Thích Nhất Hạnh
Phương Pháp Thực Tập Hạnh Phúc
Phần I.
HƠI THỞ Ý THỨC, HƠI THỞ MẦU NHIỆM
(Từ 7 đến 13)
7. Ngồi Đâu Cũng Là Ngồi
Thiền
Khi
muốn dừng lại để trở về với chính mình, bạn không cần phải chạy
nhanh về nhà, vào thiền phòng, hay đến một trung tâm thiền thì mới thực
tập hơi thơ chánh niệm được. Ở đâu bạn cũng tập thở được, khi ngồi
tại văn phòng hay trong xe hơi. Ngay cả khi đi mua sắm tại một siêu
thị đông người hay đứng chờ hàng dài trước nhà băng, nếu bạn cảm thấy bực
dọc hay mệt mỏi, bạn có thể tập thở và mỉm cười để đừng đánh mất
mình và giữ gìn sự thăng bằng cho thân tâm.
Giữa
bao phiền toái của cuộc đời, để đủ khả năng đối diện chúng,
ta cần trở về với chính mình, và hơi thở chánh niệm giúp
ta làm việc đó. Ở đâu, trong tư thế nào, đi, đứng, nằm, ngồi, ta cũng tập
thở được. Dù sao, tư thế ngồi vẩn là tư thế vững chải nhất.
Một
hôm, tôi đang ngồi chờ máy bay tại phi trường Kenedy, thành phố New - York. Máy
bay trể bốn tiếng đồng hồ. Tôi liền xếp hai chân lại và ngồi thiền ngay
trong phòng đợi. Tôi cuộn tròn áo ấm lại để làm gối ngồi thiền. Mọi
người đi qua đi lại nhìn tôi có vẻ tò mò, nhưng sau một lúc, họ không để
ý đế tôi nữa và tôi ngồi thiền một cách yên ổn.
Phi
trường đầy nghẹt cả người, không có một chổ nào để đặt lưng, chỉ còn cách ngồi
cho an ổn thảnh thơi ngay tại chổ của mình. Dĩ
nhiên không ai muốn ngồi thiền giữa chốn đông người, kẻ qua người
lại chú ý tới, nhưng dù ở đâu và trong tư thế nào, mình biết theo
dõi hơi thở thì mình sẽ phục hồi được con người của
mình một cách nhanh chóng.
8. Thiền tọa
Cánh ngồi
thiền vững chãi nhất là ngồi xếp bằng hai chân trên một cái
gối dày vừa đủ để giữ vững toàn thân. Tốt nhất là ngồi trong tư
thế kiết già hay bán già, chân phải đặt trên bắp vế trái và chân trái
trên bắp vế phải.
Nếu ngồi
kiết già quá khó thì có thể ngồi xếp hai chân lại cũng được, hoặc muốn ngồi
như thế nào cũng được miễn là cảm thấy thoải mái. Bạn cũng có thể
ngồi trên ghế, hai bàn chân đặt trên sàn nhà và hai tay xếp trên lòng. Bạn cũng
có thể nằm dài trên sàn nhà, lưng chạm đất, hai chân duổi thẳng cách
nhau vài tấc, hai tay duổi thẳng hai bên thân, lòng bàn tay ngữa lên trời.
Nếu
chân bạn bị tê trong khi ngồi, bạn có thể tự động sửa lại thế ngồi cho thoải
mái hoặc đổi chân dưới lên trên. bạn vừa làm một cách nhẹ nhàng chậm rãi,
vừa theo dỏi hơi thở và từng cử động của thân thể thì
tâm bạn vẩn an trú trong định. Nếu chân vẫn không hết đau làm bạn chịu
hết nổi thì bạn có thể đứng dậy, đi thiền hành từng bước chậm
rãi, đến lúc bạn thấy có thể ngồi lại được thì bạn ngồi xuống.
Tại
một vài thiền viện, thiền sinh không được nhúc nhích động đậy
trong khi ngồi thiền. Dù chân bị tê nhức thế nào họ cũng phải cố gắng chịu
đựng. Tôi thấy điều này hơi quá đáng. Chúng ta ngồi thiền là
để có an lạc và hạnh phúc, nếu một phần nào của thân thể bị
đau nhức tức là thân thể muốn báo động ta điều gì, ta phải
biết lắng nghe, ta không nên bắt nó chịu đựng quá sức, vì làm thế có
thể nó bị tổn thương. khi chân bị tê trong khi ngồi, ta có thể thay đổi
chân hoặc đứng dậy đi thiền hành, điều này không đến nổi gây trở ngại
cho ta mà lại giúp ta rất nhiều.
Đôi
khi chúng ta ngồi thiền là để chạy trốn cuộc đời và chạy
trốn chính mình ta, giống như con thỏ chạy về cái hang của nó. Làm như vậy, chúng
ta có thể tạm yên ổn trong một thời gian ngắn, nhưng
khi ló đầu ra khỏi hang, chúng ta vẫn phải đối diện với những vấn
đề thường nhật của chúng ta như thường. Giống như khi chúng
ta tu hành xác, chúng ta mệt nhoài và có ảo tưởng là chúng
ta chẳng còn vấn đề gì nữa hết. Nhưng khi cơ thể được phục
hồi và sinh khí trở lại thì những vấn đề kia
cũng trở về theo.
Chúng ta không cần tu rút, chúng ta cần tu cho thảnh thơi, đều đặn, và tinh tấn, mỗi ngày đều quán chiếu nhìn sâu vào lòng mọi sự mọi việc đang xảy ra. Thực tập như thế chúng ta mới có thể tiếp xúc được sâu sắc với cuộc sống muôn hình vạn trạng và biến đổi vô thường.
9. Chuông Chánh Điện
Theo truyền
thống, ở chùa, ta thường dùng chuông để nhắc nhở mọi người trở
về với giây phút hiện tại. Mỗi khi nghe chuông, chúng ta ngừng
nói chuyện, ngừng suy nghĩ, mỉm cười và quay về với hơi
thở, với chính mình. Dù đang bận làm gì chúng ta cũng ngừng tay
và theo dõi hơi thở, Đôi khi chúng ta đọc thầm bài kệ sau
đây:
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe,
Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm
Khi thở
vào, chúng ta nói "Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe", và
khi thở ra, chúng ta nói "Tiếng chuông huyền diệu đưa
về nhất tâm".
Từ
khi sang Âu Châu, tôi chưa hề được nghe tiếng chuông chùa. Nhưng ở Âu
Châu, nơi nào cũng có chuông nhà thờ. Ở Mỹ thì ít hơn, đó là điều đáng tiếc. Mỗi
lần sang thuyết pháp ở Thụy Sĩ, tôi đều dùng chuông nhà thờ để thực
tập chánh niệm. Khi nghe tiếng chuông đổ, tôi dừng nói chuyện và
khuyên thiền sinh để hết lòng lắng nghe tiếng chuông.
Khi nghe tiếng chuông, chúng tôi dừng lại, theo
dõi hơi thở và tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm ở xung
quanh, hoa lá, các em bé nhỏ, những âm thanh tuyệt diệu.
Mỗi
khi chuông ta quay trở về để tiếp xúc với cuộc sống trong
giây phút hiện tại.
Một
ngày nọ, ở Berkeley, tôi đề nghị với các giáo sư và sinh viên trường đại học California
là khi nghe tiếng chuông trong cư xá vang lên, họ nên dừng lại để tập
vài hơi thở chánh niệm. Chúng ta nên dể dành thì giờ để
vui sống, không nên lúc nào cũng vội vã bận rộn. Chúng ta phải tập thưởng
thức những tiếng chuông nhà thờ ngân nga, những tiếng
chuông đổ hồi rộn rã nơi trường học. Tiếng chuông nghe rất vui
tai, rất thánh thót và có thể làm ta tỉnh thức.
Nếu ở nhà bạn có cái chuông nhỏ, bạn có thể tập thở và cười theo tiếng chuông. bạn không cần phải mang chuông theo tới sở làm. Nghe âm thanh nào bạn cũng dừng lại, tập thở ra thở vào và an trú trong giây phút hiện tại. Tiếng rí rí phát ra khi bạn lên xe hơi mà quên mang dây nịt cũng là tiếng chuông chánh niệm. Ngay cả những tiếng vô thanh, như ánh nắng mặt trời chiếu qua cửa sổ, cũng là những tiếng chuông nhắc nhở ta trở về với giây phút hiện tại, thở và mỉm cười.
10. Chiếc Bánh Thời Thơ
Ấu
Lúc
tôi bốn tuổi, má tôi mỗi khi đi chợ về thường mua cho tôi một cái bánh. Tôi liền
ra đứng trước sân nhà và ăn cái bánh cả nửa tiếng hay bốn mươi lăm phút. Tôi vừa
cắn từng miếng nhỏ vừa ngước nhìn trời hoặc dùng chân vuốt ve con
chó. Tôi thấy thích thú vô cùng, tôi ăn cái bánh rất lâu, vừa ăn vừa
ngắm trời đất, ngắm con chó, con mèo và mấy bụi tre. Tôi không có gì để lo nghỉ
cả, dù quá khứ hay tương lai, tôi sống hoàn
toàn cho hiện tại với cái bánh của tôi, với con chó, con mèo, với
bụi tre, với mọi thứ.
Chúng
ta cũng có thể ăn nhũng bữa cơm hàng ngày một cách chậm rãi và thích
thú như vậy, như tôi ăn cái bánh thời thơ ấu. Bạn có thể nghĩ là bạn
đã đánh mất cái bánh thời thơ ấu, nhưng tôi tin chắc là nó vẫn
còn nằm trong một góc nào đó trong trái tim bạn. Mọi thứ vẫn còn đó, nếu bạn
thật sự cần đến, bạn sẽ tìm thấy.
Ăn
có chánh niệm là một phép thực tập rất quan trọng. Ăn như
thế nào mà mình phục hồi lại cái bánh thời thơ ấu. Giây
phút hiện tại là giây phút tràn đầy an lạc.
Nếu bạn có chánh niệm, bạn sẽ thấy điều đó có thực.
11. Bí Tích Thánh Thể
Lễ
ăn bánh thánh là một thực tập chánh niệm. Khi Chúa Ki-Tô bẻ bánh mì
và chia cho các đệ tử. Ngài nói:" Này, các con ăn đi, đó là xương thịt
và máu huyết của ta đó". Ngài biết là nếu các đệ tử Ngài ăn miếng
bánh mì một cách tỉnh thức thì họ mới thực sự đang sống. Hàng ngày họ
có thể ăn bánh mì trong thất niệm, do đó miếng bánh mì không có thật, nó
chỉ là một bóng ma.
Hàng
ngày chúng ta thấy biết bao nhiêu người quanh ta, nhưng nếu ta không
có chánh niệm, ta thấy họ như những bóng ma, không phải những con người thật,
và chính tự thân chúng ta cũng là những bóng ma.
Khi
có chánh niệm, ta là một con người thật, nhờ vậy ta mới thấy được
những con người thật chung quanh ta, thấy được sự sống với muôn cái đẹp
và giàu sang của nó. Thực tập ăn bánh mì, ăn trái quít hay
ăn cái bánh in trong chánh niệm thì cũng giống nhau.
Khi ta thở có chánh niệm, khi ta đưa cái nhìn quán chiếu sâu sắc vào thức ăn thì đời sống có mặt ngay trong lúc ấy. Cho nên đối với tôi, lễ ăn bánh thánh là một phép thực tập chánh niệm rất tuyệt diệu. Chúa Ki-Tô đã muốn đánh thức các đệ tử của Ngài bằng tiếng gầm sư tử ấy.
12. Ăn Cơm Chánh Niệm
Cách
đây vài năm, tôi có hỏi một vài em nhỏ Hoa Kỳ: "Tại sao chúng
ta ăn sáng?". Một em trai đáp:" Để ta có đủ sức trong
ngày". Một em khác nói:" Ăn sáng là để ăn sáng". Tôi khen em thứ
hai. Mục đích của ăn là ăn mà thôi.
Ăn
cơm trong chánh niệm là thực tập quan trọng. Chúng
ta tắt máy truyền hình, để tờ báo xuống và cùng nhau chuẩn bị cho bữa
ăn trong vòng năm hoặc mười phút. Năm hoặc mười phút này làm
cho chúng ta có nhiều hạnh phúc. Chúng ta đặt bàn, thu
dọn nhà bếp cho đỡ bề bộn. Khi thức ăn đã được đặt lên bàn và mọi
người đã vào chỗ ngồi, chúng ta cùng nhau thực tập thở, thở
vào, tâm tỉnh lặng, thở ra, miệng mỉm cười. Thở ba lần. Sau ba lần thở
như vậy, chúng ta cảm thấy khỏe khoắn nhẹ nhàng ra.
Sau
đó, chúng ta nhìn nhau, mỗi người vẫn theo dõi hơi thở để
thực sự tiếp xúc với chính mình và mọi người quanh
bàn. Chúng ta không cần phải có hai tiếng đồng hồ mới nhìn thấy
được người kia. Nếu tâm ta tỉnh lặng, ta chỉ cần hai giây để nhìn thấy
rõ mọi người. Như vậy trong một gia đình năm người, ta chỉ mất
năm, mười giây để mọi người thực tập nhìn thấy nhau.
Sau
khi thở xong, chúng ta nhìn nhau mỉm cười. Được ngồi ăn chung với
nhau trong một bàn, chúng ta có dịp tặng cho nhau một nụ cười chân
thật, đầy hiểu biết. Việc này rất đơn giản mà ít ai chịu
làm.
Đối
với tôi, đây là một phép thực sự rất quan trọng. Cùng thở và mỉm cười với
nhau là một điều rất quan trọng. Trong một nhà mà mọi người không
biết nhìn nhau mỉm cười thì tình trạng đã trở nên đáng lo
ngại lắm.
Sau
khi đã thở và mỉm cười, chúng ta nhìn xuống các đĩa thức
ăn, chúng ta nhìn sâu để thấy rõ sự liên hệ giữa ta và trái
đất. Cần một cọng rau hay một miếng đậu hũ là thấy mình cần cả đất trời; cả vũ
trụ đều góp mặt để nuôi dưỡng chúng ta. Cho nên để một
giây quán chiếu thức ăn trước khi ăn và ăn trong chánh niệm đem
đến cho ta rất nhiều hạnh phúc.
Có
cơ hội được ngồi chung với gia đình và bạn bè, được thưởng thức được
những món ăn ngon là một điều quý báu, không phải ai cũng có được.
Có bao nhiêu người đang chết đói khắp nơi trên thế giới. Khi tôi
nâng một bát cơm hay cầm một miếng bánh mì trong tay, tôi biết tôi là người
có may mắn, và tôi cảm thương cho những ai không có gì để ăn hay
không có gia đình, bạn bè. Đây là một thực tập rất sâu sắc. Chúng
ta không cần phải đến chùa hay nhà thờ mới có thể thực tập được
điều này, chúng ta có thể thực tập ngay tại bàn
ăn. Chúng ta ăn cơm trong chánh niệm là làm phát triển hạt
giống hiểu và thương trong ta, nó thúc đẩy ta tìm mọi cách để
giúp đỡ những người đói kém, cô độc.
Muốn
ăn có chánh niệm, lâu lâu chúng ta phải ăn cơm im lặng. Lần
đầu tiên ăn cơm im lặng, ta có thể cảm thấy không được thoải
mái, nhưng một khi quen ăn cơm im lặng rồi, ta sẽ thấy có nhiều an
lạc hạnh phúc lắm. Chúng ta tắt máy truyền hình cũng
như chúng ta ngừng nói chuyện là để thuởng thức một cách trọn vẹn thức
ăn và sự hiện diện của những người thân ở
chung quanh.
Tôi
không khuyên bạn ngày nào cũng ăn cơm im lặng. Nói chuyện với
nhau trong chánh niệm cũng là một điều lý thú lắm. Chúng
ta không nên nói về những đề tài có thể gây chia rẽ, ví dụ nói về khuyết
điểm của một người nào đó. Nếu trong suốt bữa ăn ta chỉ mãi mê
nói về những chuyện như vậy thì những món ăn được chuẩn bị kỹ càng sẽ
mất hết hương vị. Trái lại, nếu chúng ta nói những điều làm
cho chúng ta ý thức hơn về những món chính đang ăn và về sự có mặt
của những người thân xung quanh thì chúng ta đang nuôi
dưỡng hạnh phúc. Thứ hạnh phúc làm chúng ta lớn mạnh.
Cho
nên khi ăn được một món ngon mà ta rất thích, ta cũng để ý quan
sát xem người khác có thích như ta không. Nếu có người ăn không chánh
niệm, ta cũng có thể giúp họ thấy được tấm lòng của người nấu, để họ biết tán
thưởng tấm lòng đó. Nếu có người trong khi ăn có vẻ ưu tư lo nghĩ,
thay vì để ý thưởng thức những món ăn ngon trên bàn,
ta có thể nói với họ:" món này ngon chứ phải không anh?" để kéo họ ra
những lo nghĩ, đưa họ trở về thực tại nơi có món ăn
ngon và có sự hiện diện ngọt ngào của bạn. Bạn làm như vậy là bạn trở
thành một vị bồ tát rồi đó, bởi vì bạn giúp người khác tỉnh
thức, đưa họ ra khỏi cơn mê. Trẻ em rất thông minh, chúng học chánh
niệm rất mau và nhiều khi giúp cả cho những người lớn tỉnh thức.
Chúng
ta thường nghĩ rằng việc rửa chén không có gì lý thú; thật ra
khi chúng ta đứng trước bồn rửa chén, xăn tay áo lên và nhúng hai tay
trong nước ấm, chúng ta sẽ thấy rửa chén vui và dể chịu. Tôi thích để thì
giờ rửa từng cái chén một cách thong thả, cẩn trọng, chú ý đến
cái chén, đến nước rửa và từng cử động của hai tay. Nếu tôi rửa chén
một cách vội vã để mau mau đi ăn món tráng miệng thì thời gian rửa
chén trở nên vô bổ và phí phạm. Đó là điều đáng tiếc vì mỗi giây
mỗi phút của sự sống là một sự mầu nhiệm. Những cái chén có mặt đã là một
sự mầu nhiệm, và việc tôi đứng đây rửa chén cũng là một mầu nhiệm.
Nếu
tôi không có khả năng có hạnh phúc trong khi đang rửa chén, chỉ muốn
rửa cho xong để đi ăn tráng miệng, thì chắc chắn tôi cũng không có khả
năng để thưởng thức món tráng miệng của tôi. Bởi vì trong khi ăn tôi
lại nghĩ đến chuyện này chuyện nọ và cái thú được ăn món tráng miệng thơm và
ngon lại bay mất. Lúc nào tôi cũng bị đẩy về phía trước bởi dự
tính này kế hoạch nọ, không bao giờ tôi biết sống cho giây
phút hiện tại. Trong ánh sáng của chánh niệm, mọi tư tưởng và
hành động đều trở nên thiêng liêng, không còn biên giới nào giữa
thánh và phàm. Tôi thường bỏ nhiều thì giờ để rửa chén nhưng tôî sống trọn
vẹn cho mỗi giây phút nên lúc nào tôi cũng thấy hạnh phúc. Công việc
rửa chén vừa là cứu cánh vừa là phương tiện, vì rửa chén không
phải chỉ để có chén sạch. Rửa chén là để rửa chén, nên trong khi rửa chén mình
vẫn không mất một giây phút nào để sống trọn vẹn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét