tội phước, về thiên đường, địa ngục hay
về luân hồi nhân quả.
15)
Tuệ quả: Đến đây hành giả đắc quả Tu Đà
hoàn hay Nhập lưu. Khi chết sẽ không còn sợ phải đi vào 4
đường ác đạo.
16)
Tuệ phản kháng hay xem xét lại còn được gọi là Tuệ
“quay nhìn lại” hay “ôn lại” tức là Tuệ kiểm soát phiền não và
Tuệ Niết bàn. Đến đây hành giả xem xét lại trong tất cả 12
loại phiền não gồm có 8 tham, 2 sân và 2 si thì cái nào diệt cái
nào còn.
Đây
là tiến trình liên tục và thứ tự bắt đầu từ tuệ Danh
Sắc cho đến khi hành giả trực nhận tuệ Thuận
thứ (tuệ thứ 12) và tuệ chuyển tộc (tuệ thứ 13) thì hành
giả nhận biết Niết bàn và trở thành bậc thánh thứ
nhất Nhập lưu.
Bây
giờ hành giả lập lại từ tuệ thứ 1 cho đến tuệ thứ 15 trừ
tuệ thứ 12 là Tuệ chuyển tánh để loại thêm phiền não thì lúc
đó hành giả đắc quả Tư đà hàm.
Sau
đó hành giả quán trở lại từ tuệ thứ 1 cho đến tuệ
thứ 15 để tiếp tục loại bỏ thêm phiền não, hành
giả sẽ đắc quả A na hàm.
Sau
cùng, hành giả thực hành trở lại một lần nữa từ tuệ
thứ 1 cho đến tuệ thứ 15, loại hết hoàn toàn phiền
não thì chứng quả A la hán. Đến đây chấm
dứt 16 Tuệ Minh Sát đưa hành giả đến giải thoát giác
ngộ.
Đây
là đạo lộ duy nhất do chính Đức Phật đã vạch ra tức
là tam vô lậu học Giới – Định – Tuệ, dẫn đến sự giải
thoát bằng tứ Thánh quả. Nói cách khác nếu đạo lộ tu
tập nào dẫn đến bốn quả Thánh (Nhập lưu, Nhất lai, Bất
lai, A la hán) thì đạo lộ đó đúng là giáo pháp của đạo
Phật vào thời Đức Phật còn tại thế (thực
sự Nguyên thủy, truly original). Đức Phật đã vạch ra
một con đường tu tập rất chính xác và rõ ràng như
là một khoa học về tâm linh. Mỗi bậc thiền chứng đắc đều
có tiêu chuẩn xác định và mỗi tầng thiền tuệ đều
có diễn tả và hướng dẫn rõ ràng để giúp hành
giả thấu rõ từng bước trên con đường giải thoát. Đạo
Phật tuyệt đối không có gì là bí mật cả, Đức
Phật không dấu chúng sinh bất cứ những gì Ngài chứng
đắc vì thế khi giảng pháp hai bàn tay Đức Phật lúc nào
cũng buông xả vì thế vào thời Đức Phật còn tại
thế, không chỉ Đức Phật chứng Thánh quả mà còn có trên 1250
vị A la hán và biết bao Thánh giả khác trong ba tầng Thánh
còn lại.
Ngày
xưa Đức Phật dùng phương pháp Quán Niệm Hơi Thở để
có thể nhập và xuất định. Nhờ phương pháp Quán Niệm
Hơi Thở, Đức Phật chứng ngộ Niết Bàn và sau khi thành đạo,
Ngài đã giảng dạy phương pháp này cho tất cả mọi người cho
đến khi Ngài nhập diệt. Lý do thực hành Quán Niệm Hơi
Thở là vì chúng ta muốn chứng nghiệm thực tại tối
hậu. Khi chú tâm vào hơi thở, chúng ta khám
phá những gì mà chúng ta chưa biết về mình nghĩa là tìm
ra ý thức những gì hãy còn trong vô thức. Nói cách
khác, pháp môn Quán Niệm Hơi Thở có thể như là cây cầu
nối tâm ý thức và tâm vô thức bởi vì hoạt
động của hơi thở vừa có tính cách ý thức và vừa
có tính cách vô thức. Khi vào định, chúng ta có
thể kiểm soát hơi thở hoặc điều khiển hơi
thở theo ý muốn của mình. Cao hơn nữa, hành giả có thể
ngừng thở một thời gian. Nhờ duy trì ý thức về hơi
thở, tự nhiên chúng ta bắt đầu ý thức được
các chức năng hoạt động của thân thể mà trước đây chúng
ta không hề hay biết (vô thức). Nhờ đó, chúng ta thật sự thâm
hiểu sự vận hành trong ta (danh, sắc) nhằm giải
thoát khỏi tham sân si bằng cách ý thức chúng
rất rõ ràng. Do đó, hơi thở phản ánh tâm trạng của con
người. Khi tâm bình yên, thanh thoát, hơi thở đều và
nhẹ. Ngược lại, khi tâm bị các trạng thái tiêu cực xâm
chiếm, hơi thở nặng nề, thô tháo. Vì thế khi tâm bất an, lo
lắng, buồn phiền chỉ cần ngồi yên lặng, hít thở thật mạnh vài
lần rồi sau đó thở đều và nhẹ thì mọi buồn phiền sẽ lắng diệu ngay.
Tóm
lại, trong Bát chánh đạo, Đức Phật trước tiên giới
thiệu Chánh kiến để con người có cái thấy biết đúng về mình
và nhân sinh vũ trụ. Có thấy biết đúng, con người không
nghiêng theo những ảo ảnh về ngã. Sau đó Đức Phật giới
thiệu Chánh tư duy để chúng sinh tránh xa những tư
duy liên quan đến tham, sân si, ái dục. Hai phần đầu
là thực hành để tâm tránh xa tham ái, dục vọng. Sau đó
về phần thực hành, Đức Phật giới thiệu Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng để chúng sinh trở về sống
đời trong sạch, đạo đức nhân bản. Có sống đời trong sạch,
tâm nhẹ nhàng thanh thoát thì hành giả mới có định và từ đó
có giải thoát, trực nhận chân lý. Ngược lại, nếu sống
theo tà hạnh thì chỉ cò tà định và dĩ nhiên không
bao giờ có giải thoát cũng như Đề Bà Đạt Đa ngày
xưa vậy.
Thiền
tông Trung Hoa có câu chuyện như sau: Hương
Nghiêm thông hiểu thiên kinh vạn quyển nhưng vẫn là người chưa
ngộ đạo. Một hôm Quy Sơn đến và nói: "Anh thật
là thông minh tài trí nhưng hãy nói cho tôi biết, anh từ đâu mà
có?". Hương Nghiêm về lục tung hết tất cả sách vở để tìm
câu trả lời. Đi đến cùng câu hỏi ấy là vũ trụ này từ đâu mà có.
Không tự trả lời được ông tìm đến Quy Sơn và cầu
khẩn: "Xin hé mở cho tôi cái bí
mật của lời nói này". Quy Sơn bảo: "Nếu
ta giải thích cho ngươi rõ ràng sau này ngươi sẽ oán
ta". Thế là Hương Nghiêm vứt bỏ tất cả để về quê
cuốc đất. Một ngày kia sau mười năm, lúc đang dãy cỏ, ông cuốc đụng một miểng
sành và nhặt lấy quăng vào một bụi trúc. Miểng sành chạm phải một cây trúc khô
và ngân lên một tiếng ngân đặc biệt. Hương Nghiêm bừng ngộ. Ông
hiểu được ông từ đâu mà có, vũ trụ này từ đâu mà có. Ông quỳ xuống,
lạy về phía Quy Sơn và bảo: "Sư phụ, lòng
tốt của thầy thật bao la. Nếu ngày ấy thầy giải thích thì
hôm nay làm sao con có được kinh nghiệm kỳ diệu này".
Ngược
lại, giáo lý Phật Đà không bao giờ bí mật cả,
rất rõ ràng, từng bước một để giúp hành giả thực
hành từng giai đoạn tùy theo khả năng và năng lực của
mình. Tuy nhiên, nếu muốn đạt đến cứu cánh tối
thượng giải thoát giác ngộ thì không dễ, đòi hỏi hành
giả thật tâm viễn ly tất cả những dục vọng từ thân và
tâm. Từ đó ứng dụng Bát Chánh Đạo thì đạo quả viên
thành dựa theo tiến trình giải thoát Giới, Định, Tuệ. Giới
khiến chúng sinh sống đời trong sạch, đạo hạnh trong
khuôn khổ đạo đức nhân bản thì có Chánh ngữ, Chánh
nghiệp và Chánh mạng. Sau khi thực hành Giới viên
mãn, hành giả tiếp tục hành trì Định gồm có Chánh
tinh tấn, Chánh niệm và Chánh Định. Sau cùng phát triển Tuệ
Minh Sát bằng cách thực hành rốt ráo Chánh
kiến và Chánh tư duy. Thực hành viên mãn Bát chánh đạo đưa hành
giả chứng ngộ toàn vẹn Bốn Thánh Đế và thoát
khỏi sinh tử luân hồi.
Kết
quả của việc thực hành Bát chánh đạo tỷ lệ thuận với
việc hành trì nghĩa là nếu hành giả thực hành được 20%
thì có hạnh phúc, an lạc 20%. Thực hành đến 50% thì
có hạnh phúc, an lạc 50% cho đến khi hành
giả thực hành rốt ráo 100% thì bây giờ hành
giả có giải thoát giác ngộ trở thành Thánh giả.
Chính Bát
chánh đạo là con đường giải thoát duy nhất ra
khỏi vòng sinh tử cho nên Đức Phật lại dạy rằng:
“Con
đường cao thượng nhất là Bát chánh đạo. Chân lý cao thượng nhất
là Tứ Diệu Đế…Đó là con đường duy nhất, không còn con
đường nào khác dẫn đến kiến tịnh. Hãy đi theo con đường ấy
để sớm thoát khỏi mọi điên đảo của phiền não khổ
đau”.
Vì
tầm quan trọng của Bát Chánh Đạo cho nên Đức Phật đã nói
cho Tu-Bạt-Đà-La, người đệ tử cuối cùng, trước khi Ngài nhập
diệt:
"Này
Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây
không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ
tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp
luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ
nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda,
chính trong pháp luật này có Bát Thánh Đạo, thời này Subhadda, ở
đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng
có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có
những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỳ-kheo này sống chơn chánh, thời đời
này không vắng những vị A-la-hán." (Trường Bộ, Kinh
Đại Bát Niết Bàn).
Thực
hành Bát chánh đạo là con đường hiệu quả nhất tăng
thêm phước đức hữu lậu cho tất cả mọi người. Nhưng
nếu thực hành rốt ráo, Bát chánh đạo có thể đưa hành
giả đến giải thoát, trở thành bậc Thánh giả. Vì tầm
quan trọng của nó, Đức Phật đã khẳng định Bát chánh
đạo là độc lộ nghĩa là con đường duy nhất chớ không
có con đường thứ hai hay thứ ba nào trên thế gian này để
giúp chúng sinh thoát khổ và đạt đến cứu cánh tối
thượng là giải thoát Niết bàn. Đức Phật đã
lấy cuộc đời của mình làm trung tâm điểm để tu
tập và dựa vào kinh nghiệm bản thân qua sự nhìn
thấy, hiểu biết một cách tường tận. Ngài đã thấy biết tính năng
của Bát chánh đạo vượt lên trên hai cách sống: Một bên là hưởng
thụ các khoái lạc của thế gian rồi đắm mê vào đó và một bên
là khổ hạnh, ép chế cơ thể làm cho nó mất đi tính năng động của
các giác quan mà ngộ nhận cho rằng đó là con
đường của giải thoát. Vì Tứ Diệu Đế là bốn sự thật,
là chân lý chớ không phải là một nền triết học cho
nên Bát chánh đạo là một công trình tu tập để tự mình
nghiệm biết và nếu thực hành rốt ráo chắc chắn sẽ mang lại
biết bao lợi ích thiết thực cho con người và xã
hội hiện đại. Trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật đã giải
thích rằng: "Giáo Pháp mà Như
Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức,
khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm
vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu.".
Do đó, chân lý thì không thể diễn giải bằng ngôn
ngữ hạn hẹp của con người, mà chỉ bằng sự thực nghiệm cho
nên Đức Phật không truyền dạy tất cả những điều mà Ngài biết. Ngày
kia, trong cụm rừng nọ, Đức Phật bốc lên một nắm lá và dạy:
"Nầy các Tỳ Khưu, những điều mà Như Lai dạy các ông có thể
sánh với nắm lá này, còn những điều mà Như Lai không dạy cũng như tất
cả lá trong rừng." (Tương Ưng, tập 5)(Samyutta Nikaya). Đức
Phật chỉ dạy những điều mà Ngài xét là cần thiết để chúng
sinh có đủ phương tiện mà tự mình thể nghiệm chân
lý thì lúc đó trí tuệ sẽ bừng sáng, thấu biết tất cả cũng như
tất cả lá trong rừng. Vì thế giáo pháp của Như Lai chỉ là phương
tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng. Nhưng phương tiện không phải
là cứu cánh. Phương tiện là nhân mà cứu cánh mới là
quả. Phương tiện là giả mà cứu cánh là thật. Cái vô
minh lớn nhất của con người là chấp phương
tiện với cứu cánh. Vì thế người tu Phật chỉ nương
theo phương tiện để đạt cứu cánh, nương theo ngón tay để
thấy mặt trăng. Nhưng đừng lầm phương tiện là cứu cánh,
đừng nhìn ngón tay mà quên đi mặt trăng và đừng chấp kinh
điển là Chân lý. Đừng nhìn vào ngón tay chỉ mặt trăng mà
quên đi luồng ánh sáng tuyệt vời phát xuất từ mặt trăng. Do đó
khi đạt được cứu cánh thì phải bỏ phương tiện, hết bệnh thì
bỏ thuốc, tới bờ thì phải bỏ chiếc bè để lên bờ giác ngộ chớ đừng vác
bè lên vai mà thêm nặng nhọc khổ đau.
Một
người thực hành Bát chánh đạo thì người đó có biết bao lợi
lạc. Cả gia đình thực hành Bát chánh đạo thì toàn gia
đình sống trong đạo đức nhân bản, trên thuận dưới hòa, hạnh
phúc ấm êm. Xã hội thực hành Bát chánh đạo thì xã
hội đó bình yên, không còn tội ác, người người tương thân tương kính, thanh
bình và hạnh phúc. Ngày nay, Nhật Bản và Singapore là
những quốc gia có tinh thần đạo đức rất cao. Người dân
biết tự trọng, tôn tri trật tự, không dối trá, không trộm cắp,
không gây tội ác. Họ thừa hưởng và tiếp tục thực
hành một nền giáo dục rất thực tế từ lúc còn bé cho
nên mọi người lớn lên trong khuôn khổ đạo đức và trách
nhiệm.
Chúng
tôi trích một mẫu chuyện nói về Đại Hàn ngày nay:
“Thập
niên 60, Hàn Quốc là một trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm
1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê
nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn và giảng dạy, ngoại
trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc
đó cũng có nhiều người chỉ trích vì tính sĩ diện của người
Hàn Quốc rất cao, lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa. Nhưng họ
vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có chương trình giáo
dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên từ cách đào
tạo của giáo dục phương Tây phù hợp với đặc trưng châu
Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian,
chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, để còn
lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của
Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật
và đạo đức của toàn thể xã hội.
Đúng
20 năm, đến 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không
ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn lại khủng khiếp
như thế. Ô-tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo…bên
Nhật có cái gì thì bên này có cái đó, dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết
trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn Quốc đã nắm chặt tay với quyết
tâm thoát nghèo như thế nào. Trên tivi chỉ có 2 chương
trình là “dạy làm người” và
“dạy làm ăn”, từ cái văn
minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng, đến cách quản
lý chi phí của một quán cà phê, đến cách tạo dựng một nhà máy.
Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại
Hàn và thuê lao động Hàn, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở
thành dân tộc đi “cho việc”, tức xây dựng các nhà máy ở nước
ngoài và hàng triệu người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines đứng xếp hàng
xin các ông chủ Hàn Quốc cho họ việc làm. Hàn Quốc đã thành
công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi cho việc
người khác.
Năm
1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau và cười trong
nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế
giới miễn visa cho họ, Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc
gia thịnh vượng nhất loài người.
Phần
lớn hệ thống giáo dục của con người là nhằm để nâng
cao trí thông minh. Mặc dù có những hạn chế, chỉ số IQ vẫn là cách cơ
bản để đánh giá trí tuệ và con người đã chi
tiêu biết bao triệu đô la để rèn luyện trí thông
minh với mục đích cải thiện chỉ số IQ. Nhưng có khi nào
việc cải thiện trí thông minh lại là việc làm vô
ích nếu không biết cải thiện đạo đức nhân bản cho
cuộc sống.
Thế
giới hiện nay đang trên đà phát triển về mọi phương diện.
Nhiều học thuyết, đạo học, lý thuyết triết học đông
tây có lẽ không còn mấy thích hợp vào trong xã
hội của thời đại văn minh hiện đại. Tuy
nhiên, Bát chánh đạo dù trải qua trên 2500 năm vẫn đứng
vững và tiếp tục đóng vai trò chính yếu vào trong cuộc
sống của con người trên khắp hoàn cầu. Trong Trung Bộ
kinh (Majjhima Nikaya) Đức Phật dạy rằng: "Như
Lai chỉ dạy một điều: đau khổ và sự chấm
dứt mọi đau khổ" cho nên hễ con người còn
khổ, Bát chánh đạo vẫn còn là kim chỉ nam hướng dẫn mọi
người sống đúng, sống phù hợp với chân lý để trau dồi
thân, khẩu ý của mình, biến cuộc sống từ khổ đau trở thành hạnh
phúc và an lạc. Thực hành Bát chánh đạo không những
đem lại biết bao lợi lạc cho mỗi cá nhân mà nó có
thể mang đến sự hòa hợp, tương kính, trật tự, an
ổn và thanh bình cho quốc gia xã hội. Học Bát
chánh đạo không thể dừng lại ở mức độ khảo sát hay tìm hiểu bởi
vì Bát chánh đạo không phải là một nền triết học mà
là phương pháp tu tập. Chúng cần được thể nghiệm trong cuộc sống
để đào tạo đạo đức nhân bản cho mỗi người và biến cuộc
sống thế gian này thành hạnh phúc, an vui và tự tại.
Nhưng cứu cánh tối thượng của Bát chánh đạo vẫn là
đưa con người đến giải thoát, có thanh tịnh tự
tại Niết bàn và vĩnh viễn sẽ không còn tái
sinh nữa.
Sống
không giận không hờn không oán trách
Sống mỉm
cười với thử thách chông gai
Sống
vươn lên cho kịp ánh ban mai
Sống
chan hòa với những người chung sống
Sống
là động mà không xao động
Sống
là thương mà chẳng vấn vương
Sống hiên
ngang danh lợi ta coi thường
Tâm bất
biến giữa dòng đời vạn biến.
Để kết
luận phần bài viết này, chúng tôi mượn lời của Tiến
sĩ Oldenburg, một học giả người Đức, đã phát
biểu về Đức Phật như sau:
“Đức Phật không thể giải thoát cho ai cả. Ngài dạy con
người phải tự mình giải thoát mình cũng như chính Ngài đã
tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo
lý của Ngài không phải vì giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì
lòng xác tín cá nhân được thức tỉnh bởi những lời Ngài
dạy. Chân lý trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ nơi chính mình”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét