by Bhikkhu Brahmavamso
Translate into Vietnamese by Phạm Doãn
PHẦN III
I. CÁC BẬC THIỀN ĐỊNH.
Không có ý nghĩ, không
có ý chí, không có nhận thức thời gian.
Kể
từ lúc nhập vào Định, ta sẽ không còn tự chủ nào nữa. Ta không thể
tác lệnh như lúc bình thường. Cái ý nghĩ “Ta sẽ làm gì tiếp?”
không thể xảy ra. Khi cái Ý Chí dùng để kiểm soát biến mất,
thì cái mệnh đề hình thành khái niệm về tương lai: “Tôi sẽ” cũng biến mất. Khái
niệm về thời gian ngừng lại trong trạng thái Định.
Trong trạng thái Định ta không thể quyết định làm cái gì tiếp.
Thậm chí ta còn không thể quyết định khi nào thì xuất ra khỏi định.
Chính cái vắng mặt của Ý chí và cái hậu sinh của
nó là Thời gian làm cho Định Jhana có tính “ổn định vô thời gian”
(timeless stability), làm cho trạng thái Định kéo dài, đôi
khi an lạc đến hàng giờ.
Ý thức bất nhị
Bởi
vì lúc đó định nhất tâm (onepointedness, ekaggata) quá mạnh, sự tập
trung được cố định, chúng ta sẽ không còn khả năng đối chiếu trong trạng
thái Định Jhana. Nhận thức có được nhờ so sánh, liên hệ điều
này với điều kia, nơi này với nơi khác. Trong Định Jhana, tất cả nhận
thức có đuợc chỉ là an lạc bất nhị, bất động, thụ động,
chẳng còn chỗ nào để khởi sinh sự đối chiếu. Giống như trong một trò chơi
đánh đố, ta được cho xem một bức hình của một vật rất quen thuộc, nhưng lại
được chụp dưới một góc độ lạ, rồi phải đoán xem nó là cái gì? Rất khó để nhận
ra một vật nếu ta không thể dịch chuyển hay xoay đầu để nhìn nó dưới góc độ
này hay góc độ khác. Khi khả năng so sánh đối chiếu mất đi thì sự nhận
thức cũng không còn. Vì vậy, trong Định Jhana, ta không những chẳng
có cảm giác về thời gian mà còn chẳng còn biết cái gì đang
xảy ra! Đến một lúc ta sẽ chẳng biết ta đang ở trong cái Định gì. Tất cả cái ta
biết là an lạc tràn ngập, không dời chuyển, không thay đổi, trong những
khoảng thời gian không biết được.
Sự nhận biết về An
Lạc không dời đổi
Mặc
dầu không có năng lực nhận thức trong Định Jhana vì do
không có khả năng đối chiếu, nhưng ta chắc chắn không rơi vào một
cơn hôn mê. Chánh niệm của ta tăng lớn đến mức sắc bén thực sự kinh
ngạc. Ta thức tỉnh toàn diện. Chỉ có chánh niệm không dời
đổi. Nó như đóng băng lại. Và sự tịch lặng của siêu chánh niệm, sự tỉnh
thức của định nhất tâm hoàn hảo, làm cho Định Jhana hoàn
toàn khác với tất cả những gì ta từng biết trước đây. Đây không
phải là vô-thức. Đây là Ý thức bất nhị. Ta chỉ biết một điều, đó là sự an
lạc không dời đổi.
Sau
đó, khi ta đã xuất khỏi Định Jhana, cái định nhất tâm tích lủy của ý
thức rời ra. Khi định nhất tâm yếu đi, năng lực so
sánh tái phục hồi, tâm trí lại có thể dịch chuyển như
cũ. Tâm trí có lại không gian cần thiết cho sự so
sánh và hiểu biết. Ý thức bình thường đã trở lại.
Ngay
khi vừa thoát khỏi Định Jhana, ta thường quen nhìn lại xem cái gì đã
vừa xảy ra và ôn lại trải nghiệm đó. Định Jhana là những biến cố rất
mạnh mẽ, chúng thường lưu lại ấn tượng không phai trong kho
chứa kí ức của ta. Sự thực ta sẽ không bao giờ quên chúng mỗi khi ta còn sống.
Chúng rất dễ gợi nhớ lại với đầy đủ các chi tiết sau khi ta xuất
định. Bằng cách ôn lại ngay sau đó, ta có thể nhận biết các chi
tiết đã xảy ra trong Định Jhana và ta biết Định Jhana có những gì. Hơn thế
nữa, thông tin thu thập được từ Định Jhana hình thành nên cơ sở của Tuệ
giác, đó chính là Giác ngộ.
Năm giác quan hoàn
toàn đóng lại.
Đặc
tính lạ lùng phân biệt Định Jhana với tất cả các trải nghiệm
khác là trong trạng thái Định Jhana, năm giác quan hoàn
toàn đóng lại. Ta không thể thấy, ta không thể nghe, ta không thể ngửi, nếm
hay xúc chạm. ta không thể nghe tiếng chim hót, tiếng người khác ho. Ngay cả nếu
có tiếng sét đánh gần bên, ta cũng không thể nghe trong trạng
thái Định Jhana. Nếu ai đó vỗ vai ta, kéo ta dậy hay đẩy ta nằm
xuống, ta cũng không thể biết gì trong Định Jhana. Tâm
trí trong trạng thái Định Jhana tách biệt hoàn toàn với
năm giác quan. (Tuy vậy âm thanh có thể khuấy động Sơ thiền,
mỗi khi ta nhận biết tiếng động tức là ta không còn ở trong định
nữa.)
Một
người cư sĩ đệ tử có lần đã nói với tôi rằng ông ta đã “trúng
mánh” một định Jhana rất sâu khi ở tại nhà. Bà vợ tưởng ông ta chết, bèn gọi xe
cứu thương. Ông được xe cứu thương đưa nhanh tới bệnh viện trong tiếng còi hụ inh
ỏi. Tại phòng cấp cứu, không thấy nhịp tim trên Điện tâm đồ. Vì thế bác
sĩ đặt máy khử rung lên ngực ông để kích hoạt tim. Mặc dù bị nảy lên, nảy
xuống, trên giường bệnh vì shock điện, xong ông ta đã chẳng cảm thấy điều
gì! Khi xuất khỏi định trong phòng cấp cứu một cách hoàn
toàn ổn, ông ta chẳng biết mình đến đây như thế nào, chẳng biết
xe cứu thương, còi hụ hay máy kích tim làm nảy tung người. Trong suốt thời
gian dài đó ông ta trụ trong Định Jhana, ông ta biết rõ nhưng biết chỉ duy
nhất một điều, đó là an lạc. Đây là một ví dụ thế nào là sự tắt
năm giác quan trong trải nghiệm Định Jhana.
Tổng kết những chuẩn mốc
của tất cả các Định Jhana
Rất cần
thiết phải biết trong Định Jhana:
-
Không có khả năng để tư duy
-
Không có ý chí cho bất cứ tiến trình nào
-
Không có nhận thức về thời gian
- Ý
thức có bản chất bất nhị khiến không thể nhận thức.
-
Ta rất rất tỉnh táo nhưng chỉ biết có an lạc, một an lạc không
dời chuyển
-
Năm giác quan đóng lại hoàn toàn, chỉ có thức thứ sáu
là tâm trí hoạt động.
Đây
là những đặc tính của Định Jhana. Vì vậy trong một cơn định
sâu, nếu ta có phân vân rằng đây có phải là định hay không? Thì câu trả lời chắc
chắn là không. Chẳng thể nào có suy nghĩ như vậy được trong cái
tĩnh lặng của Định Jhana. Những đặc tính như vậy sẽ được nhận
ra khi ta xuất khỏi định bằng cách dùng chánh niệm xét duyệt lại
lúc tâm trí ta có thể nhúc nhích được.
II. SƠ THIỀN- Định Jhana thứ
nhất
Sự dao động (Tầm
và Tứ)
Tất
cả các Định Jhana hầu hết là trạng thái an lạc không dời chuyển. Tuy
nhiên trong Sơ Thiền có một vài chuyển động phân biệt được.
Tôi gọi chuyển động này là “dao động” của Sơ Thiền. Ta cảm nhận được an
lạc quá lớn, quá mạnh, làm giảm đi phần bản ngã thuộc về ý
chí và hành động. Trong Định Jhana ta bị điều khiển một cách tự động, lúc
đó ta không có cảm giác bị điều khiển. Tuy nhiên an lạc quá
ngọt ngào nó có thể sinh ra một chút trói buộc. Tâm trí, chứ không phải
người làm (doer), bám víu vào an lạc một cách bản
năng. Bởi vì cái an lạc của sơ thiền là do sự buông xả,
nên sự bám víu thụ động như thế làm an lạc giảm đi.
Nhưng khi thấy an lạc giảm đi thì tâm trí lại tự động buông
xả sự bấu víu để an lạc tăng lên trở lại. Cứ như thế, tâm
trí nắm rồi buông.
Chuyển
động vi tế và thụ động như thế làm phát sinh ra dao động của sơ
thiền.
Diễn
trình này có thể nhận biết theo một cách khác. Khi an lạc suy
yếu vì sự nắm giữ thụ động, có vẻ giống như chánh niệm dời
xa an lạc một khoảng cách nhỏ. Sau đó tâm trí tự động buông
xả giúp kéo chánh niệm vào trong an-lạc. Sự chuyển động đến
gần rồi rời xa an lạc là một cách thứ hai để mô tả sự dao
động của sơ thiền.
Sự dao
động này, sự thực là một cặp yếu tố của sơ thiền, gọi là Tầm
(vitakka) và Tứ (Vicara). Tứ là cái bấu víu thụ động vào an lạc.
Tầm là cái dịch chuyển tự động trở về an lạc. Nhiều nhà chú giải giải
thích cặp đôi Tầm-Tứ như là ý nghĩ tiên khởi (initial thought)
và ý nghĩ duy trì (sustained thought). Trong những giải
thích khác cặp đôi này có thể được ám chỉ như là “ý nghĩ”. Trong
Định Jhana chúng chắc chắn có nghĩa gì đó khác hơn nữa.
Không
thể một hoạt động lớn như tư duy lại có thể tồn tại trong
một trạng thái tinh ròng như Định Jhana.
Thực
ra, tư duy ngưng lại từ lâu trước khi ta nhập định. Trong Định
Jhana, Tầm và Tứ đều nằm dưới ngưỡng diễn đạt bằng lời (sub-verbal)
nên không có phẩm chất như một ý nghĩ. Tầm là vận động “không thể
nói ra”(sub-vebal) của tâm trí khi nó quay lại với an-lạc. Tứ
là vận động “không thể nói ra” (sub verbal) của tâm trí để
giữ yên trong an lạc. Lúc bên ngoài Định, những vận động như thế
của tâm trí thường hình thành nên ý nghĩ và đôi khi có thể
nói ra được. Nhưng khi ở trong định, Tầm và Tứ quá mờ nhạt để đủ tạo thành
ý nghĩ. Chúng chỉ có thể làm chánh niệm trở lại với an-lạc
và giữ chặt chánh niệm ở đây. Vận động này là dao động của sơ
thiền, biểu hiện bằng một đôi thiền chi: Tầm và Tứ.
Định nhất tâm (ekaggata,
tâm nhất điểm, one-pointedness)
Yêu
tố thứ ba của Định Jhana là định nhất tâm (Ekaggatha). Ta gọi “định
nhất tâm” là cái chánh niệm thật nhọn sắc tập trung trên một
vùng hiện hữu rất nhỏ. Nó có tính nhất điểm trong không
gian bởi vì nó chỉ thấy một điểm nguồn của tịnh-lạc cùng với một vùng rất
nhỏ quanh tịnh-lạc, tạo nên bởi sự dao động của sơ thiền. Nó có
tính nhất điểm trong thời gian bởi vì nó chỉ tri giác cái
khoảnh khắc hiện tại, rất đặc trưng và chính xác, toàn bộ nhận
thức thời gian biến mất hoàn toàn. Nó có tính nhất điểm
trong hiện tượng vì nó chỉ biết cái đối tượng tâm trí của hỉ-lạc
và hoàn toàn không biết gì đến cơ thể vật lý cùng thế
giới của năm giác quan.
Một
định nhất tâm về không gian như thế tạo ra trải nghiệm đặc
biệt, chỉ thấy trong Định Jhana, về ý thức bất nhị, cái đã được giải
thích chi tiết trong phần trước. Ý thức bất nhị xác nhận tính
đặc trưng của Định Jhana, nơi mà ta hoàn toàn nhận biết nhưng chỉ
về một điều duy nhất, dưới một góc độ duy nhất, trong một khoảng
không có thời gian. Ý thức quá tập trung vào một đối tượng khiến
cho khả năng nhận thức bị tê liệt. Chỉ đến khi định nhất
tâm tan biến dần, lúc ta xuất ra khỏi định, ta mới lại có thể nhận
ra và thấu hiểu tất cả các đặc tính của Định Jhana.
Định nhất
tâm tạo ra tính bền vững phi thường cho Định Jhana, giúp
nó tồn tại không cần một nổ lực nào trong một thời
gian dài. Khái niệm thời gian dựa trên sự đo đạc các khoảng
cách: từ quá khứ đến hiện tại hay từ hiện tại đến
tương lai. Khi tất cả tri giác có trong Định Jhana chỉ là khoảnh khắc chính
xác của hiện tại thì chẳng còn chỗ nào cho việc đo đếm thời
gian. Tất cả khoảng cách đều khép lại. Thay vào đó là tri giác về cái
không có thời gian và bất động.
Định nhất
tâm trong hiện tượng tạo ra sự an lạc chồng
lên an lạc khác thường không thay đổi suốt thời
gian nhập định. Điều này làm cho sơ thiền trở thành nơi chốn
an nghỉ. Định nhất tâm trong hiện tượng là tác
nhân cho tĩnh lặng tuyệt vời của Định Jhana.
Vậy,
định nhất tâm của sơ thiền được trải nghiệm như
ý thức bất nhị, không có thời gian và tĩnh lặng không cần nổ
lực.
Trong kinh
điển, Ekaggatha danh từ Pali, có nghĩa “trạng thái có đỉnh nhọn”. Chữ Agga (thiếng
Sanskrit là Agra) ám chỉ một đỉnh núi, đỉnh cao của một trải nghiệm,
hay có khi cũng ám chỉ thủ đô của một quốc gia (như Agra,
thủ đô đế chế Mongul ở Ấn Độ). Ekaggatha vì vậy không chỉ có
nghĩa “một hay vài đĩnh điểm cũ” mà ám chỉ sự tập trung độc nhất vào
những gì vượt lên cao hay thăng hoa. Đỉnh cao duy nhất, sự tập trung của định nhất
tâm trong Sơ thiền, là hạnh phúc tối thượng của hỉ-lạc (pitisukha).
Hỉ-Lạc (Pitisukha)
Hai yếu
tố cuối cùng của Sơ Thiền là Hỉ (piti) và Lạc (sukha). Tại
đây tôi xem xét chúng cùng với nhau bởi vì chúng là đôi nốt
đan gần nhau. Sự thực chúng chỉ tách rời trong Tam Thiền, khi đó Hỉ tắt đi
để lại mình Lạc góa bụa. Chỉ vậy, sau đệ Tam Thiền ta mới biết bằng
trải nghiệm thế nào là Hỉ và thế nào là Lạc. Ở đây chỉ cần giải
thích cặp hỉ-lạc như một thực thể.
Hai yếu
tố cuối cùng của Sơ Thiền gọi là Hỉ-Lạc ám chỉ đến
an-lạc (bliss), đối tượng của sự tập trung, và tạo thành trung tâm của
trải nghiệm gọi là Sơ Thiền. An-lạc là khía cạnh nổi trội của Sơ Thiền đến
mức nó trở thành điều đầu tiên nhận ra khi ta nhớ lại
lúc xuất định. Những truyền thống thần bí ngoài Đạo Phật đã
từng bị trùm phủ bởi cái rộng lớn kì dị, bởi trạng thái vô ngã, tĩnh
lặng, xuất thần, cực đỉnh và tinh khiết, siêu thế của Sơ
Thiền, khiến trong suốt lịch sử họ đã mô tả lại trải
nghiệm như là trạng thái “Hợp nhất với Thượng Đế”.
Tuy
nhiên, Đức Phật đã giải thích đây chỉ là một dạng của an-lạc siêu
thế gian và vẫn còn các trạng thái khác cao siêu hơn nữa! Khi trải
nghiệm Định Jhana, người Phật tử phải biết rằng có nhiều mức độ của
an-lạc siêu thế (supramundane). Sơ thiền là mức độ thứ nhất.
Tuy vậy sau Sơ thiền ta không nhận thức được một trải nghiệm
an-lạc hơn thế!
Các
mức độ an-lạc khác nhau có một”mùi vị” khác nhau. Sự khác biệt về chất lượng
làm chúng phân biệt với nhau. Chất lượng khác biệt của an-lạc có thể
được giải thích bằng các nguyên nhân khác nhau của chúng.
Ví dụ như cái nóng của mặt trời có chất lượng khác với cái nóng của củi
lửa, và cái nóng của củi lửa lại có vị khác biệt với cái nóng từ lò sưởi. Vì thế,
an-lạc do các nguyên nhân khác nhau có các điểm đặc trưng khác nhau.
Đặc
tính phân biệt của an-lạc sơ thiền là nó hình thành bởi sự vắng
mặt của năm giác quan. Khi năm giác quan đóng lại, kể cả
các vọng âm của năm giác quan đã biểu hiện thành tư tưởng,
ta rời bỏ thế giới của cơ thể và vật chất (Kamaloka) để bước
vào thế giới của tâm trí thuần túy (Rupaloka). Tình huống
này giống như quẳng đi một gánh nặng to lớn. Ngài Ajahn Chah thường mô
tả nó giống như khi ta chịu đựng một sợi dây trói chặt cổ trong
một thời gian dài, nhưng vì quen thế nên chẳng nhận ra sự đau
đớn. Rồi bất ngờ áp lực giảm xuống, sợi dây được tháo ra. An lạc mà
ta cảm nhận giống như hiệu ứng khi khối nặng biến mất đi! Giống như vậy, an
lạc của sơ thiền được tạo bởi sự biến mất hoàn toàn sợi
dây trói chặt, có nghĩa tất cả cái ta cưu mang là thế giới. Một tuệ
giác như thế về nguồn gốc của an lạc trong sơ thiền sẽ
là nền tảng cho ta thấu hiểu Diệu Đế về Khổ.
Tổng kết về Sơ Thiền
Định Sơ
Thiền được phân biệt bằng năm yếu tố, được thu gọn thành
ba:
1+2
: TẦM (Vitakka)- TỨ (Vicara): Trải nghiệm như sự dao động, chuyển động an
lạc vào-ra thật vi tế, khó biết.
3
: ĐỊNH NHẤT TÂM (Ekaggatha): được trải nghiệm như bất nhị,
không có thời gian và tĩnh lặng
4+5: HỈ-LẠC
(Pitisukha): trải nghiệm như an lạc vượt qua mọi thứ
trong thế giới vật chất và tăng cường bởi sự siêu
việt thế giới ấy sang thế giới tâm trí tinh ròng.
III. NHỊ THIỀN – Định
Jhana thứ hai
Giảm dần dao động
Như
đã giải thích khi mô tả Định sơ thiền, Tầm và Tứ là sự
nắm bắt an lạc không chủ ý, khiến chánh niệm bị dời
chuyển. Tầm (Vitakka) là động tác tự động của tâm trí quay về trụ
trên an lạc.
Khi sơ
thiền sâu hơn, sự dao động giảm dần và an lạc được củng
cố. Ta tiến đến trạng thái mà Tứ (vicara) vẫn đang nắm giữ an lạc bằng
sự cầm nắm nhẹ nhàng, nhưng điều này không đủ để tạo nên sự bất ổn định của
an-lạc. An-lạc không suy giảm vì Tứ, chánh niệm cũng không
dời chuyển khỏi nguồn. An-lạc quá mạnh, Tứ không thể quấy nhiễu nó
được. Mặc dù Tứ vẫn đang hoạt động, không có Tầm, không có hoạt động của tâm
trí quay về nguồn của an-lạc. Sự dao động không còn nữa.
Đây là trạng thái định mà kinh điển mô tả không có Tầm
mà chỉ có một chút Tứ (ví dụ: DN 33.1.10.50, AN 8’s.63). Điều này gần với Nhị
thiền hơn là sơ thiền, và thường là nghiêng về mô tả Nhị
thiền.
Khi an
lạc mạnh dần lên và ổn định vững chắc. Tứ không còn nhằm mục
đích duy trì cái gì nữa. Thì lúc này, tâm trí trở
nên hoàn toàn tự tin đủ để đạt đến một buông thả (letting
go) tuyệt đối. Với sự buông thả cuối cùng này, tự tin sinh ra từ
sự bền vững của an-lạc, Tứ (Vicara) biến mất, ta chính thức bước
vào Nhị Thiền.
Khía
cạnh đặc trưng thứ nhất mà kinh điển mô tả về Nhị Thiền là
Avitakka và Avicara có nghĩa là không có Tầm, không có Tứ. Trong trải nghiệm,
điều này có nghĩa không còn dao-động trong tâm trí. Khía cạnh thứ
hai là “Ajhattam Sampasadanam” có nghĩa là tự tin bên trong. Trong trải nghiệm,
điều này mô tả sự tự tin hoàn toàn vào tính ổn định của
an-lạc, đây chính là nguyên nhân làm cho Tứ dừng lại.
Định nhất tâm hoàn
hảo của Tâm trí.
Khía
cạnh đặc trưng thứ ba của Nhị thiền là Cetaso Ekodibbavam, có nghĩa
là định nhất tâm hoàn hảo của tâm trí. Định nhất
tâm tuyệt đối hoàn hảo của tâm trí là đặc trưng nổi
bật trong trải nghiệm Nhị thiền. Lúc đó không còn có bất kì dao-động
nào, tâm trí giống như một tảng đá, vững chắc như một ngọn
núi và cứng hơn kim cương. Sự hoàn hảo của tĩnh lặng tuyệt
đối thật lạ thường. Tâm trí ở trong an-lạc mà không có một rung
động nhẹ nào.Điều này về sau ta biết là thuộc về một tính chất hoàn
hảo gọi là Samadhi (Định).
Samadhi
(Định) là năng lực duy trì sự chú tâm. Trong nhị thiền,
sự chú tâm này duy trì trên đối tượng mà không còn bất cứ dịch
chuyển nào. Không có cả những dao động vi tế. Ta bị cố định, bị đóng
thành băng cứng, bị dán cứng bằng một loại keo thượng hạng. Không còn khả
năng để run. Tất cả cái làm khuấy động tâm trí đều mất. Không có sự
tĩnh lặng nào hơn trạng thái này, Nó gọi là Samadhi hoàn hảo, nó
không chỉ đặc trưng cho Nhị thiền mà còn cho các định Jhana ở mức độ
cao hơn.
Sự an-lạc sinh từ Định (samadhijam
pitisukha)
Chính
vì Định (samadhi) hoàn hảo này mà an lạc của Nhị thiền có
cái hương vị duy nhất. Khối nặng có trong Sơ thiền, cái đã biến mất
trong nhị thiền, là nguyên nhân gây chuyển động. Tất cả đều đứng
yên tuyệt đối trong Nhị thiền, kể cả Người biết (knower). Sự
tĩnh lặng tuyệt đối đó vượt qua cái đau khổ vốn
sinh ra từ chuyển động của tâm trí, và nó cũng bộc lộ niềm an-lạc
lớn hơn, cái sinh ra bởi định tinh ròng. Trong kinh điển, an-lạc của Nhị
thiền được gọi là hỉ lạc sinh từ Định (ví dụ: ON 9.11). An-lạc
đó sung sướng hơn an lạc khi vượt qua thế giới của
năm giác quan. Ta không thể hình dung trước cái an lạc như
thế. Nó hoàn toàn là một loại khác. Sau khi trải nghiệm Nhị thiền,
biết được hai loại an lạc siêu thế cực kì hiếm hoi, ta bắt đầu
phân vân rằng còn có những mức độ an lạc nào khác ở phía trước không.
Ta cân nhắc đâu là giới hạn của an lạc!
Sự chấm dứt tất cả
hành động.
Khía
cạnh nổi bật khác của Nhị thiền là trong Nhị thiền tất
cả mọi “hành động” hoàn toàn chấm dứt, kể cả hành động không chủ
ý làm cho dao-động xuất hiện cũng hoàn toàn biến mất,
chủ nhân của hành động (doer) đã chết. Chỉ khi nào từng trải nghiệm Nhị
thiền, ta mới biết rõ ý nghĩa của danh từ “chủ nhân của hành động”
(doer). Giống như con nòng nọc chỉ hiểu rõ ý nghĩa của từ “Nước”
khi nước không còn lúc con nhái lần đầu trải nghiệm với đất khô. Trong Nhị
thiền “chủ nhân của hành động” đã ra đi. Không còn gì hết. Chỉ còn lại
cái tuyệt đối tĩnh lặng. Hơn nữa, dường như có cái gì đó quá rõ
ràng đối với ta, đó là phần thiết yếu nhất trong cái ta vĩnh hằng, cái gọi
là “chủ nhân của hành động” bây giờ đã bị loại bỏ hoàn
toàn khỏi hiện hữu của ta. Chủ nhân của hành động dường như rất rõ
ràng trong hiện tại này, bỗng biến thành ảo tượng, ảo
giác! Đi qua Nhị thiền, ta có khả năng phát hiện ra cái ảo
tưởng rằng bản ngã chính là chủ nhân của hành động.
Ta xuyên thấu cái ảo tưởng về “ý chí tự do” bẵng những dữ
liệu lấy từ trải nghiệm sinh động. Triết gia nào kết luận “Hiện
hữu là hành động” có lẽ chưa từng biết trạng thái của Nhị thiền.
Trong Nhị thiền “being” is (through knowing), but “doing” is not. Những
tầng thiền thật quái lạ. Chúng thách thức những trải nghiệm bình thường.
Nhưng chúng thực, rất thực hơn thế giới. Hơn nữa, Nhị thiền và
các điều trên đã mở khóa cái ý nghĩa về trạng thái vô-ngã,
Anatta.
Tổng kết về nhị
thiền
Nhị
thiền tức Định Jhana thứ hai, được phân biệt bởi tập hợp các đặc
trưng như sau:
1+2
: Không có Tầm (avtakka)- Không có Tứ (Avicara), Tự tin bên trong (Ajhattam
sampasadanam): Trải nghiệm như sự giảm dần “dao động” của Sơ thiền bằng
sự tự tin bên trong khi duy trì tính ổn định của an-lạc.
3
: Định nhất tâm hoàn hảo của tâm trí (Cetaso
Ekodibbavam): nhờ ở sự tự tin hoàn toàn trong an lạc. Điều này
thường được mô tả trong trải nghiệm như “tĩnh lặng giống đá cứng”,
cái chết tạm thời của “chủ nhân của hành động” hay sự toàn hảo của định.
4
: An-lạc sinh ra từ Định (Samadhijam Pitisukham): là đối tượng
được tập trung trong Nhị thiền, loại an lạc siêu thế này
sinh ra khi tất cả các vận động của tâm trí đã chấm dứt.
5
: Sự chấm dứt tất cả các tác hành: là kết quả khi “chủ nhân của
hành động” đã ra đi hoàn toàn.
IV. TAM THIỀN – Định
Jhana thứ ba
Khi
định (samadhi), sự tĩnh lặng của Cái Biết (the knowing), trở nên lâu
dài hơn, thì sự tĩnh lặng của cái được biết (the known) cũng sâu lắng hơn.
Phải biết rằng trong định Jhana, cái được biết chính là hình ảnh của
tâm. Tâm (Citta) và tâm trí (mind) là Cái Biết. Nói cách khác, trong
định Jhana Cái Biết biết hình ảnh của chính nó. Thoạt
tiên Cái Biết trở nên yên tĩnh, kế đó hình ảnh của nó, tức Cái
được biết, dần dần cũng trở nên vắng lặng.
Trong
hai loại định Jhana đầu tiên, hình ảnh của tâm trí được nhận
biết như một an-lạc, mà đến tận bây giờ ta gọi là hỉ-lạc. Trong Tam
thiền, hình ảnh của tâm trí đi đến một mức độ kế của tĩnh lặng
và đạt tới một kiểu an lạc hoàn toàn khác, một loại mà ta chưa từng
biết đến trước đây bao giờ.
Hỉ đã biến mất
Trước
khi đến định Jhana, tất cả các an-lạc đều có điểm chung cũng như có khác biệt về mùi
vị tạo ra bởi các nguyên nhân khác nhau. Điểm chung đó là sự phối
hợp giữa hỉ và lạc. Bởi vì chúng luôn ở bên nhau, không thể tách biệt như
đôi sam. Không chỉ vô nghĩa mà còn không thể, nếu nói về chúng một
cách tách biệt. Chính về điểm phối hợp này, cho mãi tới tam thiền,
tất cả an lạc đều có một chất lượng chung. Ngay khi đến tam thiền,
Hỉ biến mất chỉ còn lại Lạc, tạo nên một loại an lạc rất khác biệt.
Chỉ
sau khi có trải nghiệm với Tam thiền, ta mới có thể biết Lạc là gì, và qua
mối liên hệ với Lạc, ta có thể biết Hỉ là gì. Hỉ biểu hiện như phần
“thô nặng” của an lạc, chữ thô nặng (burdensome) này mang nội dung của phần
thô nặng trong Nhị thiền. Lạc là phần tinh ròng hơn. Trong Tam thiền,
cái an-lạc được nhận biết trong Nhị thiền bị phân rã, để chỉ
còn lại duy nhất yếu tố Lạc.
Chánh niệm vững mạnh,
Cái Biết rõ ràng và Xả niệm thanh tịnh
Cũng
như các tầng thiền định khác, những trải nghiệm gần như
không thể mô tả được. Tầng thiền jhana càng cao, trải nghiệm
càng sâu đậm và càng khó chuyển đạt thành lời. Ngôn ngữ của
các trạng thái này rất xa với thế gian. Bằng cách suy rộng,
ta có thể nói an-lạc của định Tam thiền thanh thản hơn, yên tĩnh
hơn và tinh khiết hơn. Theo kinh điển, nó đi cùng với các yếu
tố niệm (sati), tỉnh giác (sampajanna, hiểu biết rõ
ràng) và xả (upekkha). Tuy nhiên kinh Bất Đoạn (MN 111) nói
các phẩm tính này có trong tất cả các bậc thiền. Có lẽ kinh điển nhấn
mạnh các đặc tính này là phẩm chất của Tam thiền nhằm mục
đích chỉ ra rằng trong những bậc thiền rất sâu này ta đặc biệt chánh
niệm, hiểu biết rất rõ ràng (tỉnh giác) và rất an
tĩnh khiến ta có thể quan sát bất động. Đây là nguồn gốc của ý
nghĩa chữ Xả (upekkha).
Tĩnh lặng như đá và vắng
mặt chủ thể tác hành (doer)
Tam
thiền vẫn duy trì định hoàn hảo, tĩnh lặng như đá, không có
chủ thế tác hành và năm giác quan cô lập với thế giới bên
ngoài. Tuy nhiên nó phân biệt với Nhị thiền bằng bản
chất của an lạc, cái an lạc đó vượt lên một đẳng cấp khác
và thể hiện như một chủng loại an lạc khác hẳn. Hơn thế nữa, kinh
điển mô tả Tam thiền qua cách diễn đạt của Đấng
Thế Tôn: “as one who abides in bliss (in the third jhana) mindful, just looking
on” (DN 9.12)
Tổng kết đệ tam thiền
Đệ
tam thiền có những đặc tính như sau
An-Lạc
tách ra,mất đi phần thô nặng đó là Hỉ.
An-Lạc
còn lại là Lạc (sukkha), thể hiện phẩm chất của chánh niệm mạnh
mẽ, hiểu biết rõ ràng và cảm giác chỉ quan sát mà
không tham dự.
Giống Nhị
thiền ở trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối như đá và không
có mặt chủ thể tác hành.
V. ĐỆ TỨ THIỀN – Định
Jhana thứ tư
Lạc biến mất!
Khi
sự tĩnh lặng của Người biết làm an tĩnh cái bị biết, thì an-lạc, vốn
là đặc điểm chính của ba loại định jhana trước đây, lần nữa lại thay
đổi khi ta bước vào định thứ tư. Chính tại lần này, nó thay đổi một cách gốc rễ.
Lạc (sukkha) không xuất hiện nữa. Nó biến mất hoàn toàn. Bây giờ
chỉ còn là một Người biết, tĩnh lặng tuyệt đối, nhìn về một cái
cũng tuyệt đối tĩnh lặng.
Sự hoàn hảo của an
bình (peace)
Từ
góc nhìn của đệ tứ thiền, tình trạng an lạc của các định
jhana trước đó được xem là cái chuyển động còn sót lại của đối tượng tâm
trí, và là một cái khổ (affliction) che dấu một cái gì đó lớn hơn.
Khi an lạc giảm dần, tất cả còn lại là trạng thái an
bình sâu thẳm. Trạng thái an bình này là dấu xác nhận của đệ
Tứ thiền. Tại đây không có chuyển động, không có phát tán. Không có gì hạnh
phúc, cũng không có cái đối nghịch của nó là khó chịu. Ta cảm nhận một cân bằng hoàn
hảo chính ngay trung tâm của tâm trí. Giống như trong mắt
bão cyclone, không có gì khuất động trong trung tâm của con mắt
tâm trí. Có một cảm giác hoàn hảo tại đây, hoàn hảo của
sự tĩnh lặng và hoàn hảo của sự nhận biết.
Đức
Phật mô tả định thứ tư là sự thanh tịnh của niệm, chỉ
có nhận biết mà không có sự tham dự hay can thiệp vào
(just looking on, upekkha sati parisuddhim) theo DN 9.13.
An
Bình của đệ tứ thiền không giống với bất cứ an
bình nào trên thế giới này. Nó chỉ có thể nhận biết được
sau khi ta đã đi qua trải nghiệm của những định jhana trước đó. Các trải nghiệm
đã đi qua đó, là cách duy nhất để xác nhận, rằng trạng
thái an bình bất động mà ta cảm nhận đó chính là của định thứ
tư. Hơn thế nữa trạng thái của định jhana thứ tư rất tĩnh lặng, khiến
ta có thể an trụ trong đó hàng giờ. Dường như ta không có thể trải nghiệm đệ
tứ thiền trong khoảng thời gian ngắn hơn.
Hỉ
và Lạc, cả hai đều ngừng lại trong đệ tứ thiền, chỉ còn lại sự hoàn hảo của an
bình. Một trải nghiệm như thế, khi ta hồi tưởng lại, sẽ biết ra đó là
một sung sướng tối thượng. Mặc dù tất cả an lạc đều biến mất,
cái an bình (peace) hoàn hảo của đệ tứ thiền được
xem là cái an lạc (bliss) hơn tất cả. Đó là cái an lạc không
có gì an lạc hơn. Đây không phải là cách chơi chữ để cố tỏ
ra thông minh hơn hay thần bí hơn. Nó chính là như vậy.
Tổng kết đệ tứ thiền
Đệ
tứ thiền có đặc tính như sau
Lạc
(sukkha) biến mất
Cảm
nhận về một an bình hoàn hảo, không biến đổi và
trong thời gian thật dài sau khi đi qua ba định jhana thấp hơn.
Tĩnh
lặng tuyệt đối như đá và không có chủ thể tác hành như định thứ
hai và thứ ba.
Năm giác
quan và cơ thể được tách biệt hoàn toàn với thế giới bên
ngoài.
VI.
Một so sánh của Đức Phật khi nói về đệ Tứ thiền
Ví
dụ của Đức Phật dùng so sánh về đệ tứ thiền
Đức
Phật đã từng mô tả trải nghiệm về bốn bậc thiền bằng cách dùng
ví dụ kiểu so sánh cho từng mỗi bậc thiền (MN 39. 15-18, MN 77.25.28
v.v…). Trước khi giải thích các ví dụ so sánh này, ta cần
nên dừng lại để làm rõ nghĩa một từ chủ yếu đã được dùng trong tất cả
các so sánh, đó là “Thân” (kaya). Từ “thân” (kaya) gần như đồng nghĩa
với từ “body” trong tiếng Anh. Nhưng từ “thân” có thể ám chỉ nhiều
thứ khác hơn là thân thể của con người, chẳng hạn như “cơ thể của
bằng chứng” (body of evidence). Cũng như vậy chữ Kaya trong Pali có thể mang
nhiều ngfhĩa hơn là một cơ thể vật lý, chẳng hạn như thân của các yếu
tố tâm trí, nama-kaya (DN 15.20). Trong các định jhana, năm giác
quan không còn hoạt động, có nghĩa là không có trải nghiệm của một cơ
thể vật lý. Cơ thể đã bị vượt qua. Do đó tất cả điều Đức Phật nói
trong bốn ví dụ so sánh “…vì thế không có phần nào của toàn
thân hành giả mà không ngập tràn (bởi an lạc v.v…)” thì điều
này có thể được hiểu như “…vì thế không có phần nào thuộc toàn thể trải
nghiệm của tâm trí mà không ngập tràn (bởi an lạc v.v…)”
(MN 39.16). Điểm này thường dễ bị lầm lẫn.
Ví
dụ của Đức Phật để so sánh với định jhana thứ nhất (sơ thiền)
là một nắm đất sét hình tròn (dùng làm xà bông tắm), với độ ẩm vừa
đúng, không quá khô cũng không nhão nước. Nắm đất sét ví dụ cho toàn thể tâm
trí, trong đó Niệm được giới hạn trong vùng rất nhỏ tạo bởi “sự dao động”.
Độ ẩm ướt ví dụ cho cái an lạc tạo bởi sự tách biệt hoàn
toàn của năm giác quan với thế giới bên ngoài. Sự ẩm ướt
thấm đẫm vào nắm đất sét ám chỉ an lạc thấm đẫm khoảng không
gian và thời gian của trải nghiệm tâm trí. Điều này về sau
được nhận biết như là an lạc tiếp nối an lạc, rồi lại
tiếp thêm an lạc, không ngừng nghỉ. Sự ẩm ướt không rò rỉ diễn tả an
lạc luôn luôn nằm trong khoảng không gian tạo bởi sự dao
động, không thoát ra ngoài vùng không gian tâm trí để
vào thế giới của năm giác quan suốt trong thời
gian định jhana diễn tiến.
Đệ
nhị thiền giống như một hồ nước, không có đường dẫn nước vào, nhưng
có một mạch suối ở giữa, làm đầy hồ bằng nước mát. Hồ nước được ví
cho tâm trí. Sự không có phương tiện nào để nước từ bên
ngoài có thể vào hồ, mô tả sự cách ly của tâm trí trong Nhị
thiền với các ảnh hưởng từ bên ngoài. Không có một chủ thể tác
hành nào có thể đi vào một tâm trí như thế. Sự cô lập kín hoàn
toàn các tác nhân từ bên ngoài như thế tạo ra sự tĩnh lặng như
đá của định Nhị thiền. Nguồn suối bên trong cung cấp mạch nước
mát tượng trưng cho sự tự tin bên trong (ajjhattam sampasadanam) của
hỉ-lạc trong trạng thái nhị thiền. Sự tự tin bên trong tạo
ra buông xả hoàn toàn, làm dịu tâm trí thành tĩnh lặng
và giải phóng tâm trí khỏi tất cả mọi chuyển động. Sự dịu
mát tượng trưng cho an lạc, sinh ra từ định hay sự
tĩnh lặng, thấm ngập toàn bộ trải nghiệm tâm trí, không thay đổi trong
suốt thời gian của định.
Đệ
tam thiền được mô tả bằng ẩn dụ của một hoa
sen lớn lên bằng nước mát của hồ. Hoa sen tượng
trưng cho tâm trí trong định thứ ba. Nước có thể làm mát cánh
sen hoặc lá sen nhưng không thể vào hoa sen, bởi vì tất cả nước
đều trôi tuột khỏi hoa sen. Sự mát mẻ tượng trưng cho Lạc,
sự ẩm ướt tượng trưng cho hỉ. Giống như khi hoa sen trầm
vào nước, tâm trí của Tam thiền được làm mát dịu bởi lạc
nhưng không bị hỉ thâm nhập. Tâm trí của tam thiền chỉ
trải nghiệm lạc. Trong tam thiền, tâm trí tiếp tục trải
nghiệm tĩnh lặng như đá, không di động ra ngoài, giống như ví dụ hoa
sen luôn luôn ngâm mình dưới nước. Giống như an lạc của Tam
thiền duy trì trong tâm trí, nước mát, tượng
trưng cho an lạc, làm hoa sen lớn lên. Lần nữa cái an
lạc duy nhất của Tam thiền thấm đẫm toàn bộ trải
nghiệm tâm trí từ đầu đến cuối, giống như nước thấm mát hoa
sen từ gốc tới ngọn.
Đệ
Tứ thiền được so sánh như là một người đàn ông trùm vải trắng từ
đầu đến chân. Người đàn ông ám chỉ tâm trí. Tấm vải trắng ám chỉ sự tinh
khiết hoàn hảo của Niệm và Xả niệm thanh tịnh, đó là dấu ấn của Tứ
thiền. Tâm trí trong Tứ thiền không nhiễm ô, không chấm
bẩn giống như một tấm vải sạch, tĩnh lặng hoàn hảo và chỉ
quan sát mà không tác ý, tinh ròng, đơn thuần. Dĩ
nhiên trạng thái tinh ròng tuyệt đối của bình
an này thấm đẫm toàn thể của trải nghiệm tâm trí, từ lúc khởi
đầu đến chung cục, giống như tấm vải trắng hoàn toàn bao phủ người
đàn ông từ đầu đến chân.
Đây
là bốn ví dụ so sánh của Định Jhana theo như cách tôi hiểu.
VII. DI CHUYỂN TỪ ĐỊNH NÀY
SANG ĐỊNH KHÁC
Như
tôi đã nói ở trên, khi ta đang ở trong một định nào đó, ta không có thể làm một
động tác nào. Ta không thể tính toán một quyết ý để chuyển
từ một định này sang một định khác. Ta cũng không thể quyết định để
xuất ra. Những quyền kiểm soát như thế đã bị phế bỏ trong trạng
thái định. Hơn thế nữa, cái tĩnh lặng cực kì của tâm trí trong định
đã làm đóng băng hoạt động tâm trí. Khi đang trong định jhana, ta khó
có thể cảm nhận trải nghiệm của ta. Những chuẩn mốc của định jhana chỉ có thể
được nhận ra lúc về sau khi xuất khỏi định và nhớ lại. Vậy trong bất
cứ định jhana nào, không những ta không thể tác ý mà còn không thể biết
ta đang ở đâu, nơi nào ta di chuyển tới! Thế thì việc di chuyển từ
định này sang định kia xảy ra như thế nào?
Ngôi nhà với bốn phòng
Hãy
tưởng tượng một ngôi nhà có bốn phòng với chỉ một cửa vào. Đi qua cửa ta vào
phòng thứ nhất. Ta phải đi qua phòng thứ nhất để vào phòng thứ hai, qua phòng
thứ hai để vào phòng thứ ba, qua phòng thứ ba để vào phòng thứ tư. Để đi ra khỏi
phòng thứ tư ta phải vào phòng thứ ba, rời phòng thứ ba ta phải đi ra
phòng thứ hai, rời phòng thứ hai ta phải đi ra phòng thứ nhất, rời khỏi phòng
thứ nhất ta phải ra đi qua cái cửa mà ta đã đi vào. Giả sử sàn của
các phòng đều trơn không thể nào tạo thêm sức bên trong căn nhà. Vì vậy nếu
ta vào nhà chỉ bằng một chút lực, ta sẽ trợt và dừng lại tại phòng thứ nhất. Với
một lực đi vào mạnh hơn, ta có thể ngừng lại ở phòng thứ nhì, hay
phòng thứ ba. Với một lực đi vào mạnh hơn nữa ta có thể tới được
phòng thứ tư.
Một
ví dụ so sánh như vậy diễn tả rõ cách di chuyển từ
định này sang định kia thực sự xảy ra như thế nào. Trong định jhana không
có sự tự chủ, giống như sàn nhà trơn khiến không thêm được lực đi
vào. Nếu ta vào cửa của định với lực nhỏ, ta sẽ dừng lại tại sơ thiền. Với
lực lớn hơn, ta sẽ tới được Nhị thiền hay Tam thiền. Và với lực
vào mạnh hơn nữa ta có thể đạt đến Tứ thiền. Lực đi vào chỉ
có thể tạo ra ở ngoài định, lúc sự tự chủ còn có thể. Loại “lực” được
đề cập ở đây là lực của sự buông xả (letting go)
“Buông xả” được nuôi dưỡng trước
khi nhập vào định
Sự buông
xả được nuôi dưỡng trước khi nhập vào định đến mức nó trở
thành một khuynh hướng tự động của tâm trí, một khuynh hướng tự
nhiên mạnh mẽ. Nếu ta đi vào cửa của định với với “lực buông xả”
không đủ mức, ta sẽ dừng lại ở Sơ thiền. Với lực buông xả tự động
mạnh hơn, ta sẽ đạt tới Nhị thiền hay Tam thiền. Với một thế lực
rất mạnh của sự buông xả, ta sẽ đạt tới Tứ thiền. Tuy
nhiên ta không thể làm tăng sức mạnh của sự buông xả trong
khi đang ở trong định. Khi ta đi vào với sức lực nào ta sẽ
chỉ có như thế.
Nhớ lại trải nghiệm về sự an
lạc
Ta
có thể nuôi dưỡng “lực buông xả” ngoài trạng thái định bằng
cách ôn lại những trải nghiệm về an lạc và bằng cách nhận biết những chướng
ngại gọi là dính mắc. Khi tâm trí nhận ra hạnh phúc của trạng
thái buông xả là siêu vượt thế nào, thì sự buông xả phát
triển hơn. Đôi khi tôi cũng dạy cái tâm trí ngoan cố của tôi bằng
cách nghĩ rằng:” Tâm trí, xem này, xem biết bao an lạc trong trạng
thái của buông xả! Tâm trí! Đừng quên nhe tâm trí! Nhớ nhé, đồng
ý không? Rồi thì tâm trí học được cách buông xả mạnh mẽ
hơn. Hoặc tâm trí có thể nhận biết những chướng ngại đối
với sự an lạc sâu là các mức độ khác nhau của dính mắc, cái sẽ ngăn
chặn sự buông xả và cản trở an lạc. Khi tâm trí học
bằng cách ôn lại, nhận biết các kẻ thù của hạnh
phúc –tức cái dính mắc- thì khuynh hướng buông xả trở nên mạnh
hơn nhờ trí tuệ. Đây là cách ta có thể nuôi dưỡng sức mạnh của buông
xả ngoài trạng thái định, để có thể nhập định với sự buông
xả mạnh mẽ hơn, nhằm đạt đến một định jhana sâu hơn.
Mỗi định lại nằm trong một định
khác
Cách
khác để biết cách ta di chuyển từ định này sang định khác là ví
dụ so sánh hoa sen nghìn cánh. Mỗi cánh trong hoa
sen nghìn cánh mở ra theo thứ tự, kế tiếp một cách chặt chẽ, chỉ
sau khi được mặt trời hơ ấm. Sơ thiền được so
sánh với những cánh hoa hàng thứ 993. Ngay khi hàng cánh thứ 993, được hơ ấm
bởi mặt trời, giữ và che dấu bên trong hàng cánh hoa thứ 994,
thì cái Sơ thiền hiếm hoi và mong manh được hơ ấm bởi sự buông
xả, giữ và che bên trong cái Nhị thiền vốn có nhiều an lạc hơn.
Khi hàng cánh hoa thứ 993 mở ra, thì hàng cánh hoa thứ 994 xuất hiện trong trung
tâm của nó. Cùng một cách như vậy khi Sơ thiền mở ra thì Nhị
thiền xuất hiện tại trung tâm của nó. Như vậy Nhị thiền thực
sự nằm trong Sơ thiền, và Tam thiền nằm trong Nhị thiền, Tứ
thiền nằm trong Tam thiền.
Bằng
cách nhìn khác, trong ví dụ căn nhà có bốn phòng, các phòng đồng tâm. Như vậy
ta không thể đi ra khỏi Sơ thiền để đi vào Nhị thiền. Thay
vì thế ta phải đi sâu hơn vào Sơ thiền để vào Nhị thiền, sâu hơn
vào Nhị thiền để đến Tam thiền, và sâu hơn vào Tam thiền để
đến Tứ thiền. Mức độ kế tiếp của định luôn luôn nằm bên trong của
định hiện tại.
Năng lực của Nguyện
Khi
ta đã có thật nhiều kinh nghiêm với định jhana, ta có thể di chuyển từ
định này sang định khác bằng cách sử dụng năng lực của Nguyện
(Aditthana). Trong bài viết này, chữ Pali Aditthana biểu thị cho cách
lập trình tâm trí của người phật tử. Lúc khởi đầu thiền định,
ta có thể lập trình tâm trí để nhập vào một định đặc biệt nào
đó trong một khoảng thời gian đã lập trình trước. Tuy nhiên, điều
này chỉ thực hiện được với ai đã rất quen thuộc với đích đến
và rất quen với con đường đó. Đây là phương pháp được sử
dụng bởi nhiều người thực hành thiền đã hoàn thiện. Giống
như ta lập chế độ bay tự động sau khi cất cánh. Tuy nhiên đối với
ngay cả những người hành thiền thành thạo, để đi đến một định đặc biệt nào
đó, lộ trình phải luôn giống như cũ. Ví dụ, nếu ta lập trình tâm
trí đi vào Tam thiền, thì lộ trình bắt buộc phải đi qua Sơ thiền,
rồi qua Nhị thiền để đến Tam thiền. Tuy vậy, ta có thể đi qua những trạng
thái định thấp hơn một cách thật nhanh.
VIII. ĐẠT CÁC ĐỊNH VÔ SẮC
Trong
ví dụ hoa sen nghìn cánh đã nêu trên, hàng cánh hoa thứ 993 biểu
thị cho Sơ thiền, hàng thứ 994 biểu thị Nhị thiền, hàng thứ
995, 996 biểu thị Tam thiền và Tứ thiền. Tuy
nhiên bạn có thể thắc mắc hàng thứ 997,998, 999 và 1000 biểu thị cho
cái gì?
Vượt
quá bốn định Jhana là bốn chứng đạt vô sắc giới. Rất cần phải chú
thích rằng, trong kinh điển, Đức Phật không gọi những chứng đạt
này là Định (Jhana). Chỉ trong các chú giải, biên tập hàng ngàn
năm sau này, mới gọi chúng là các Định (Jhana).
Bốn chứng đạt vô sắc là:
Cơ
sở tâm trí Không vô biên xứ (the mind-base of unlimited-space)
Cơ
sở tâm trí Thức vô biên xứ (The mind-base of un-limited
consciousness)
Cơ
sở tâm trí Vô sở hữu xứ (The mind-base of nothingness)
Cơ
sở tâm trí Phi tưởng phi phi tưởng xứ (The mind-base of neither
perception nor non-perception)
Cũng
như Tứ thiền nằm bên trong Tam thiền, chứng đạt vô sắc thư
nhất nằm bên trong Tứ thiền, chứng đạt vô sắc thứ hai nằm trong
chứng đạt vô sắc thứ nhất, và cứ như thế giống như những hàng cánh của hoa
sen tàn. Vậy, Bốn chứng đạt vô sắc có những đặc tính của
các định jhana.
Giống
như ba định jhana đầu tiên lấy các hình thái khác nhau của an lạc làm
đối tượng và định Tứ thiền lấy trạng thái thăng hoa của an
bình tinh khiết làm đối tượng, mỗi một trong các chứng đạt vô sắc lấy
một đối tượng thuần túy tâm trí làm đối tượng. Tôi gọi
các tri giác về những đối tượng này là những “cơ sở tâm trí” (mind
bases) bởi vì chúng là các nền tâm trí mà trên đó các chứng đạt vô
sắc tựa vào. Khi các “nền tâm trí” bất động này càng tinh ròng
và trống rỗng thì các chứng đạt vô sắc càng cao.
Trong Tứ
thiền, chánh niệm rất mạnh, yên tĩnh, chỉ quan sát
cái an bình hoàn hảo ngoài thế giới của năm giác
quan và định chính xác tại một điểm. Trong trạng
thái nhất định tâm cực đỉnh, những khái niệm thông thường thuộc thế
gian được vắt sạch và thay vào đó là các tri giác không thuộc thế
gian.
Ví
dụ, khi người hành thiền ở những giai đọan đầu của thiền định trở
nên hoàn toàn tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, định nhất
tâm trong thời gian, những khái niệm thường có về thời
gian bị loại bỏ và được thay bằng những tri giác về thời
gian không thuộc thế gian. Khi ta tập trung hoàn toàn vào
khoảnh khắc hiện tại, một mặt ta nhận thấy không có thời
gian trôi qua, một mặt ta lại thấy dường như ta trải qua tất cả thời
gian của thế giới. Trong cái điểm tuyệt đối của “bây giờ”, thời
gian không có rìa cạnh, không xác định được và không đo đếm được. Cùng một
lúc nó là vô tận và trống không. Nó không có giới hạn (ananta).
Trải nghiệm về nhất định tâm trong thời gian, được thấy rất sớm
trong thiền, có thể là chìa khóa để thấu hiểu cái cảm giác đồng thời của vô
tận và hư không, trong những trạng thái sâu hơn của nhất
định tâm, gọi là các chứng đạt vô sắc.
Kể
từ đệ Tứ thiền, tâm trí có thể nhìn vào an bình hoàn hảo để tri
giác cái “định nhất tâm tuyệt đối trong không gian”. Đây là
một trong những đặc điểm của đệ Tứ thiền, nó luôn có thể quán
sát như vậy, và nó là cửa dẫn vào các chứng đạt vô sắc. Trong định nhất
tâm tuyệt đối này, không gian được tri giác với cả
hai tính chất vô biên và hư không, một loại không
có không gian. Bởi vì vật chất (rupa), cái luôn có giới hạn không
gian, được tri giác như trống rỗng, chứng đạt này và những chứng đạt tiếp
theo được gọi là các chứng đạt vô sắc (arupa).
Cơ sở tâm trí của Không
vô biên xứ
Chứng
đạt vô sắc thứ nhất là cơ sở tâm trí về không
gian vô tận, được tri giác như cả hai yếu tố vô tận và
trống rỗng, không đo lường được và không xác định được. Đây là tri
giác tràn đầy trong tâm trí và kéo dài không gián đoạn trong
một thời gian dài. Chánh niệm, mạnh mẽ, yên tĩnh, tinh khiết, quan
sát trên tri giác này vơi sự hài long.
Cơ sở tâm trí của Thức
vô biên xứ
Trong tri
giác của không gian vô biên, là tri giác về sự “không
có không gian” và về một “không gian đã mất ý nghĩa của nó”.
Khi tâm trí theo dõi đặc điểm này trong chứng đạt vô sắc thứ
nhất, không gian biến mất và được thay bằng tri giác về một nhất
định tâm tuyệt đối của ý thức. Giống như phần trên, về trải
nghiệm thông thường của nhất định tâm trong thời gian,
trong trạng thái tri giác về nhất định tâm
trong ý thức, ý thức đồng thời cảm nhận vô tận và
trống rỗng, không đo lường và xác định được. Ta đã đi vào chứng đạt vô
sắc thứ hai về cơ sở trí tuệ của thức vô biên xứ. Đây
là tri giác hoàn toàn tràn ngập tâm trí và tồn tại không
thay đổi trong một thời gian dài hơn các trạng thái trước.
Cơ sở tâm trí của vô
sở hữu xứ
Trong tri
giác của ý thức vô biên xứ có tri giác về sự
“không có ý thức”, về một “ý thức đang mất đi ý nghĩa của nó”.
Khi tâm trí tập trung vào đặc điểm này trong chứng đạt vô
sắc thứ hai, tất cả tri giác về ý thức biến mất. Tri
giác về hình thái vật chất và về không gian đều hoàn
toàn biến mất, và tất cả chỉ còn lại là nhất định tâm về “không
có vật gì”. Ta đã đi vào chứng đạt vô sắc thứ ba của cơ sở tâm
trí Vô sở hữu xứ. Đây là khái niệm hoàn toàn tràn ngập tâm
trí, tồn tại không thay đổi trong một thời gian dài hơn
các trạng thái trước nữa.
Cơ sở tâm trí của Phi
tưởng phi phi tưởng xứ
Trong tri
giác của vô sở hữu xứ là tri giác về không của “không
có gì. Nếu tâm trí đủ tế nhị để thấy đặc điểm này
thì tri giác về vô sở hữu biến mất và thay vào đó
là tri giác về “không có tri giác” cũng không “không có tri giác”. Tất
cả gì mà ta có thể nói về đạt chứng vô sắc thứ tư là như thế, chỉ là
một tri giác (AN 9’s, 42). Trong ví dụ hoa sen nghìn
cánh, trạng thái nàybiểu thị cho hàng cánh hoa thứ 1000, vẫn còn khép
kín, với 999 hàng cánh hoa khác đã mở ra hoàn toàn. Cánh hoa thứ 1000 hầu
như chẳng phải là cánh hoa, là cái tế vi nhất và thăng hoa nhất trong tất cả. Bởi
vì cái mỏng manh như tơ lụa của nó nắm chặt khái niệm nổi tiếng “Châu
ngọc bên trong tim đóa hoa sen”, Níp bàn.
IX. NIẾT BÀN - Sự chấm
dứt mọi tri giác
Trong tri
giác của phi tưởng phi phi tưởng xứ chứa đựng sự chấm dứt của
mọi tri giác. Sự ngừng lại của tất cả những gì được tri giác, Níp
bàn. Khi tâm trí chú ý vào điều này, tâm trí sẽ dừng lại.
Khi tâm trí vận hành trở lại ta đạt được các quả A
La Hán hay A na hàm, đây là các khả năng duy nhất.
Qui trình của sự đoạn tận lần
lượt
Một
cách khác để nhìn các định jhana và bốn chứng đạt vô sắc là đặt chúng
vào qui trình của sự đoạn tận lần lượt. Qui trình dẫn đến Sơ thiền là
sự đoạn tận với thế giới của năm giác quan cùng với cơ thể
và mọi tác hành (doing). Con đường từ Sơ thiền đến đệ
Tứ thiền là sự đoạn tận phần của tâm trí nhận biết sung sướng và
không sung sướng. Con đường từ đệ Tứ thiền đến bốn chứng
đạt vô sắc là sự đoạn tận, hầu hết, các hoạt động còn lại của tâm
trí hay cái tâm trí gọi là “cái biết” (Knowing). Bước sau chót
là đoạn tận vết tích cuối cùng của cái biết. Thông qua tứ thiền (jhana)
và bốn chứng đạt vô sắc, đầu tiên ta buông xả thân thể và thế
giới của năm giác quan. Kế đó ta buông xả chủ thể hành động.
Kế đó buông xả cảm giác sướng khoái và không sướng khoái. Kế
đó buông xả không gian và ý thức. Kế đó buông xả tất
cả Cái biết. Khi ta buông xả một đối tượng, đối tượng biến mất, đoạn
tận. Nếu nó còn ở đó, nghĩa là ta chưa buông xả. Bằng cách buông xả tất
cả Cái biết, cái biết đoạn tận. Đây là sự đoạn tận của tất cả mọi thứ, kể cả tâm
trí. Đây là nơi không có biểu hiện của ý thức, nơi mà đất, nước, lửa gió
không có nơi để tồn tại, nơi mà Danh và Sắc hoàn toàn bị tiêu
hủy (DN 11, 85). Hư không. Đoạn tận. Níp bàn. Ngọc báu trong
tim hoa sen.
Lời cuối
Trong
đoạn bài này về các định Jhana, tôi đã hướng dẫn các bạn qua một hành
trình lý thuyết, bằng cách thực hành lên các rặng núi cao, nơi
có các đỉnh lớn như Định (Jhana) và cao hơn nữa đến các đỉnh hiếm hoi
là các chứng đạt vô sắc. Mặc dù hành trình, trong thời điểm hiện
tại, dường như vượt quá khả năng của bạn. Nhưng trong tương lai, bạn vẫn
có thể thấy chính mình đi trên con đường này. Vì vậy, vẫn
có ích cho bạn ngày hôm nay nếu có sẵn tấm bản đồ này trước mặt.
Hơn
thế nữa, các định Jhana giống như những mỏ vàng to lớn, nhưng chúng chứa những trí
tuệ còn quí hơn bất cứ một loại quí kim nào. Chúng cung cấp những
chất liệu sinh động, những dữ kiện không ngờ. Chúng xây dựng những
tuệ đặc biệt khai mở mắt ta về Nip Bàn. Những Định Jhana là
ngọc báu trang hoàng cho diện mạo Đạo Phật. Hơn thế nữa, không
những chúng chỉ thiết yếu cho trải nghiệm chứng ngộ, mà chúng còn
có thể hiện thực được trong ngày nay!
Tôi kết luận phần này bằng những lời của Đức Phật:
Natthi Jhanam Apannassa
Không
có Định nào mà không có Tuệ
Panna Natthi Ajhayato
Không
có Tuệ nào mà không có Định
Yamhi Jhanan Ca Panna ca
Với
người có cả Định và Tuệ
Sa Ve Nibbana Santike
Họ
đã gần với Níp-Bàn
(Kinh Pháp Cú, đoạn 372)
******************************
This book may be copied or
reprint for free distribution without permission from the publisher.
Otherwise all rights
reserved.
October 2005
THE
JHANAS
An Inward Journey Book
PUBLISHED BY
INWARD PATH PUBLISHER @
House of Inward Journey 35 Lebuh Batu Maung 8, Iping Garden 11960 Bayan Lepas,
Penang, Malaysia Tel / Fax: 04-6264 696
P.O. Box 1034,10830 Penang,
Malaysia
Email: sunanda@pc.jaring.my. sunandahelim@gmail.com. minhhien9911@gmail.com. www.buddhanet.net/ipp.htm
ISBN 983-3512-05-4
(IJ111/05)
COPYRIGHT @ 2005 Ajahn
Brahmavamso
“This book is for FREE
DISTRIBUTION ONLY and printed and published with permission granted by Ajahn
Brahmavamso; and is made available by
Bro Khaw Cheow Poh & Sis
Amy Khaw Mei Chen
Special Thanks to
Ajahn Brahmavamso and all
the donors.
ALL RIGHTS RESERVED
This book had been published
for Free Distribution Only and NOT for Sale.
For additional information,
please contact the author and publisher.
FIRST EDITION: DHAMMA
JOURNAL Vol. 4, No. 1, 2003 (January) published by
Buddhist Society of Western
Australia, Perth, AUSTRALIA
SECOND RE-PRINT: 3,500
copies May 2003 printed by BGF, Selangor, MALAYSIA
REVISED EDITION: 2003
published by Buddhist Fellowship, SINGAPORE
THIS EDITION 2,000 copies
year 2005 Penang
COVER DESIGN & BOOK
LAYOUT BY Sunanda Lim
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét