Thích Nữ Hằng Như
Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation
21
SỐNG
TỪ ĐÂU ĐẾN -
CHẾT ĐI VỀ ĐÂU?
Kiếp sống của mỗi con người sinh ra
ở thế giới Ta Bà này, dù thọ mạng dài hay ngắn, nhìn chung
có thể phân chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn nào cũng nhiều phấn
đấu, tranh đua, lo âu và phiền não. Ngoại trừ thời
gian mới lọt lòng Mẹ, đứa bé chưa biết suy nghĩ, chưa biết phán
đoán. Chỉ cười khóc theo bản năng đòi hỏi của cơ thể, và em bé thường
được Cha Mẹ đáp ứng đầy đủ.
Giai đoạn kế, nếu may mắn được sinh
trong gia đình khá giả các em được cắp sách đến trường. Nếu
không may sinh ra trong gia cảnh nghèo nàn, khó khăn, dù còn rất
nhỏ, ngoài giờ học ở trường các em vẫn phải bương chải ra ngoài xã
hội kiếm sống phụ với gia đình. Đó là chưa nói có rất nhiều em phải
nghỉ học nửa chừng hoặc không được đến trường vì Cha Mẹ không có khả
năng tài chánh. Thời gian này nỗi khổ đã hiện
diện trong cuộc đời của người trẻ dù được sanh trong gia
đình giàu hay nghèo.
Tiếp
theo tạm gọi là giai đoạn của người lớn, lập gia đình, sinh con đẻ
cái, làm việc quần quật kiếm tiền lo cho gia đình, nuôi dạy con
thơ cho đến khi chúng trưởng thành. Cuộc sống gia
đình có lúc vui vẻ hạnh phúc nhưng đa phần trải
qua những phiền não lo âu từ trong nhà ra ngoài cộng
đồng xã hội. Thời gian này con người sống
trong căng thẳng vì lúc nào cũng nỗ lực, bon chen tranh
đấu... hết sức của mình. Có thể những nỗ lực đó là để hướng
tới một mục đích cao thượng, cũng có thể là vì tham
vọng muốn được sự giàu sang về tài sản và danh
lợi cho bản thân mình, gia đình mình. Dù mục
đích tốt hay xấu, ít người nào chịu dừng lại ở một mức độ nào đó, bởi
tiền tài danh vọng nhiều bao nhiêu cũng không lấp đầy túi tham
của lòng người.
Rồi tuổi
già đến lúc nào không hay, bệnh hoạn kéo tới hoành hành thân
xác. Có nhiều người mang căn bệnh thể xác kéo dài dù tuổi đời rất thọ, có nhiều
người tuổi đời còn rất trẻ nhưng lại đột quỵ sớm.
Khi giai đoạn cuối cùng đến, người ta nằm một chỗ thoi
thóp thở. Đến lúc thở hơi ra, mà không hít vào được nữa,
thì trở thành một cái xác bất động, cứng đờ, lạnh lẽo, vô
tri giác. Lúc bấy giờ những người xung quanh dù không muốn cũng
đành phải tuyên bố là người đó đã "chết" rồi,
đã "mất" rồi! Khi nắp quan tài đậy lại, từ giây phút
đó trở đi, không ai còn thấy người đã "chết" rồi,
đã "mất" rồi đó còn hiện diện ở cõi
Ta Bà này nữa, bởi cái xác đó đã được thân nhân chôn vùi dưới
lòng đất lạnh, hoặc đã thiêu đốt thành tro bụi.
Chúng
ta, ai cũng trải qua những giai đoạn nêu trên, nhưng có giây phút
nào chúng ta chạnh lòng tự hỏi: "Mình là ai, từ đâu
đến và sẽ về đâu khi một ngày nào đó mình chết đi?" hay bứt
rứt vì câu: "Tại sao con người lại có mặt
trên thế gian này để một ngày nào đó con người lại phải
chết. Chết là chấm dứt là biến mất khỏi thế gian này, hay
còn có một nơi nào khác để người chết trở về?".
CÁC QUAN
ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ NGUỒN GỐC CON NGƯỜI
Có nhiều quan điểm, học
thuyết khác nhau về sự hiện diện của con người ở
trên thế gian này.
- Những người tôn thờ chủ
nghĩa duy vật thì cho rằng con người đến từ vật
chất và chỉ sống duy nhất một đời hiện tại. Sau cái chết sẽ
không còn gì nữa nên họ sống hưởng thụ không quan tâm gì
đến đạo đức, bởi có gây ra tội ác hay sống thiện lành, sau cùng
cũng đi đến sự chấm dứt là cái chết. Chết là hết thì cần gì phải lo.
- Ở nước Ấn Độ cổ xưa, người ta
tin rằng bên trong thể xác con người có linh hồn trường
cửu. Sau khi chết tiểu ngã hay tiểu hồn của họ sẽ hoà nhập
vào đại ngã Phạm Thiên. Để đạt mục đích đó, ở Ấn
Độ có pháp môn tu khổ hạnh là pháp tu hành hạ
thân xác. Họ cho rằng càng khổ hạnh nhiều chừng nào thì
càng sớm đạt được thượng tâm. Đức Phật cũng đã từng tu
theo pháp môn khổ hạnh này 6 năm dài, và suýt chút nữa Ngài
đã mất mạng do suy nhược cơ thể trầm trọng, rất may nhờ nữ mục
đồng cứu sống bằng một chén sữa cừu.
- Các nhà tôn giáo theo thần
quyền thì cho rằng con người là sản phẩm của Thượng
đế. Thượng đế là đấng tối cao, toàn năng, toàn quyền chẳng
những tạo ra con người mà còn sáng tạo cả thế
gian, vũ trụ. Con người sau khi chết chỉ có hai cảnh
giới để đến. Đó là được lên Thiên đàng nếu ai tin và nghe theo
lời dạy của Thượng đế. Ngược lại kẻ nào thắc mắc không đặt trọn
vẹn đức tin vào Kinh Thánh thì bị xem là con chiên lạc đàn, sau
khi chết sẽ bị đày xuống hoả ngục và bị thiêu rụi đời đời.
-
Còn quan điểm của Phật giáo thì như thế nào? Là người Phật
tử chúng ta đã học qua "Tiến Trình tu chứng và thành
đạo của Đức Phật Thích Ca". Trong đêm cuối
của tuần lễ thứ Tư là đêm Bồ tát thành đạo. Vào canh Một,
Ngài chứng quả Túc Mạng Minh, đạt Trí tuệ hiểu
biết về quá khứ nhiều đời nhiều kiếp của chính Ngài. Canh thứ
Hai, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, đạt được Trí tuệ hiểu
biết về sự luân hồi sinh tử của chúng sanh nhiều
đời nhiều kiếp là do Nhân Quả, nghĩa là đời quá khứ họ
tạo Nhân xấu thì đời này họ sẽ thọ Quả xấu, nếu đời quá khứ họ sống
thiện lương thì đời này họ hưởng Quả tốt. Canh thứ Ba, Ngài chứng Lậu Tận
Minh, là Trí tuệ biết rõ nguyên nhân của luân hồi
sanh tử là lậu hoặc. Lậu hoặc là những thói quen,
những đam mê huân tập từ nhiều đời quá khứ cho
đến hiện tại và tiếp diễn trong nhiều đời ở tương
lai. Lậu hoặc cũng có nghiệp tốt và nghiệp xấu, khiến cho con
người cứ phải luân hồi sanh tử, để thọ Quả do Nghiệp gây ra.
Qua
sự chứng ngộ ba Minh của Đức Phật, cho thấy cái chết
của chúng sanh không phải là dấu chấm hết. Cái chết chỉ là sự bắt đầu
cho một sự sống mới. Sự sống đó được mô tả qua thuyết "Thập
Nhị Nhân Duyên" hay thuyết "Nhân Quả" như
sau:
Thế
nào là Nhân Duyên? Nhân là nguyên nhân, là cái Nhân chính
trực tiếp sanh ra vật khác. Thí dụ như hạt mè là Nhân
trực tiếp sanh ra cây mè, hạt đậu là Nhân trực tiếp sanh ra cây
đậu. Duyên là sự trợ duyên, chỉ cho những vật có tính cách trợ
giúp trực tiếp hay gián tiếp cho Nhân thành hình. Thí
dụ như đất, nước, phân bón, ánh sáng mặt trời và sự chăm sóc của
người làm vườn. Những thứ này đã trợ duyên, giúp đỡ cho các hạt nêu trên
nẩy mầm thành cây.
Vậy "Thập Nhị
Nhân Duyên" là mười hai Nhân cũng là Duyên, mà Nhân này có
mặt sẽ sanh ra Nhân kia. Mười hai Nhân Duyên đó là: Vô minh,
Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu,
Sanh, Lão Tử (xem lại bài Thập Nhị Nhân Duyên).
Ý
nghĩa đại cương của 12 nhân duyên như sau:
1) Vô minh: Là không hiểu
biết như thật về hiện tượng thế gian. Đức
Phật dạy tất cả các pháp có mặt trên thế gian này bao hàm
cả con người do nhiều điều kiện mà thành, tức
không thực chất tính cho nên nó vô ngã. Các pháp
chỉ có mặt khi nhân duyên đầy đủ và nó sẽ hư hoại biến
thành cái khác khi không đủ nhân duyên. Đó là tánh Huyễn của vạn
pháp. Người vô minh không hiểu biết như
thật về hiện tượng thế gian, nên chấp chặt mọi thứ
trên đời là có thật, là thường hằng nên khi những thứ đó mất đi,
thì phiền não, khổ đau.
2) Hành: Bởi vô
minh nên con người thường có những ý nghĩ, lời
nói và hành động tạo nghiệp. Có khi là nghiệp lành nhưng phần
nhiều là nghiệp ác.
3) Thức: Là thần
thức hay tử thức, đó là những lậu hoặc, tập
khí do thân khẩu ý tác tạo, gọi chung là nghiệp. Các nghiệp
này huân tập tạo thành nghiệp lực. Khi chết nghiệp
lực dẫn dắt thần thức đi thọ lãnh quả báo khổ hay
vui ở đời sau.
4) Danh sắc: Con
người có hai phần tinh thần và vật chất. Tinh
thần thì trừu tượng không có hình tướng gồm các khái
niệm: thọ, tưởng, hành, thức gọi chung là Tâm, thuật ngữ nhà Phật gọi
là Danh. Phần thân là thể chất có hình tướng màu sắc có thể
sờ mó được gọi là Sắc.
5) Lục nhập: Là sáu căn:
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu cảnh
hay sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thì lục
thức được phát sinh. Đó là nhãn thức, nhỉ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Lục
thức này tác động vào tâm khiến cho tâm lúc nào cũng dao
động nên gọi là lục nhập.
6) Xúc: Là sự tiếp
xúc của lục căn với lục trần. Thí dụ mắt thấy
cảnh, tai nghe tiếng động, thân cảm thấy mát mẻ, lưỡi nếm vị
ngọt đắng, mũi ngửi hương thơm, ý thích hay không thích một đối tượng nào đó.
7) Thọ: Cảm giác hay cảm
nhận của thân hay tâm. Tâm cảm nhận vui buồn khi lục
căn tiếp xúc lục trần. Thân cảm giác đau nóng khi tiếp
xúc với lửa hay nước sôi.
8) Ái: Là ưa thích.
Khi lãnh thọ cảnh vui thì yêu thích ... đó là sanh tâm tham. Gặp cảnh
không vừa ý, tâm khổ não, không ưa, ghét bỏ... thì sanh
tâm sân hận. Tham ái, khát ái, là nguyên nhân thúc đẩy con
người tạo nghiệp.
9) Thủ: Là bám lấy, giữ lấy. Gặp cảnh
tốt, thì tham cầu giữ lấy. Gặp người mình ưa thích thì
muốn chiếm hữu. Thủ cũng chính là nguồn gốc của tham.
10) Hữu: Là mong muốn hiện
hữu ở đời này để hưởng thụ hay hiện hữu ở một cõi nào đó trong
tương lai. Sự mong muốn này chính là Nhân đưa đến Quả là luân hồi sanh tử.
Hữu cũng có nghĩa là Có. Muốn có mặt ở đời này và muốn sẽ có mặt ở đời lai
sanh.
11) Sanh: Là sanh ra đời, sống và
thọ quả báo trả nghiệp do Ái, Thủ, Hữu là những nhân đời trước gây
ra.
12) Lão tử: Già rồi chết.
Nhìn
chung mười hai nhân duyên này liên kết thành một vòng
tròn luân hồi sinh tử vô tận của con người. Mắc
xích Vô Minh là nguy hiểm nhất. Vì Vô Minh làm cho tâm
trí chúng ta mê muội, không còn sáng suốt phân
biệt đâu là thật đâu là giả. Vì Vô Minh nên hiểu
biết sai lầm về con người và vạn
vật trong vũ trụ, do đó sinh chấp ngã. Có ngã là có Ái. Ái
thì ích kỷ, tham lam muốn chiếm hữu những gì mình yêu
thích, không được thì tâm sân si khởi lên... làm khổ mình khổ người,
tạo nghiệp. Bất cứ nghiệp nào dù tốt hay xấu, một khi đã tạo ra, thì nó
được gìn giữ mãi trong tàng thức từ đời này sang đời khác,
không bao giờ bị mất trừ khi chúng ta phá bỏ Vô Minh.
Nói
theo Khoa học thì những suy nghĩ hay những việc
làm gây ấn tượng tốt hay xấu, mà mình lặp đi lặp lại thường
xuyên thì những ấn tượng này ghi đậm trong Ký Ức Dài Hạn của
mình khó mà quên.
Khi con
người chết thì ngũ uẩn tan rã, thân tứ đại đất, nước,
gió, lửa trở về với tứ đại, còn nghiệp thức thì tiếp
tục bám theo duyên sanh để tái hợp thành một dạng mới tương ứng với Nhân -
Quả đã gieo. Nó chính là nghiệp lực thúc đẩy, dẫn dắt tử thức
đi tái sanh.
Thuyết "Thập Nhị
Nhân Duyên" mô tả sự sống của con
người qua ba đời quá khứ, hiện tại và tương
lai. Con người bị dính chặt trong bánh xe luân
hồi không thoát ra được chỉ vì Vô Minh. Vô Minh sinh ra
Hành, Hành sinh ra Thức, Thức sinh ra Danh Sắc, Danh
Sắc sinh Lục Nhập, Lục Nhập sinh Xúc, Xúc sinh Thọ, Thọ
sinh Ái, Ái sinh Thủ, Thủ sinh Hữu, Hữu sinh Sanh (đời kế
tiếp), Sanh sinh Già Chết. Cứ thế mà cuộc sống tiếp diễn: Sống rồi chết,
chết rồi sống ..., không biết chỗ nào là khởi đầu và cũng không biết chỗ nào
là kết thúc.
SỰ
SỐNG TỪ ĐÂU ĐẾN, CHẾT ĐI VỀ ĐÂU THEO GIÁO
LÝ NHÀ PHẬT?
Khi có sự giao hợp giữa
nam và nữ trong thời kỳ người nữ có thể thụ thai, hợp duyên sanh khởi
cùng với nghiệp lực của đứa bé đã tạo từ kiếp trước sẽ hình thành trong thai
mẹ. Trong bụng mẹ, thai sinh thu hút tinh huyết làm nhục thể, và sau
đó tâm thức hoà hợp cùng nhục thể hình thành Danh Sắc.
Danh là tâm thức. Sắc là nhục thể. Qua thời gian Danh
Sắc lần lượt tượng hình đầy đủ lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý.
Khi
đủ ngày tháng, thai nhi được sanh ra, lục căn của hài
nhi tiếp xúc với lục trần, do đó hài nhi biết nóng lạnh đau
đớn hay êm ái. Do sự xúc chạm này mà tâm hài nhi dần phát sanh ra
sự phân biệt, rồi từ đó có cảm thọ vui hay khổ. Cảm
thọ vui khổ này phát sanh ra những khởi niệm ưa ghét, thích hay không
thích. Chính sự tham ái đó khiến nó cố thủ, cố bám lấy cái nó ưa
thích và muốn đòi hỏi được thoả mãn những điều ưa thích đó, nên
nó tạo ra nghiệp, mà tạo nghiệp thì phải chịu quả báo.
Câu
hỏi: "Con người từ đâu đến, chết đi về đâu?" có
nhiều cách trả lời, nhưng hợp lý hay không hợp lý là
tuỳ theo quan niệm và đức tin của mỗi người, chúng
ta không bài bác.
CON
NGƯỜI SANH RA DO NHÂN QUẢ
Giáo
lý quan trọng của Phật giáo là Lý Duyên Khởi, là Nhân
Quả, là cái này có cái kia có, cái này sinh cái kia sinh; cái này không cái kia
không, cái này diệt cái kia diệt. Như vậy có nghĩa là chúng ta "gieo Nhân nào
thì nhận Quả đó". Trong đời sống hiện
tại chúng ta đang thọ nhận cái Quả vui buồn, hạnh
phúc hay khổ đau là do chúng ta gieo Nhân làm khổ người hay
mang hạnh phúc đến cho người từ đời hiện tại hoặc đời trước. Và cái
Quả trong hiện tại đời này, nếu không tu tập sửa
chữa thì nó chính là cái Nhân để trổ Quả cho chúng ta nhận trong
tương lai. Con người cứ như thế tương tục mãi không ngừng
hết đời này qua đời khác theo vòng luân hồi của mười hai mắt xích
nhân duyên.
Từ điểm này chúng ta biết rằng con người sinh ra
từ Nhân Quả và không phải chỉ sống một đời trong hiện
tại này, mà đã trải qua nhiều đời trong quá khứ và
trong tương lai còn tiếp nối nhiều cuộc sống khác. Như vậy chết là bỏ
thân xác hiện tại trong đời này để có thân mới trong
đời sống kế tiếp. Nói cách khác sống là thay thân cũ của đời trước để
có thân mới trong đời này. Với con mắt của bậc trí
tuệ thì con người của đời này và con
người của đời sau không phải là một mà cũng không phải là hai, nó
là sự hiện hữu lập đi lập lại của tiến trình tạo nhân và kết quả của nghiệp.
LÀM
SAO THOÁT KHỎI LUÂN
HỒI SANH TỬ?
Đức
Phật dạy con người tu tập để thoát khổ giác
ngộ giải thoát. Giải thoát ở đây là thoát ra khỏi vòng luân
hồi sanh tử. Trong kinh Thánh Cầu, Đức Phật cho biết: "Sanh,
Già, Bệnh, Chết, Sầu Khổ, Ô Nhiễm là những cái tự mình bị
sanh." Cái Bị Sanh này đưa con người vào vòng luân
hồi sanh tử. Khi biết sự nguy hại của Cái Bị Sanh, "Ngài tìm cầu
Cái Vô Sanh". Cái Vô Sanh là trạng thái vô
thượng an ổn khỏi các khổ ách, đó là trạng
thái Niết-bàn.
Trong
canh thứ Ba của đêm thành đạo, Đức Phật đã chứng
quả Lậu Tận Minh, biết như thật con người bị luân hồi
sanh tử là do lậu hoặc tức nghiệp thức gây ra. Như vậy
muốn thoát khỏi luân hồi sinh tử là phải tu
tập làm sao cho sạch lậu hoặc. Trong lậu hoặc có ba căn
bệnh chánh là tham, sân, si. Chúng ta phải tu tập làm sao
để không còn tam độc này ở trong tâm chúng ta nữa.
Bắt
đầu tu tập chúng ta cần phải có Trí năng tỉnh
ngộ học hỏi những điều Đức Phật đã chứng ngộ và
dạy lại chúng ta. Hiểu thấu đáo về những Nhận thức của Đức
Phật để chúng ta có cái nhìn đúng đắn về hiện
tượng thế gian và chính bản thân chúng ta. Chúng
ta phải nhận rõ vũ trụ hay con người đều thuộc
về thế giới của thời gian và chịu ảnh
hưởng của quy luật biến dịch (vô thường), cho nên sự hiện
hữu dài hay ngắn, đều phải trải qua chu kỳ thành, trụ, hoại,
diệt, để trở thành cái khác (khổ) và tất cả đều là do Duyên sanh hợp
lại cấu thành nên vũ trụ và con người, không có một chủ thể bất biến tự ngã nào
hiện hữu (vô ngã).
Qua bài
kinh Vô Ngã Tướng, chúng ta hiểu con
người của chúng ta là do sự tập hợp của năm uẩn. Bản
thân của chúng ta có hai phần quan trọng ngang nhau đó là thân
và tâm. Chúng ta cần có thân khoẻ mạnh để tâm nương náu mà tu
hành. Tu hành như thế nào? Đức Phật dạy các pháp “Quán,
Chỉ, Định, Huệ” là phương tiện để đạt cứu
cánh giải thoát giác ngộ.
Bước
đầu chúng ta đặt mục tiêu gần gũi với cuộc
đời phàm phu của chúng ta trước. Đó là tu làm sao để thân an
tịnh, trí tuệ tỉnh giác, sáng suốt. Rồi sau đó mới tiến tới mục
tiêu cao hơn là thoát khổ, giải thoát, giác ngộ. Con đường
tu tập chuyển đổi từ Tâm Phàm Phu trở thành Tâm Bậc
Thánh đến Tâm Phật là con đường lý tưởng dài vô
lượng kiếp.
TU
TẬP NHƯ THẾ NÀO?
- Tu Quán, Tu Huệ: Để chuyển
đổi nhận thức, chuyển đổi cái nhìn về cuộc đời, về công
ăn việc làm, về tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng, về của
cải vật chất. Những thứ đó đang ở trong tay chúng ta nhưng biết
đâu sẽ có một ngày chúng ta mất trắng. Khi chuyện đó xảy
ra chúng ta hiểu biết rằng vạn pháp vốn vô
thường nếu thản nhiên chấp nhận thì chúng ta sẽ
không buồn khổ. Đó là chúng ta đã có Huệ.
Tu Quán để có cái nhìn về chính bản thân của chúng
ta ngay trong sát-na hiện tại này đang chịu quy
luật biến dịch chi phối. Nó thay đổi từng sát-na. Một lúc nào đó cái
già, cái bệnh và cái chết sẽ đến với chúng ta. Chấp nhận sự
thật chúng ta sẽ không cảm thấy quá lo buồn sợ
hãi khi mỗi giai đoạn thời gian đời sống đến với chúng
ta khi khoẻ mạnh lúc ốm đau.
- Thu thúc lục căn: Sáu
căn tiếp xúc sáu trần, thấy, nghe, xúc chạm đối tượng biết rõ
ràng đối tượng nhưng không khởi tâm ưa ghét, chê khen, phản
ứng gì cả, có nghĩa là đối tượng sao biết y như vậy
mà trong đầu không nói thầm, nghĩ về đối tượng thế này hoặc thế
kia. Đó là cái Biết đang là về đối tượng. Phương pháp tu tập này
còn gọi là “Pháp Như Thật” cũng thuộc về Thiền
Huệ Vipassanà, giúp tâm yên lặng thanh thản đưa tới Định.
- Tu Chỉ, Tu Định: Trong
đời sống hằng ngày đầu óc chúng ta luôn bị dao
động vì suy nghĩ nọ kia, nó đầy ấp những tham, sân, si... nên
đưa đến phiền não khổ đau. Tâm cứ dao động liên
tục thì không bao giờ chúng ta "giác ngộ" được
điều gì. Bây giờ chúng ta tập sống trong cái “Biết không Lời”.
“Tu
Chỉ” (Samatha) là làm sao cho tâm chúng ta được yên
lặng, thanh thản. Thực tập bằng cách làm cái gì biết chúng
ta đang làm cái đó.
Thí dụ: Quét nhà biết đang quét
nhà, hút bụi biết đang hút bụi, rửa chén biết đang rửa chén.... mà trong đầu
không khởi niệm gì cả, nghĩa là không suy nghĩ, không nói lầm
bầm trong đầu sao nhà dơ quá, sao nhiều chén bát quá v..v.... Đó
là chúng ta đang tu thiền Chỉ.
Thiền
Chỉ giúp tâm yên lặng thanh thản nhưng không vững chắc. Muốn tâm
định vững chắc chúng ta phải toạ thiền. Khi toạ
thiền lúc đầu sử dụng phương pháp dùng tầm tất tứ, sau đó
dùng ý tất tầm. Tầm là tự mình nói thầm trong não (còn gọi là ý niệm),
tứ là tự trong ký ức phát sinh ra những hình ảnh trong quá khứ,
tương lai, rồi tâm cứ duyên theo đó nói thầm qua lại hết
chuyện này sang chuyện khác. Khi tầm, tứ yên lặng thì hành giả có
định. Lúc đó lậu hoặc vẫn còn nhưng nó nằm yên, tham, sân, si cũng
không có, chỉ còn cái Biết không lời trong tâm thì ba
nghiệp được thanh tịnh. Như vậy, chúng ta tạo được
Nhân thanh tịnh ngay trong bây giờ và ở đây. Đó là công đức vô
lậu của chúng ta, dù chỉ năm, mười phút hay lâu hơn.
KẾT
LUẬN
Khi
đã hiểu sanh tử như thế nào, hiểu sự sống từ đâu đến và chết đi về
đâu, thì đối với sự sống, chúng ta không tham cầu bởi chúng
ta biết tấm thân ngũ uẩn này không thực chất tính, nên nó
sẽ không vững bền với thời gian, nó bị ảnh
hưởng bởi quy luật biến dịch, nên nó vô thường từng
phút từng giây. Sống hay chết, tuỳ thuộc nơi duyên hợp hay duyên tan... mà thay
đổi. Và đối với cái chết, chúng ta sẽ không sợ hãi, bởi chết
không phải là chấm dứt, không phải mất hẳn đi, mà chỉ là sự thay đổi cũ
mới mà thôi. Sự sanh trong hiện tại chỉ là một lần sanh
trong vô lượng lần sanh. Sự chết trong hiện tại chỉ
là một lần chết trong vô lượng lần chết.
Điều
quan trọng là chúng ta sống như thế nào trong đời này,
để đời sau chúng ta có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mỗi
lần chết đi, sang một đời sống khác là một dịp tốt để chúng
ta học hỏi hầu tiến hoá trên con đường tâm linh để đạt đên
sự giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi sanh tử. Người đời hay nói:
"Có công mài sắt có ngày nên kim", chúng
ta hãy bắt tay mài thỏi sắt lớn trong tâm chúng ta ngay từ bây
giờ, bằng cách tập sống theo lời Phật dạy. Giữ Giới đức
được trong sạch, làm việc lành tránh việc dữ, tu Huệ, tu
Định để phát huy Trí tuệ tâm linh. Đó là theo con
đường Giới - Định - Tuệ mà Đức Phật đã đưa ra. Khi ánh sáng
trí tuệ chan hoà, thì bóng tối vô minh biến mất. Vô
minh không còn thì vòng luân hồi cũng tan rã, bấy giờ người tu
được hoàn toàn thoát khổ, giác ngộ và giải thoát.
Đã
học Phật, chúng ta biết cuộc đời an lành hạnh
phúc hay khổ đau của chúng ta không do ai ban phát cả, mà
do quy luật Nhân Quả chi phối, nhưng Nhân Quả đó lại
do chúng ta làm chủ. Chúng ta có thể tạo ra Nhân tốt hay
xấu để thọ lãnh Quả lành hay dữ. Ngay cả Đức Phật cũng
không cứu được chúng ta ra khỏi ba đường dữ hay ra
khỏi vòng luân hồi sanh tử, mà chỉ chúng ta tự cứu chúng
ta mà thôi. Cho nên chúng ta phải tự chọn cho chúng
ta một lối sống, để khi thân hoại mạng chung, chúng
ta tự làm chủ lấy mình thanh thản ra đi với hành
trang phước đức và trí huệ, hay là chúng
ta bị nghiệp lực nặng nề làm chủ dẫn chúng ta sanh vào
những chỗ tương ưng với đời sống đầy tội
lỗi tham, sân, si của chúng ta để thọ Quả của Nhân đã gây
ra trong đời này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét