by Bhikkhu Brahmavamso
Translate into Vietnamese by Phạm Doãn
I. GIỚI THIỆU.
Trong kinh điển nguyên thủy của Đạo Phật, chỉ có một chữ để chỉ về thiền. Thiền Định (Jhana) chỉ về một trạng thái thiền đúng, khi tâm trí người hành thiền yên tĩnh không ý nghĩ, tách biệt khỏi hoạt động của năm giác quan và chiếu sáng bởi an lạc ngoài thế gian. Nói thô kệch một chút, nếu không phải là Jhana, thì đó không phải là thiền của Đạo Phật. Có lẽ yếu tố cao nhất của Bát Chánh Đạo, cái gọi là Chánh Định không gì khác hơn là Jhanas (Định)
Sự tái phát hiện của Đức Phật
Trong các văn bản cổ của Phật giáo, Đức
Phật được cho là đã phát hiện Định Jhana (Tăng chi bộ kinh 2, 7). Sự xác
nhận này được lập lại với giải thích đầy đủ của thượng tọa Ananda
trong một kinh khác (Tăng chi bộ kinh 9, 42). Sự kiện Đức Phật tái
phát hiện ra Định Jhana không nên được xem xét qua loa, vì
sự tái phát hiện đã là một màn chính trong vở kịch Giác ngộ.
Khi nói Đức Phật đã phát hiện Định
Jhana, điều đó không nên hiểu như là chưa có ai đã từng trải ngiệm Định Jhana
trước đó. Ví dụ trong thời kì của Phật Ca Diếp (Kassapa) trước
đó, vô số người nam và người nữ đã đạt được định Jhana
và lần lượt thực hiện được sự giác ngộ. Nhưng ở Ấn Độ hai
mươi sáu thế kỉ trước, mọi kiến thức về định Jhana đã biến mất. Đây
là một lí do khiến không có bất cứ đề cập nào về định Jhana trong mọi văn bản
tôn giáo trước thời Đức Phật Gautama.
Một vài người sẽ sẽ phản đối rằng
hai vị thày Alara Kalama và Udaka Ramaputta đã từng thuyết giảng về
Jhana, vì kinh điển nói rằng họ đã dạy Đức Bồ Tát (tức Đức
Phật sắp thành của chúng ta) các chứng đạt về Vô sở hữu xứ và Phi
tưởng phi phi tưởng xứ. Tuy nhiên hai chứng đạt đó không thể có liên
hệ với định Jhana, bởi vì Đức Bồ Tát, ngay trước lúc ngồi xuống dưới cây
Bồ Đề, đã nhớ lại lần duy nhất trong đời, ngài đã trải nghiệm định
Jhana khi còn là một cậu bé, lúc ngồi dưới cây mận, khi cha cậu làm lễ cày cấy
đầu năm (Trung bộ kinh 36). Trải nghiệm sớm và ngẫu nhiên về định
Jhana đó không do chỉ dạy, không được dự tính trước và rồi cũng bị
quên đi từ khi ấy. Nếu đó là trải nghiệm duy nhất về Jhana của Đức Bồ
Tát trước khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề thì hai vị thày Alara
Kalama và Udaka Ramaputta không thể đã có dạy về định Jhana.
Thực vậy, trong kinh Mahasaccaka (MN 36), Đức Bồ
Tát phủ nhận những trải nghiệm do hai vị thày đã dẫn tới Giác Ngộ, và
rồi ngài cũng đã kiệt sức với mọi phép tu khổ hạnh trước
khi kết luận rằng chúng cũng không đưa tới Giác Ngộ.
Nhớ lại trải nghiệm trước đây khi còn là một
cậu bé, Đức Bồ tát suy nghĩ: “Có lẽ định Jhana này là con đường dẫn
tới Giác Ngộ (Boddhi)”. Do vậy Đức Bồ Tát đã thực hiện định
Jhana dưới cội Bồ Đề và tiến từ đây đến Giác Ngộ toàn mãn,
chứng đạt quả vị Phật.
Một trong những lí do tại sao không có sự thực
hành định Jhana trước khi Phật Giác Ngộ là vì người ta chỉ theo
đuổi sự tìm cầu khoái lạc và thoải mái của cơ thể hoặc một cái
gì khác theo loại tôn giáo hành hạ cơ thể. Cả hai khuynh hướng đều
gắn kết với cơ thể và năm giác quan, không buông xả từ năm giác
quan. Cũng không tạo ra sự an tĩnh kéo dài cho cơ thể, tức cái cần
thiết cho cơ sở của định Jhana. Khi Đức Bồ Tát bắt đầu
cách thực hành “dễ dãi” dẫn đến an tĩnh cho cơ thể,
năm đệ tử đầu tiên của ngài đã từ chối ngài trong sự khinh bỉ.. Một
kiểu thực hành như thế được họ xem là vô giá trị. Bởi thế
nó đã không được thực hành và cũng bởi thế Định Jhana đã không xảy
ra.
Sau khi Đức Phật Đại Giác Ngộ,
điều mà Ngài dạy đầu tiên, trước cả Tứ Diệu Đế, là khai mở con đường
Trung Đạo. Con đường này chưa từng có trước đây (trừ rất lâu trong những
kỉ nguyên của các vị Phật trước đó nữa). Con đường này tự động dẫn đến
định jhana và sau đó là Giác Ngộ.
Đức Phật nói rằng, dường như ngài đã tái
phát hiện một con đường dài đã thất lạc, dẫn đến một thành phố cổ (SN
12, 65). Thành phố cổ đó là Níp Bàn (Giác Ngộ) và con đường dài đã thất
lạc là con đường Bát Chánh với đỉnh cao là Định Jhana. Vì Đức
Phật đã tái phát hiện con đường này, ta có thể nói rằng Đức
Phật đã tái phát hiện Định Jhana.
Ta có thể bị Định Jhana trói buộc hay không?
Khi Đức Bồ Tát có tuệ giác rằng
định Jhana là con đường đi đến Giác Ngộ, ngài liền nghĩ, “Tại
sao ta lại sợ điều khoái lạc mà cái này chẳng có liên hệ gì đến
năm giác quan và cũng không có liên hệ với những điều bất
thiện? Ta sẽ chẳng sợ cái khoái lạc đó (của định Jhana) !” (Trung bộ kinh 36).
Ngay cả đến ngày hôm nay một vài người hành thiền lầm lẫn tin rằng những trạng
thái khoái lạc cực độ như Jhana không thể nào dẫn đến sự chấm
dứt của mọi sự khổ. Họ vẫn còn sợ định Jhana. Tuy nhiên trong kinh
điển Đức Phật nhắc lại rằng trạng thái sung sướng trong
định Jhana là cái “phải đi theo, phải làm cho nó phát triển và làm cho nó
có nhiều hơn. Đây là không phải là điều nên sợ hãi” (Trung bộ kinh 66).
Bất kể lời khuyên rõ ràng từ
chính Đức Phật, một vài thiền sinh đã đượng hướng dẫn sai bởi những
người chống đối định Jhana bằng lý luận rằng ta có thể bị trói
buộc, chấp thủ vào định Jhana và như thế sẽ không bao giờ có thể giác
ngộ. Nên chỉ rõ ra rằng lời Đức Phật nói về chấp thủ, upadana,
chỉ ám chỉ các trói buộc, bám níu vào sự thoải mái và
khoái lạc của năm giác quan hay trói buộc, bám níu vào các hình
thái khác nhau của tà kiến (ví dụ như quan điểm về Ngã). Nó
không bao giờ có nghĩa trói buộc vào những điều thiện ví dụ như
định Jhana.
Một cách hiểu đơn giản, các trạng
thái Jhana là các giai đoạn của buông xả. Ta không thể bị trói
buộc vào buông xả. Cũng giống như ta không thể bị giam cầm
bởi tự do. Ta có thể tìm vui nơi định Jhana, trong cái an lạc của buông
xả, và đây là điều mà vài người do hướng dẫn sai nên phải sợ hãi. Trong
kinh Pasadika (kinh Trường bộ 29, 25) Đức Phật đã nói rằng
ai theo đuổi khoái lạc của định Jhana chỉ có thể nhận bốn hậu quả: Nhập
Lưu, Nhất lai, Bất Lai và Giác Ngộ viên mãn! Nói cách
khác theo đuổi định Jhana chỉ dẫn tới bốn trạng thái của Giác
Ngộ. Vậy, bằng lời của Đức Phật “Ta không nên sợ định Jhana”
(kinh Trung bộ 66).
* Tham khảo upadana trong Tự
Điển Phật Học: Manual of Buddhist Terms and
Doctrines, Venerable Nyantiloka (Fourth Revised Edition), Kandy, Buddhist
Publication Society, 1980.
Với những người còn xa cách với định
Jhana
Với một số thiền sinh, định Jhana là một
khoảng cách còn xa, nên tự cho mình không thích hợp. Không phải vậy! Bằng
cách bàn luận về những trạng thái thăng hoa, ta có thể tạo
nên niềm hứng khởi, cũng như hình dung những cõi miền trước mặt giúp
ta biết định hướng đúng. Chủ yếu hơn, nó giúp ta thông tin về việc gì phải làm
khi ta đến gần những trạng thái sâu về tự do. Cuối
cùng nó giúp ta hiểu sâu hơn về Pháp, đặc biệt về Diệu đế thứ
ba, đó là đoạn diệt tất cả khổ đau để đên Níp bàn. Vì sự mê say
và an lạc của định Jhana có mối liên hệ trức tiếp với số lượng
của luân hồi được buông xả, dù có tính tạm thời. Vậy, thảo
luận về định jhana là việc có gía trị, ngay cả khi bạn thấy mình còn rất xa
cách.
Với những người đã gần gũi với định Jhana
Một vài độc giả có thể đã đến đủ gần
để thấu hiểu việc thảo luận này bằng chính trải nghiệm của mình, và
cuốn sách này có thể giúp họ thực hiện cú nhảy cuối cùng vào
định Jhana. Hơn thế nữa, khi một người hành thiền thực sự trải nghiệm
một trạng thái sâu của thiền, họ rất muốn tìm hiểu chính
xác đó là gì, để nhận ra trạng thái đó bằng những từ
ngữ mà chính Đức Phật đã dùng để mô tả. Vì thế việc phân
biệt đúng các mức sâu của thiền là rất quan trọng.
Việc tạo cảm hứng cho một thành
tựu của ai đó cũng là quan trọng. Cảm xúc tích cực sẽ khích
lệ việc buông xả. Mong ước của tôi là được trình bày với các bạn,
rằng những trạng thái của định Jhana sâu xa và tuyệt vời đến
dường nào, và minh họa thế nào là trải nghiệm chính yếu trong sự
kiện Giác Ngộ.
Đôi khi những chủng tử, gieo vào khi bạn
đọc bài thảo luận về định Jhana này, sẽ trổ quả một ngày nào đó. Khi
bạn nhận ra những yếu tố tâm (thiền chi) thực tế xảy
ra như thế nào, bạn sẽ biết sự quan trọng của việc thu thập thông tin và cảm
hứng như thế này, về định Jhana, từ nguồn bên ngoài. Rồi vào đúng thời điểm, tâm
trí sẽ tự động biết nó phải làm gì.
Ví dụ, khi Nimitta xuất hiện, tâm
trí tức thì biết cách phản ứng như thế nào. Về sau, có thể đôi
khi bạn lại nghĩ: “Sự chủ động đó đến từ đâu?” Câu trả lời là vận
động của tâm trí lúc đó đến từ việc đọc những thảo luận như
thế này. Đôi khi nó cũng đến từ những điều bạn được học từ kiếp trước.
Đó là những nguyên nhân sinh ra các
hướng dẫn thoáng qua tâm trí trong trạng thái lặng yên của thiền
định. Chúng không sinh ra từ bạn. Nếu bạn bị lôi cuốn vào
và cố gắng làm điều gì đó, thiền định sẽ bị quấy nhiễu và an
bình sẽ mất.
Vì thế, xin hãy thôi nghĩ rằng bạn hiện chưa ở
thời điểm này, thảo luận này không có ích gì cho bạn. Sự thực là nó rất
có ích cho bạn. Nhưng bạn chỉ nhận ra lợi ích của nó sau khi bạn đạt
được một trong những định Jhana và hồi tưởng lại để thấy rằng những chỉ
dẫn này, cái bạn tưởng đã quên, lại thể hiện đúng lúc để dẫn tâm
trí bạn đến định jhana.
II. HƠI THỞ ĐẸP
Sự bắt đầu một hành trình đến định
Jhana
Tôi đã trình bày định Jhana từ một góc độ lý
thuyết và lịch sử. Bây giờ là lúc giải thích định Jhana
trong ý nghĩa thực hành. Để mô tả hành trình đến định
Jhana, tốt nhất là bắt đầu từ điểm xuất phát của “Hơi Thở Đẹp”. Trước
khi giai đoạn này được hoàn tất, tâm trí không đủ thỏa mãn, tỉnh
thức và ổn định để nó tự phóng lên trạng thái ý thức cao
hơn. Khi ta có thể duy trì một nhận biết không cần gắng
sức trên một hơi thở không gián đoạn trong một thời
gian dài, khi tâm trí đã có một tỉnh thức phong phú rằng hơi
thở trở nên khoan khoái, lúc ấy ta đã sẵn sàng khởi động chuyến du
hành đến Định Jhana.
Không sợ những khoái cảm
Tôi muốn nhấn mạnh rằng ta
nên cẩn thận tránh phải sợ hãi khoái cảm trong thiền định.
Rất nhiều hành giả loại bỏ cảm giác hạnh phúc vì cho rằng
nó không quan trọng, hoặc tệ hơn nữa, cho rằng họ không tương xứng với một
khoái lạc như thế. Cảm giác hạnh phúc trong thiền là quan trọng!
Hơn nữa bạn xứng đáng được an lạc! Phát sinh an lạc trên hơi thở là
phần thiết yếu của đạo lộ. Vì thế khi khoái cảm khởi dậy cùng hơi thở, ta
nên đón mừng nó như một tài sản giá trị và bảo vệ nó một
cách tương xứng.
Hơi Thở đẹp không cần nổ lực
Cảm giác sung sướng xuất hiện trong
giai đoạn hơi thở đẹp là “chất keo” dán dính sự chú ý của tâm
trí vào hơi thở. Điều này khiến chánh niệm trên hơi thở không
cần một nổ lực nào nữa. Ta trụ tâm bằng chú ý toàn vẹn vào hơi
thở bởi vì tâm trí muốn ở cùng hơi thở. Tâm trí trong
giai đoạn này, đang tận hưởng sự quan sát hơi thở, nó không muốn rời
đi nơi nào khác. Tâm trí theo cùng với hơi thở một cách tự
động. Nó hài lòng với sự sung sướng và đẹp đẽ của hơi
thở, mọi sự lăng xăng dừng lại. Ta biết rất rõ hơi thở mà
không cần phải điều khiển tâm trí. Chánh niệm trong hơi
thở, lúc này không cần đến nổ lực.
Nếu không có trải nghiệm sung sướng,
sẽ có vài sự bất mãn. Sự không hài lòng là nguồn gốc làm tâm
trí lan man. Trước khi ta tới được giai đoạn hơi thở đẹp, sự
không hài lòng đẩy chánh niệm ra khỏi hơi thở. Lúc đó
cách duy nhất để giữ chánh niệm trên hơi thở là bằng
nổ lực của ý chí, bằng sự kiểm soát. Nhưng khi đã đạt tới giai đoạn hơi
thở đẹp, khi cảm giác sung sướng sinh ra thỏa mãn lâu
dài, thì tâm trí không còn đi lang thang nữa. Khi sự kiểm soát được
thả lỏng, nổ lực giảm xuống, tâm trí sẽ duy trì sự bất
động một cách tự nhiên.
Giống như xăng là nhiên liệu vận hành xe
ô tô, sự không hài lòng là nhiên liệu làm tâm trí chuyển động.
Khi chiếc xe hết xăng, nó chầm chậm dừng lại. Ta không cần dùng đến
thắng. Nó tiến đến trạng thái bất động một cách tự nhiên.
Cũng như thế, khi tâm trí không còn sự bất mãn nhờ sự xuất
hiện của hơi thở đẹp, nó nhẹ nhàng dừng lại. Ta không cần
dùng sức mạnh ý chí làm cái thắng. Tâm trí đạt đến trạng
thái bất động một cách tự nhiên.
Pitisukkha- Hỉ và Lạc
Trong tiếng Pali, tổ hợp chữ Pitisukkha có
nghĩa sự phối hợp của hỉ và lạc (joy and happy). Ta có thể dùng những
chữ này để chỉ tất cả những trải nghiệm, kể cả các trải nghiệm thuộc thế
gian. Nhưng trong thiền định, Pitisukkha chỉ dùng ám chỉ cảm
giác hỉ và lạc sinh ra từ sự buông xả.
Giống như các loại lửa khác nhau có
thể phân biệt được bằng các nhiên liệu của chúng, ví dụ lửa củi, lửa
xăng dầu, lửa cháy rừng, các loại khác nhau của Lạc cũng có thể được phân
biệt bởi nguyên nhân của chúng. Hỉ và Lạc phát sinh từ hơi
thở đẹp được đốt lên từ sự buông xả các gánh nặng như
từ quá khứ, tương lai, phê phán nội tâm và các ý thức xung
đột. Bởi vì nó là cảm giác sung sướng sinh ra từ buông xả,
nó không thể gây ra trói buộc. Ta không thể trói buộc và buông
xả vào cùng một lúc. Cảm giác sung sướng sinh ra cùng với hơi
thở đẹp, thực sự là dấu hiệu rõ nhất cho sự cởi bỏ vừa mới xảy ra.
Ba loại chính của Hỉ-Lạc
Ta có thể đề xuất ba loại chính của
Pitisukkha (Hỉ-Lạc): phát sinh bởi sự kích thích của cảm giác,
hoặc do sự thành tựu của cá nhân hoặc sinh ra bởi sự buông
xả. Những loại này không chỉ khác biệt bởi nguồn gốc nhưng chúng cũng rất khác
nhau về bản chất. Lạc phát sinh bởi thân thể thì nóng
và kích thích những cũng kích động và hậu quả là gây nhàm
chán. Nó giảm cường độ khi tái lập. Lạc sinh bởi sự thành tựu của cá
nhân thì ấm, tràn đầy, nhưng cũng phai nhanh, để lại cảm giác về
một khoảng trống cần bù đắp. Nhưng Lạc sinh ra do buông xả lại mát và
kéo dài lâu hơn. Nó phối hợp với cảm giác của tự do thực
sự.
Lạc sinh ra bởi kích thích xác thịt
luôn tạo ra ham muốn nhiều hơn nữa, giống như một người nghiện luôn cần
một liều lớn hơn, điều khiến nó không bền vững và có tính ức chế.
Lạc sinh ra bởi thành tựu cá nhân tạo thêm chất liệu cho
tính độc đoán quái dị (control-freak), khiến tạo thêm ảo tưởng về quyền
lực cá nhân. Kẻ kiểm soát sẽ giết chết mọi phúc lạc. Lạc
sinh ra từ buông xả thúc đẩy thêm buông xả và ít
tính can thiệp. Bởi vì nó khích lệ ta rời bỏ mọi điều nên nó là loại lạc bền
vững nhất và kéo dài không cần nổ lực nhất. Nó là loại độc lập nhất
đối với mọi nguyên nhân. Nó gần nhất với trạng thái không điều
kiện và không nguyên nhân.
Rất cần đến sự thành công trong thiền
định để nhận biết các loại Lạc khác nhau. Giống như các cơn
sóng khoái lạc xác thịt đi qua cơ thể bạn, nếu Lạc sinh khởi cùng với hơi
thở tỉnh thức thuộc loại kích thích thể xác, thì nó sẽ sớm
tan biến khi nổ lực chùng xuống, để lại cảm giác nặng nề và chán nản.
Nó ít có công dụng tại đây. Nếu Lạc phối hợp với cảm
giác của thành tựu, ví dụ với ý nghĩ: “Tuyệt! cuối cùng thì
ta cũng đạt được cái đó trong thiền định” tức thì, nó thường bị theo
sau bởi ý niệm thành tựu tan rã. Nó sẽ bị phá hủy bởi
kẻ kiểm soát bất ngờ trỗi dậy và bị hủy hoại bởi sự can thiệp của bản
ngã. Nhưng nếu Lạc sinh khởi cùng với hơi thở đẹp từ sự buông
xả, thì ta có cảm giác rằng ta chẳng cần phải nói điều gì
hay phải làm điều gì. Nó trở thành niềm phúc lạc có liên
hệ chặt chẽ với tự do và an bình. Nó sẽ tự tăng trưởng với
cường độ mạnh mẽ, giống như một đóa hoa nở trong vườn thiền định Jhana.
Hơi thở đẹp,
Tâm từ đẹp,
Cái sọ đẹp!
Ngoài hơi thở, còn có nhiều đối tượng được
dùng trong thiền định. Ta có thể dùng đối tượng như là Tâm Từ (Metta),
một phần cơ thể (Kayagatasati), sự hình dung thị giác đơn giản (Kasina)
hay các đối tượng khác để làm điểm tập trung cho chánh niệm. Tuy
nhiên tất cả thiền định phát triển đến định Jhana, phải qua một
giai đoạn có hỉ-lạc sinh ra do sự buông xả. Vì dụ thiền về Tâm Từ dẫn
đến một tình yêu tuyệt vời, rộng lớn, không điều kiện đối với toàn
thể vũ trụ, làm hành giả tràn ngập với niềm mừng vui tuyệt
diệu. Hỉ Lạc do buông xả được sinh khởi và ta ở trong giai
đoạn “Tâm Từ đẹp”. Một ví dụ khác, có hành giả tập trung trên
các thành phần của cơ thể, thường là cái sọ người. Khi thiền đi sâu,
lúc chánh niệm được giữ trên hình ảnh cái sọ bên
trong tâm trí, một diễn trình lạ lùng mở ra. Hình ảnh cái sọ
trong tâm trí của hành giả bắt đầu trở thành trắng,
rồi đậm màu hơn cho đến lúc chiếu rọi với ánh sáng cực mạnh như một
“cái sọ đẹp”! Lần nữa hỉ-lạc phát sinh từ buông xả xuất hiện, hành
giả thấm đẫm trải nghiệm với hỉ và lạc. Ngay cả một vài thày tu thực
hành thiền định về sự kinh tởm (Asubha) chẳng hạn trên một tử thi hoại
tử, có thể trải nghiệm xác chết thoạt đầu trông gớm ghiếc, bỗng
thay đổi thành những hình ảnh đẹp hơn tất cả. Sự buông xả đã
phát sinh quá nhiều hạnh phúc đến mức lấn áp hình ảnh kinh
tởm tự nhiên và phủ tràn hình ảnh đó bằng hỉ-lạc. Đến
đây hành giả đã thức hiện được giai đoạn “Tử thi đẹp!”.
Trong thiền định hơi thở (Anapanasati), Đức
Phật dạy về sự phát khởi hỉ-lạc cùng với trải nghiệm về hơi
thở trong bước 5 và 6 của tất cả 16 bước trong phương pháp quán
niệm hơi thở (xem Trung bộ kinh 118). Đây là một giai đoạn chính
yếu trong thiền định mà tôi có bàn tới trong cuốn “The basic
method of meditation” *
* THE
BASIC METHOD OF MEDITATION by Ajahn Brahmavamso, available from the
Buddhist Society of Western Australia.
Phải làm gì nếu hỉ-lạc không xảy ra?
Khi hỉ-lạc không phát sinh, điều này tất yếu
phải xảy ra nếu không đủ sự hài lòng, đó là vì ta còn quá gắng
sức. Ta phải liên tưởng đến hai yếu tố đầu trong năm
chướng ngại (năm triền cái). Chướng ngại thứ nhất, nhục dục,
lôi kéo sự chú ý đến đối tượng của dục, nghĩa là rời xa khỏi hơi thở. Chướng
ngại thứ hai, sân hận (ill will) đi tìm lỗi trong trải nghiệm hơi
thở và sự không hài lòng đẩy sự chú ý rời khỏi hơi thở. Sự hài
lòng là “trung đạo”giữa ham muốn và sân hận. Nó gìn giữ chánh
niệm của ta trên hơi thở lâu dài đủ cho hỉ-lạc phát sinh.
Một số người hành thiền thắc mắc về vai
trò của nổ lực trong thiền. Khi thiền ở giai đoạn ngay trước khi có hơi
thở đẹp, ta chỉ đặt nổ lực vào sự nhận biết (knowing), tránh xa
cái tâm trí tác hành (the doing- mind). Khi nổ lực được đưa vào sự
“hành” thiền, có nghĩa là đã có sự kiểm soát mọi thứ, thì con
người hành động được kích hoạt năng lượng tạo ra trạo cử (kích
động), đây cũng là một chướng ngại khác. Nhưng nếu loại bỏ nổ
lực ra khỏi con người tác động và chỉ tập trung vào sự nhận
biết, thì trạo cử biến mất nhưng lúc đó lại phát sinh lười biếng
và hôn trầm, đây cũng là một trong năm chướng ngại. Nó phát sinh bởi
vì Cái Biết không có năng lượng. Điều này thường do tất cả năng lượng của
ta bị dồn vào hoạt động, vào chức năng tích cực của tâm
trí, vào sự kiểm soát. Bởi vậy, sự nhận biết, chức năng thụ
động của tâm trí bị đói năng lượng trở thành yếu
đuối, lười biếng và hôn trầm. Nếu tất cả năng lượng của ta được
đầu tư vào sự nhận biết, vào chánh niệm thì yếu đuối và hôn
trầm sẽ được thay bằng sự sáng suốt và nhận biết mạnh
mẽ.
Đặt tất cả nổ lực của ta vào sự nhận biết là
cách khác để làm phát sinh hỉ-lạc trong hơi thở. Vì năng lượng của tâm
trí tương đương với hỉ-lạc. Vậy nếu chưa thấy Hỉ-Lạc xuất hiện thì
có lẽ rằng ta chưa hướng nổ lực tránh xa chủ nhân tác hành (the doer) để tập
trung vào sự nhận biết.
Con đường đi vào tĩnh lặng
Yên lặng là không có chuyễn động. Cái gì
làm tâm trí chuyển động? “Ý chí” làm tâm trí chuyển động!
Đây là điều tại sao khi ta muốn trải nghiệm sự yên lặng, ta phải loại bỏ tất
cả ý-chí, tất cả tác hành, tất cả kiểm soát.
Ta có thể cầm giữ một chiếc lá trên cây để nó
khỏi lay động, tuy nhiên càng nắm chắt ta càng không giữ nó yên, vì
có vài rung động do chính các cơ rung nhẹ. Nếu ta tránh gió thổi vào
lá thì chiếc lá sẽ tự nó yên lặng. Bằng cách loại bỏ nguyên nhân của
chuyển động, tức là gió, thì chiếc lá sẽ trở về trạng thái yên lặng tự
nhiên.Một cách giống hệt như vậy, ta không thể tạo ra sự tĩnh lặng bằng
cách giữ tâm trí trong nắm tay của ý chí. Nhưng nếu ta loại
bỏ nguyên nhân làm tâm trí dao động, thì chẳng bao
lâu tâm trí sẽ trở về trạng thái tĩnh lặng tự
nhiên.
Vậy ta không thể mong ngóng cho tâm trí tĩnh
lặng. Con đuờng đi tới tĩnh lặng phải ngang qua hỉ-lạc sinh từ buông xả. Một
khi sung sướng đến cùng hơi thở đẹp xuất hiện, ý
chí trở nên dư thừa. Ý chí không cần thiết vì chánh
niệm tự động ở cùng hơi thở, không cần cố gắng. Chánh niệm vui
thú cùng hơi thở nên không cần đến sự ép buộc. Bằng sự xuất
hiện của Hỉ-Lạc vào giai đoạn hơi thở đẹp, ý chí dịu
xuống, nổ lực dịu xuống và tĩnh lặng bắt đầu thể hiện.
Khi tĩnh lặng xuất hiện nó làm tăng
hỉ-lạc. Chính độ sâu của hỉ-lạc lại tạo sự giảm bớt nổ lực và như thế
tĩnh lặng phát triển mạnh hơn. Một vòng năng lượng tự hoàn nghịch được
sinh ra. Tĩnh Lặng làm sâu đậm Hỉ-lạc. Hỉ-Lạc làm tăng trưởng Tĩnh Lặng.
Chu trình này cứ tiếp tục nếu không bị làm gián đoạn. Suốt con
đường đi đến Định Jhana, Tĩnh Lặng sâu lắng và Hỉ-Lạc ngất ngây.
Khi hơi thở biến mất
Khi hơi thở biến mất trước giai đoạn
có hơi thở đẹp, thì đây là trường hợp của lười biếng, hôn
trầm và kém tập trung. Ta phải quay lại các phương pháp căn bản,
làm mạnh thêm sự tỉnh thức trong khoảnh khắc hiện tại và đặt
nhiều năng lượng vào sự nhận biết.
Khi ta đang ở vào giai đoạn hơi thở đẹp, cảm
thấy nhiều sung sướng và không cần mọi nổ lực để giữ chánh
niệm trong một thời gian dài, tâm trí tĩnh lặng
hơn, tri giác về hơi thở trở nên mờ nhạt. Chẳng bao lâu sau
đó, ta không còn cảm nhận được một hơi thở vào, hoặc không biết đoạn
đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối của hơi thở. Lúc này ta chỉ cần cố nhận
biết rằng dường như vẫn có một tri giác không thay đổi
về hơi thở, một trải nghiệm duy nhất rất khó biến đổi từ
khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Điều đang xảy ra là một vài đặc điểm bên
ngoài của hơi thở chẳng hạn như lúc vào, ra, khởi đầu và kết
thúc, đã bị thay đổi vượt quá mức bình thường (transcended).
Tất cả cái ta thấy là “trái tim” của trải nghiệm hơi thở, vượt quá mọi
nhãn mác bên ngoài.
Vì đối tượng thiền định ở đây
là hơi thở rất đơn thuần, nên tĩnh lặng và hỉ-lạc có thể tăng
trưởng rất mạnh. Cứ để chúng tăng trưởng mạnh. Đừng rơi vào cái
bẫy của nghi ngờ, thắc mắc rằng trải nghiệm hơi thở quá mờ nhạt
vậy ta phải quan sát cái gì. Đừng thắc mắc rằng những cảm nhận sự thở
vào thở ra, khởi đầu và kết thúc giờ đã biến mất. Điều này là do
tự nó phải như thế. Đừng quấy rối diễn trình. Khi tĩnh lặng và hỉ-lạc
lớn mạnh, hơi thở sẽ biến mất.
Hơi thở biến mất trong giai đoạn hơi
thở đẹp và chỉ còn lại Cái đẹp. Ta không nhận biết gì trừ Cái đẹp
và hỉ-lạc mà không có tri giác về hơi thở. Đây là một giai đoạn
quan trọng khác diễn ra trong thiền. Nó là một bước gần hơn với Định Jhana.
Sự lắng dịu của các giác quan
Phật giáo luôn mô tả trải nghiệm
qua sáu, không phải năm, giác quan. Đó là thị giác, thính giác, khứu
giác, vị giác, xúc giác và tâm trí. Trong thiền hơi thở,
ta làm lắng dịu bốn giác quan đầu tiên đến mức biến mất, chỉ bằng hơi
thở. Hơi thở bây giờ được trải nghiệm qua xúc giác và tâm
trí.
Khi thiền định tiến triển, xúc
giác dần dần lắng dịu và giác quan tâm trí trở
nên ưu thế hơn. Trong giai đoạn hơi thở đẹp, hơi thở được
trải nghiệm chỉ một phần bởi xúc giác còn lại hầu hết là bởi tâm
trí. Xúc giác góp một tri giác cho hơi thở. Tâm
trí góp một tri giác cho cái đẹp. Khi hơi thở không
còn, có nghĩa rằng ta đã thành công trong việc làm lắng dịu xúc
giác đến mức biến mất. Năm giác quan cuối cùng được vượt
qua. Chỉ còn tâm trí là giác quan sót lại. Và tâm trí tri
giác trải nghiệm hơi thở như cái đẹp.
Thực ra, ta vẫn còn thở trong giai đoạn này,
mặc dù rất nhẹ. Chính vào luc này ta trải nghiệm hơi thở bằng giác
quan tâm trí chứ không bằng xúc giác. Vì trải nghiệm quen
thuộc của hơi thở không còn nữa, ta có thể kết luận rằng hơi
thở đã ngừng lại! Nhưng nó không ngưng lại. Đừng lo lắng. Ta không thể
chết trong giai đoạn này của thiền định! Ta chỉ vừa trải nghiệm hơi thở trong
một cách mới mẻ và tuyệt diệu. Ta trải nghiệm hơi thở chỉ bằng giác
quan tâm trí, và tri giác nó như một niềm hỉ-lạc.
Cũng giống như khi nhìn một viên kim
cương hiếm quí lộng lẫy. Thoạt tiên ta nhận biết hình
dạng, kích thước và các bề mặt của nó. Nhưng có thể, sau một lúc, ta
không tri giác kích thước, hình dạng của nó nữa. Ngay cả khái niệm về
các mặt của viên kim cương cũng biến mất. Tất cả cái ta ghi nhớ, tất
cả cái còn để lại cho ta, giờ chỉ là “ánh chiếu lấp lánh” và vẻ đẹp. Viên kim
cương vẫn ở đó nhưng ta đã tri giác nó một cách mới mẻ và tuyệt
diệu.
Hoặc giống như ví dụ so sánh mà
tôi thường dùng về con mèo Cheshire của Alice trong xứ thần tiên, tác
giả Lewis Carrol. Thoạt tiên, khuôn mặt con mèo Cheshire cười xuất
hiện trên bầu trời xanh. Khi Alice và hoàng hậu Đỏ quan sát hình
ảnh đó, đầu con mèo dần dần biến mất. Sau đó chỉ còn lại cái miệng
với nụ cười dễ mến. Tiếp theo cái miệng cũng biến mất, nhưng nụ cười
vẫn còn lại. Thân xác đã đi nhưng vẻ đẹp còn lại.
Đây là điều tại sao lại xẩy ra như thế, khi
năm giác quan bên ngoài hoàn toàn biến mất và chỉ có giác
quan tâm trí còn lại. Khi ta không quen với những đối tượng tâm
trí thuần khiết, không có mối liên kết với bất cứ gì trong thế
giới vật lý, ta dễ dàng trở nên lẫn lộn. Đức tin hay sự tin
tưởng (saddha) rất cần nơi đây. Nếu tuệ giác, có bởi trải nghiệm, còn
quá yếu, hãy dùng niềm tin để biết, rằng trong giai đoạn hơi thở đẹp, hơi
thở biến mất chỉ để lại cảm giác về sự đẹp và lạc thú, rằng
đó là đối tượng tâm trí thuần khiết mà ta trải nghiệm. Ở lại đây
với niềm tin. Cẩn thận đừng để cái chướng ngại về nghi
ngờ quấy nhiễu sự an bình sung sướng. Ta có thể hình
dung trải nghiệm có nghĩa gì, sau buổi thiền định chứ không phải
là ngay bây giờ. Như đã đề cập nhiều lần rồi, ta nên chờ đến vài phút cuối
cùng của buổi thiền để xem xét lại các trải nghiệm có nhiều ý
nghĩa.
III. TỔNG KẾT PHẦN MỘT
Chương này là một giới thiệu về định
Jhana. Tôi đã đưa ra một lịch sử ngắn gọn về định Jhana và cũng đã khảo
sát vài vấn đề thường được nêu lên về đề tài quan trọng này. Tôi đã
quay lại lần nữa với Hơi Thở đẹp bởi vì nó là nơi bắt đầu của hành
trình đi đến định Jhana. Tôi đã mở đầu về Hơi Thở đẹp bằng lời cổ
vũ quan trọng: đừng sợ cảm giác sung sướng trong thiền
định, vì cảm giác sung sướng chính là loại keo dán sự tập trung
của tâm trí vào hơi thở.
Phần tiếp theo sẽ dẫn chúng ta vào con
đường đi đến các định sâu. Bây giờ ta quay về với cuộc thảo
luận về Nimitta, giai đoạn cuối để nhập vào Định Jhana
(Cập nhật tiếp...)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét