Đức Phật Thích Ca nói pháp gần 50 năm, có đến 84.000 pháp môn, vô lượng diệu nghĩa. Mặc dù giáo pháp nhiều như thế, nhưng không ngoài ba môn chính là "Giới – Định – Tuệ".
Trong "Giới –
Định – Tuệ" thì Giới là phần quan trọng, là phần căn bản. Nhờ Giới,
tâm mới Định, Tâm có Định, Tuệ mới phát sanh, Tuệ có phát sanh mới dứt trừ
được Vô minh phiền não; Vô minh phiền não có dứt trừ
mới minh tam kiên tánh và thành Phật. Nhưng giới cũng có nhiều
thứ: có thứ cao, thứ thấp, có thứ áp dụng cho hàng xuất gia, có
thứ cho hàng tại gia. Trong hàng xuất gia, thì Sa di chỉ
giữ 10 giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Tỳ kheo ni đến 348 giới.
Về phía tại gia thì có Tam quy, Ngũ Giới, Bát quan
trai giới, Bồ Tát giới.
1. Định nghĩa:
Quy-y nghĩa là gì? Quy
là trở về; Y là nương tựa, Quy-y là trở về nương tựa nơi mà mình
đã vì si mê, phóng đãn lìa bỏ ra đi, như đứa trẻ khờ dại đã rời
bỏ cha mẹ để ra đi trong hoan phá, bây giờ biết sự dại khờ
do kinh nghiệm khổ đau, quay trở về nương tựa lại dưới
bóng hạnh phúc và yêu thương của cha mẹ. Chữ Quy-y
nguyên dịch nghĩa là kính vâng hay phục tùng.
Tam bảo là ba
ngôi báu: PHẬT, PHÁP, TĂNG. Quy y Tam Bảo cần phải thực hành cả hai phần
là Sự quy y và Lý quy y.
2. Sự quy y Tam bảo:
Sau khi đã hiểu
rõ thế nào là Quy-y Tam bảo, tất nhiên phải thực
hành sự hiểu biết ấy. Thực hành sự tướng cung
kính, vâng theo Tam-bảo, như thế gọi là sự quy-y Tam-bảo.
- Sự Quy-Y Phật: Hằng ngày chúng ta phải nhớ
tưởng luôn đến Phật, niệm danh hiệu Phật, chiêm ngưỡng tượng
Ngài và nguyện suốt đời theo bước chân Ngài, ấy là sự quy-y
Phật.
- Sự Quy-Y Pháp: Hằng ngày tụng đọc Kinh, Luật,
Luận; sớm hôm hai thời công phu, tìm hiểu nghĩa lý thâm
huyền của Pháp bảo. Khi đọc
tụng Kinh điển tâm trí ta không nghĩ xằn bậy, không nhớ tưởng
những việc không hay, không bàn mưu tính kế để lợi lạc, tổn hại người. Chúng
ta trừ bỏ được dục vọng, sân hận, tâm trí được sáng
suốt, an lành, thanh tịnh.
- Sự Quy-Y Tăng: Thế gian thường nói: "Trọng
Phật, phải kính Tăng". Cho nên, nếu chúng ta thành tâm thờ
Phật bao nhiêu, thì chúng ta phải thật dạ kính Tăng bấy nhiêu.
Người thực hành sự quy-y Tăng, hễ thấy người đầu tròn áo vuông, chân
chính tu hành, giữ gìn giới luật, thì liền kính nể, quý
trọng, xem như đó là vị đại diện cho Đức Phật. Làm như
thế là sự quy-y Tăng.
Tóm lại, thờ
Phật, tụng Kinh, giữ giới, nghiên cứu Phật pháp, kính
trọng Tăng già chân chính, đó chính là sự quy-y tam-bảo.
3. Lý quy y Tam bảo:
Lý là ý nghĩa bên
trong. Lý quy-y Tam-bảo nghĩa là quy-y Tam-bảo trong tâm chúng ta.
Nếu chúng ta chỉ thực hành sự quy-y, chỉ rong ruổi theo
Tam-bảo bên ngoài, mà quên ý nghĩa của quy-y, nghĩa là quên Tam-bảo bên trong
tâm chúng ta thì chúng ta chưa thực hành đúng
nghĩa Tam-quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ
Tam-bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy-y, hay Tam
Tự Quy-Y:
- Tự Quy-Y Phật: Tự nghĩa là mình đối với tự tâm mình.
Tự quy-y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng
suốt của tâm mình, vì mỗi người đều có Phật tánh, và đều có
thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Vậy
thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật
tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên
ngoài; như người có viên ngọc quý, đã có sẵn trong túi áo mà mình không
biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi!
- Tự Quy-Y Pháp: nghĩa là vâng theo Pháp tánh của
mình. Trong tâm ta có đủ tất cả các Pháp: Từ-bi, Trí-tuệ, Bình đẳng,
Sáng-suốt, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn... chúng ta cần phát huy những đức
tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng. Như thế là Tự Quy-Y
Pháp.
- Tự Quy-Y Tăng: nghĩa là vâng theo Thầy trong tâm
mình, Thầy trong tâm mình là đức tánh hòa hợp thanh tịnh của
mình, như Tăng già là hiện thân của sự hòa
hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình mê muội,
không nhận thấy được ông Thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy,
mình nhận thấy được ông Thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải
quy-y Thầy của mình trước đã chứ!
Nói tóm lại, mình
phải nương tựa, quay về với Phật tánh trong tâm mình là
tánh sáng suốt; với Pháp tánh trong tâm mình là các đức tính Từ-bi, Hỷ-xả
v.v..., với Tăng tánh trong tâm mình là sự hòa hợp, thanh
tịnh của bản tâm. Như thế là Lý Quy-Y Tam-bảo.
II. NGŨ GIỚI:
Ngũ giới là năm điều ngăn cấm
mà Phật đã chế ra, để ngăn những tưởng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động
bất chính. Năm điều răn ấy là: Không được giết hại; Không được trộm cướp; Không
được tà dâm; Không được nói dối; Không được uống ruợu. Năm điều này y cứ trên tâm từ bi, bình đẳng trên phương
diện dứt trừ tội lỗi cá nhân và đem lại trật
tự, an vui cho xã hội mà thành lập. Dù là Phật tử hay không là Phật tử
chúng ta vẫn phải thực hiện 5 giới luật cơ bản này để đúng với bản chất làm
Người.
Đức Phật không bắt buộc chúng ta phải triệt
để tuân theo và cũng
không hăm dọa nếu chúng ta không tuân
theo thì phải bị Ngài trừng phạt.
Sự giữ hay không giữ giới là do chúng ta hoàn toàn tự
liệu lấy.
Đạo
Phật khác
với các Tôn giáo khác chính là ở
điểm Đức Phật không phải là một quan
tòa tối cao giữ quyền thưởng phạt.
Một ý nghĩ, một lời nói, một hành động tốt hay xấu chính đã mang theo nó một mầm thưởng phạt rồi. Đức Phật chỉ là một vị dẫn đường rất từ bi và
rất sáng suốt. Ngài chỉ cho chúng ta con đường nào
là con đường sáng và con đường nào là con
đường nguy hiểm không nên đi. Nhưng nếu chúng ta không theo con
đường sáng mà lại muốn đi vào con đường nguy hiểm thì tất nhiên chúng ta sẽ gặp tai
họa tự nhiên, chứ Phật không tạo
ra tai họa để trừng phạt chúng ta.
Tòa án chính là luật nhân quả. Ta làm ác
thì ta chịu quả xấu; ta làm thiện thì ta được quả tốt. Năm giới chính là năm thành trì ngăn chặn cho ta
đừng đi lạc vào đường ác, là năm hàng
rào ngăn chặn cho ta khỏi rơi xuống vực sâu, trong khi ta đi trên con đường giải thoát.
1. Không được giết hại:
Điều ngăn cấm thứ nhất mà Phật khuyên chúng ta, là không được giết sanh mạng, từ loài người cho đến loài
vật. Sanh mạng là một giá trị qúy báu,
nhất là sanh mạng người; giết hại sanh mạng kia để tô bồi cho sanh mạng này là
một điều ác, không hợp lý đạo. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạo ác không kém giết một con người. Nhẫn tâm làm
cho kẻ khác hay vật khác phải giãy giụa, rên siết, quằn quại trong máu đào, trong lệ nóng trước
khi trút hơi thở cuối cùng, là tự giết lòng
từ bi của mình, là bóp chết cái mầm thương
yêu rất quý báu trong tâm hồn chúng ta.
Như thế, khó mà tu hành để thành chánh quả được.
Phật giáo cấm sát sinh bởi lý do:
- Tôn trọng Phật tánh bình
đẳng, sát hại một sinh vật là giết hại Phật tánh
- Mạng sống của con người
là quý báu.
- Nuôi dưỡng lòng từ bi
- Tránh nhân quả báo ứng
oán thù không dức
Những sự lợi ích
của việc không sát sanh:
a) Về phương diện cá nhân: Một người không tàn nhẫn
sát nhân, hại vật, không độc ác làm đổ máu, không lóc da, xẻ thịt,
chặt đầu, thắt cổ thì trong lòng không bức rứt, hối hận, thân tâm được
nhẹ nhàng, thơ thới, giấc ngủ được an lành, nét mặt được hiền hòa, trong
sáng.
b) Về phương diện xã hội: Nếu tất cả nhân loại trên thế
giới này đều giữ đúng giới thứ nhất của Phật dạy đây thì chiến tranh sẽ
không có, mà các nghiệp sanh tử luân hồi cũng đươc giải thoát
Những hạn chế của
việc giết hại:
Vẫn biết giết hại là
tạo nhân khổ, nhưng người tại gia còn ăn mặn, còn làm công việc
kia nọ, thì khó tránh khỏi phạm giới sát. Ở đây không bắt
buộc chúng ta phải giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần
quan trọng là không giết người, và những con vật lớn như: Trâu, bò, ngựa, chó,
heo, gà v.v... Còn những con nhỏ nếu tránh được bao nhiêu quý bấy
nhiêu, chúng ta nên đi từ từ thì chắc ăn hơn. Nhất là không nên giết
hại sinh vật một cách vô lý, giết để thỏa lòng thích giết. Trong
khi giữ giới sát, ta nên đề phòng hai đều sau đây:
a) Không nên để cho ác ý sanh khởi. Giết một con vật
lớn mà vì vô ý hay tự vệ, thì cái quả của nó còn nhẹ hơn là giết một
con chuồn chuồn với cái ác ý muốn giết cho vui tay.
b) Nên tránh sự huân tập trong hoàn
cảnh giết hại: Những đứa bé lên 3, lên 5 ra sân gặp chuồn chuồn, bươm bướm
chụp bắt rồi ngắt cánh, rứt đầu nếu cha mẹ thấy mà không rầy la;
đến 12,13 tuổi, chúng sắm ná, giàng thun bắn chim, đến 20,25 tuổi, chúng đâm
họng heo, giết chó, vẫn không bị ngăn cấm thì sau này, quen với tánh hung bạo,
trong cơn giận dữ, chúng có thể giết người không gớm tay.
Vậy chúng
ta không nên để tự do cho con cái tập quen với sự giết hại sinh
vật, mà cũng không cho chúng xem những cảnh chém giết ở các rạp chiếu
bóng hay ở giữa đời.
2. Không được trộm cướp:
Ai cũng biết trộm cướp là lấy những tài vật
thuộc quyền sở hữu của người, mà không
có sự ưng thuận. Những vật quý giá như nhà
cửa, ruộng vườn, tiền bạc, ngọc ngà... cho đến vật hèn mọn như lá trầu, trái ớt... người ta không
cho mà mình tự lấy đều là trộm cướp, cậy thế ỷ quyền làm tiền kẻ yếu là ăn cướp; bắt chẹt người ta trong lúc túng thiếu để cho vay nặng lời, cầm bán giá rẻ
mạt là ăn cướp; tích trữ đầu cơ để bán giá chợ đen là ăn cướp. Dùng mưu mẹo rình rập, lén lút lấy của người là ăn trộm; cân non, đong thiếu, trốn xâu, lậu thuế, được
của người ta mà không tìm cách trả lại
là ăn trộm... Có thể nói tóm một câu là;
Bất cứ hình thức nào, do lòng tham lam lấy của người bất chính đều là trộm cướp
cả.
Phật giáo cấm trộm cướp với lý do:
- Tôn trọng sự công bằng, bình đẳng, quyền sở hữu của mỗi cá nhân và tập
thể
- Nuôi dưỡng lòng từ bi sẽ khiến cho người khác được an vui
- Tránh nghiệp báo thù oán
Lợi ích của sự
không trộm cướp.
a) Về phương diện cá nhân: Người không
gian tham thì đời sống hiện tại được an ổn, không bị
đòi hỏi, giam cầm, tù tội, đi đâu cũng được người khác tin cậy, giao
phó cho mình những địa vị quan trọng. Người không
gian tham thì đời sau được hưởng phước báu giàu sang, an
vui và con cháu nhiều đời cũng nhờ thừa hưởng âm chất của ông
bà, cha mẹ để lại mà được vinh hiển.
b) Về phương diện đoàn thể: Nếu một ngày nào
trong xã hội không ai có tâm gian tham, trộm cướp thì nhà không
cần đóng cửa, của khỏi lo gìn giữ, vật đánh rơi không mất, thật
không còn gì sung sường hơn! Người ta khổ bởi không có của, nhưng kẻ có
của nhiều cũng vẫn khổ, vì phải lo gìn giữ. Người không trộm cướp tức là
đã âm thầm ban cho người khác sự an ổn rồi.
3. Không được tà dâm:
Tà dâm tức là muốn nói về
sự dâm dục phi
lễ, phi pháp. Luật dạy người xuất gia ly tục phải dứt hẳn dâm dục, còn người tại
gia thì không được tà dục. Khi
vợ chồng có cưới hỏi đủ lễ gọi là chánh; ngoài ra, lén lút lang chạ làm việc phi pháp với người khác phái gọi là tà. Nhưng nếu
vợ chồng chính thức đi nữa, mà nằm
không phải chỗ, gần gũi nhau không chừng mực thì
cũng thuộc về tà dâm cả. Đó là nói về
mặt thô thiển. Nói một cách vi tế hơn, thì phàm những sự phóng tâm đắm
sắc, nghĩ ngợi bất chánh, chơi bời lả lơi, cũng đều thuộc về
loại tà dâm cả.
Phật giáo cấm tà dâm với lý do:
- Tôn trọng sự công bằng
- Bảo vệ hạnh phúc gia
đình
- Tránh oán thù quả báo
sâu nặng
Vì thế nên sự giữ
giới cấm tà dâm sẽ có những lợi ích sau đây:
a) Về phương diện cá nhân:
Kinh Thập Thiện nói: "Người thế
gian không tà hạnh thì được hưởng bốn điều lợi sau:
- Sáu căn (tai, mắt,
mũi, lưỡi, thân, ý) đều được vẹn toàn.
- Trọn đời được người kính trọng.
- Đoạn trừ được hết cả phiền luỵ khuấy nhiễu.
- Cuộc tình duyên trọn đời không ai dám xâm phạm."
b) Về phương diện đoàn thể:
Trong một xã hội mà ai cũng không tà hạnh,
thì gia đình được yên vui hạnh phúc, những sự thương luân, bại
lý sẽ tiêu tan, những cảnh thù hiềm, chém giết sẽ không xảy ra nữa; con
cái được mạnh khoẻ, nâng niu, xã hội sẽ cường thịnh.
4. Không được nói
sai sự thật:
Nói sai sự
thật có bốn cách: Nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai
chiều, nói lời hung ác.
a) Nói
dối hay nói láo: là không nói thật, chuyện có nói không, chuyện
không nói có, việc phải nói trái, việc trái nói phải; điều nghe nói
không nghe, điều không nghe nói nghe; hoặc giả trước mặt khen
dồi, sau lưng chê mạc; hay là khi ưa thì nói dịu ngọt thơm tho, khi ghét lại
đắng cay chua chát. Tóm lại, ý nghĩ lời nói việc
làm trước sau mâu thuẫn, trên dưới khác nhau, trong ngoài bất nhất,
đều thuộc về nói dối cả.
b) Nói thêu dệt:
là việc ít xít cho nhiều, làm cho người nghe nổi sân hận; là trau
tria lời nói, chuốt ngót giọng hay, lên hơi xuống giọng cho êm
tai mát dạ để cám dỗ người nghe, làm cho người say mê đắm nhiễm; cũng
có khi là nói biếm, nói bâm, nói châm, nói chích làm cho người nghe phải khổ
sở. Tóm lại, bao nhiêu lời nói không đúng nghĩa
chân thật, thêm bớt cho đến văn chương phù phiếm, bóng
bẩy làm cho kẻ nghe phải loạn tâm, sanh phiền não, đều gọi là
nói thêu dệt cả.
c) Nói lưỡi hai chiều
hay nôm na hơn là nói "đòn xóc nhọn hai đầu": nghĩa là đến chỗ này
thì nói hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì nói hùa
bên ấy để nói xấu bên này, làm cho bạn bè đang thân nhau trở
lại chống nhau, kẻ ân, người nghĩa chống đối, oán thù nhau.
d) Nói lời hung
ác: là nói những tiếng thô tục cộc cằn chửi rủa, làm cho người
nghe phải đau khổ, buồn rầu, sợ hãi.
Phật giáo cấm nói dối với lý do:
- Tôn trọng sự công bằng
- Bảo tồn sự trung tín
trong xã hội
- Tránh oán thù quả báo
sâu nặng
Lợi ích của sự
không dối trá:
a) Về phương diện cá nhân: Được người trọng
nể, tin cậy, không ai oán hận thù hiềm; đi đâu cũng được người
chung quanh dành cho một địa vị thân tín, niềm nở tiếp đón.
Trong nghề nghiệp làm ăn, người chân thật được nhiều thân chủ và
được giao phó cho nhiều trọng trách quý báu.
b) Về phương diện đoàn thể: Gia
đình và xã hội được đoàn kết trong sự tin cậy. Mọi công
cuộc chung được xúc tiến có kết quả tốt. Đồng bào thương
yêu, thông cảm nhau hơn.
Hạn chế: Nói dối là một tai họa lớn lao, cho
mình và xã hội. Tuy nhiên, cũng có vài trường hợp có thể
tạm nói dối, đó là khi nào vì lòng từ bi mà phải nói
dối để cứu người hay vật. Nói dối phạm tội là
trong trường hợp do lòng tham, sân làm động cơ thúc đẩy. Ngược
lại, nếu do lòng từ bi thúc đẩy mà phải nói dối, thì không phạm
tội.
5. Không được uống rượu:
Tất cả những thứ có chất men làm say người hay
chất độc hại người đều không được uống.
Chính mình không uống đã đành, mà cũng không được ép
nài người khác uống. Ép nài,
khuyến khích người khác uống, tội lại nặng hơn cả chính mình uống nữa.
Lúc lâm bệnh nặng, uống các thứ thuốc
không lành, lương y bảo phải dùng rượu
hòa vào thuốc, thì tạm được dùng. Nhưng trước khi dùng phải bạch cho chúng Tăng biết. Khi hết bệnh, không được tiếp tục uống thuốc có hòa rượu ấy nữa.
Phật giáo cấm uống rượu với lý do:
- Bảo toàn hạt giống trí tuệ
- Ngăn ngừa nguyên nhân sanh ra tội lỗi dẫn đến nghiệp báo khổ
đau
Lợi ích của việc không uống rượu:
a) Về phương diện cá
nhân: Người không uống rượu thì tránh được 10 điều hại vừa kể trên.
b) Về phương diện đoàn
thể: Gia đình được yên vui, con cái ít tật bệnh, xã hội được hòa
mục, nòi giống được hùng cường.
3-1. Định Nghĩa
Bát quan trai
giới là một phép tu hành của người tại gia áp
dụng trong một ngày một đêm (24 giờ).
Chữ "Quan"
là cửa ngăn chặn 8 điều tội lỗi. Chữ "Trai", tiếng Phạn là
Posadha, nghĩa là khi đã qua giờ ngọ (12 giờ trưa) không được ăn nữa.
Vậy "Bát quan trai giới" là sự giữ gìn cho thân
tâm được thanh tịnh trong 24 tiếng đồng hồ bằng cách ngăn chặn 8
điều tội lỗi sau đây:
1. Không được sát
sanh
2. Không được trộm cướp
3. Không được dâm dục
4. Không được nói dối
5. Không được uống rượu
6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
7. Không được nằm ngồi giường cao rộng đẹp đẽ
8. Không được ăn quá giờ ngọ
1. Không được sát sanh
Trong ngày
thọ Bát quan trai, chúng ta hãy tuyệt đối giữ giới không
được sát sanh. Chúng ta không giết hại, không trù tính mưu mô giết hại
tất cả mọi loài sinh vật hữu hình. Hơn nữa, nếu thấy ai có ý giết hại sinh
vật, chúng ta phải khuyên lơn ngăn cản đừng cho người
ta thi hành ác ý ấy.
2. Không được trộm cướp
Trong ngày
thọ Bát quan trai giới, ta không được để cho một ý nghĩ tham
lợi móng lên trong tâm. Chúng ta không trộm cướp, không nghĩ đến
sự trộm cướp, mà thấy ai trộm cuớp hay nảy ra ý trộm cướp thì chúng
ta cũng khuyên can họ, ngoài ra chúng ta còn bố
thí cho những người nghèo khổ, thiếu ăn thiếu mặc, tìm
cách giúp đỡ những người thân thuộc, trong cảnh túng
thiếu.
3. Không được dâm dục
Ngày thọ Bát quan
trai giới, thì tuyệt đối phải giữ giới tịnh hạnh, không
được hành động dâm dục đã đành, mà cũng không được nhớ nghĩ đến những
điều dâm dục.
4. Không được nói dối
Trong ngày
thọ Bát quan trai giới, chúng ta hãy triệt để thực
hành giới cấm này. Chúng ta không nói sai, không
nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác đã
đành; chúng ta lại còn khuyên răn những người chung quanh giữ
đúng giới không nói láo ấy!
5. Không được uống rượu
Trong ngày thọ
"Bát quan trai giới", chúng ta phải trừ tuyệt rượu, không
được uống đã đành, mà còn khuyên răn người khác đừng uống nữa.
6. Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và đi xem múa
hát
Năm giác quan:
tai, mắt, mũi, lưỡi, thân là năm cửa ngõ, có thể mở đường cho chúng
ta đến cảnh giới Niết Bàn hay vào địa ngục. Nếu chúng
ta biết mở năm cánh cửa ấy về nẻo thanh tịnh, nghe những lời
hay lẽ phải, thấy những điều thiện, điều lành, ngửi những mùi
thơm tinh khiết, đạo vị, thì con đường đến Niết
Bàn, giải thoát không xa. Trái lại, nếu chúng ta hướng
những cánh cửa giác quan ấy vào cõi ô trọc, mở rộng chúng
cho tội lỗi ùa vào, nào nghe tiếng du dương luyến
ái của dục vọng, thấy cảnh trụy lạc, dâm ô, ngửi mùi
vị say nồng, kích thích dục lạc, thì con đường địa
ngục đã sẵn sàng mở rộng để đón chờ chúng ta.
Phật cấm Phật
tử trang điểm, tô sơn trét phấn, xức ướp dầu thơm, múa hát lả
lơi, quyến rũ, hay cấm đi xem những cảnh múa hát ấy, là vì muốn
cho chúng ta khỏi đọa vào địa ngục.
Ngày thọ
giới Bát quan trai, chúng ta nhất định không được trang
điểm, xức ướp dầu thơm, múa hát hay đi xem múa hát. Hơn nữa, chúng
ta phải cố gắng diệt trừ những âm hưởng, bóng
dáng của những thứ nghệ thuật không lành mạnh, trong đầu
óc chúng ta.
Được như thế, thì
tuy thời gian chỉ ngắn ngủi có 24 giờ, ảnh hưởng tốt
đẹp của nó vô cùng quý báu cho sự tu
hành của chúng ta.
7. Không được nằm ngồi giường cao đẹp, rộng lớn
Điều răn cấm này cũng
như điều răn cấm thứ sáu, có mục đích ngăn ngừa thân xác ta,
không cho buông lung theo những cảm giác mơn
trớn khoái lạc của giường cao nệm tốt, chăn ấm màn êm. Vì những cảm
giác này có thể kích thích lòng ham muốn bất chính của xác
thân, tạo điều kiện cho chúng ta gây tội lỗi, nên Phật
chế ra giới cấm này. Ngày thọ giới Bát quan trai, cũng
phải triệt để thi hành giới thứ bảy này.
8. Không được ăn quá giờ ngọ
Trong luật Phật dạy:
"Chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn
sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối, chư Tăng học theo Phật,
phải ăn đúng giờ ngọ".
Ăn đúng giờ ngọ,
được năm điều lợi sau đây:
Ít mống tâm sai
quấy
Ít buồn ngủ
Dễ được nhất tâm
Ít hạ phong
Thân được yên ổn và ít sanh bệnh
Trừ một
vài trường hợp như khi đau ốm, luật cũng châm chước cho được ăn cơm
cháo sau giờ ngọ, nhưng khi ăn phải sanh lòng hổ thẹn.
Phật tử tại gia,
khi tu Bát quan trai giới cũng phải giữ đúng giới này.
Những ngày thọ Bát
Quan Trai giới, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người, trong mỗi
tháng thọ từ một ngày cho đến sáu ngày: mồng 8, 14, 23, 29, 30 (tháng
thiếu thì 28 và 29). Nếu người mắc làm việc thì thọ ngày chủ nhật cũng được.
Nếu Phật tử mỗi lần phát nguyện tu trong 24 giờ, giữ trai
giới cho thanh tịnh thì công đức ấy về sau sẽ được vô
lượng vô biên phước lợi.
Thực hiện:
- 6 giờ sáng Thọ giới
- 7 giờ sáng Ăn điểm tâm
- 8 giờ sáng Sám
hối
- 9 giờ sáng Xem Kinh
- 10 giờ sáng Niệm Phật
- 12 giờ Thọ Trai
- 12 giờ 30 Kinh hành niệm Phật
- 13 giờ 30 Chỉ
tịnh (nghỉ)
- 15 giờ Tụng Kinh
- 16 giờ Xem Kinh
- 17 giờ Niệm Phật
- 18 giờ Dùng nước (sữa hoặc nước cháo)
- 19 giờ tối Tịnh
độ
- 20 giờ tối Học (nghiên cứu kiinh điển)
- 22 giờ tối 15 Quán sổ túc
- 22 giờ 40 tối Nghỉ (ngủ)
- 4 giờ sáng Tịnh Niệm (Niệm Phật )
- 4 giờ 30 sáng Công phu
- 6 giờ sáng Làm lễ xả giới
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét