Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 3
TRÍ HUỆ
CHƯƠNG 34
"KHÔNG CHẮC!" TIÊU CHUẨN CỦA BẬC THÁNH NHÂN.
Bất kể chúng ta thấy gì hay nghe
gì, dầu là vui hay buồn,
chỉ việc
nói, “Điều này không chắc!”.
Có một đệ
tử người phương Tây của tôi lúc trước, mỗi khi thấy một tỳ kheo hay sa di người
Thái hoàn tục, anh nói, “Thật là xấu hổ! Tại sao họ làm thế? Tại sao có quá
nhiều tỳ kheo và sa di người Thái hoàn tục như thế?” Anh kinh ngạc. Anh ta cả
thấy thất vọng, bởi vì anh chỉ mới đến với Phật Pháp một thời gian ngắn. Lúc đó
anh rất hăng say và kiên quyết. Xuất gia là điều duy nhất nên làm. Anh nghĩ
rằng anh không bao giờ hoàn tục. Nhưng từ khi thấy có vài vị sư Tây phương cũng
hoàn tục, anh không còn xem sự hoàn tục là quan trọng đến thế nữa.
Khi người ta hăng say, tất cả đều có
vẻ xác đáng và tốt đẹp. Họ không có gì để đo lường cảm xúc của mình và không
thật hiểu sự tu hành, nhưng họ cứ tu và thiết lập định kiến riêng. Những người
thật hiểu, tâm họ vững vàng, nhưng họ không phô trương.
Về phần tôi, khi mới xuất gia, tôi
không tu hành nhiều, nhưng tôi tin tưởng rất mãnh liệt. Tôi không biết tại sao,
có thể đó là tính chất bẩm sinh. Đến cuối kỳ kiết hạ, những tỳ kheo và sa di
tham dự với tôi đều hoàn tục cả. Tôi tự nghĩ, “Điều gì xảy ra đối với những
người này vậy?” Nhưng tôi không dám nói gì cả, bởi vì tôi cũng bị khuấy động,
tôi không biết chắc cảm xúc của mình, nhưng trong tâm, tôi cảm thấy họ là những
người dại dột. “Phát tâm xuất gia mới khó, chứ hoàn tục thì quá dễ. Những người
này không có đủ phước báu. Họ nghĩ rằng con đường ở thế gian lợi ích hơn là con
đường Đạo”. Tôi nghĩ như thế, nhưng tôi không nói gì cả. Tôi chỉ quán sát tâm
của mình.
Tôi nhìn thấy từng người một hoàn
tục. Đôi lúc họ chưng diện và trở lại tu viện để phô trương. Tôi thấy họ khùng
thật, nhưng họ cho rằng họ ăn mặc hợp thời trang. Tôi nghĩ là họ sai, nhưng tôi
không nói bởi vì chính tôi cũng không thấy chắc chắn lắm. Tôi không biết niềm
tin của tôi kéo dài được bao lâu.
Khi tất cả bạn bè của tôi đã hoàn
tục cả, tôi không nghĩ đến họ nữa. Không còn ai để tôi quan tâm đến. Tôi bắt
đầu nghiên cứu cuốn Pàtimokkha(1). Không còn ai làm tôi xao lãng,
cho nên tôi để hết tâm trí vào sự tu hành. Tuy nhiên, tôi vẫn không dám nói gì
hết bởi vì tôi cảm thấy rằng để tu hành suốt cuộc đời và giữ cho tâm luôn kiên
định, là một việc khó làm.
Có người phấn đấu tiếp, có người
hoàn tục. Tôi quan sát tất cả. Tôi không quan tâm là họ đi hay ở. Tôi nhìn thấy
các bạn tôi ra đi, nhưng tôi chỉ có cảm giác là những người này không hiểu Đạo.
Vị tăng phương Tây đó có lẽ cũng nghĩ như tôi. Anh ta thấy có người xuất gia
chỉ một kỳ kiết hạ là đã chán ghét, bực bội.
Sau này, anh ta đạt đến một giai
đoạn mà chúng ta gọi đó là… chán ngán; chán ngán cuộc sống thánh thiện. Anh
thôi tu và rồi cũng hoàn tục.
“Tại sao anh hoàn tục?” Tôi hỏi.
“Trước kia anh thấy những nhà sư Thái hoàn tục, anh nói, ‘Thật xấu hổ! Thật tội
nghiệp!’ Rồi bây giờ chính anh cũng muốn hoàn tục. Tại sao bây giờ anh không
cảm thấy tội nghiệp cho mình?” Anh ta không trả lời.
Trong việc huấn luyện tâm, không dễ
gì có thể tìm được một tiêu chuẩn tốt nếu bạn vẫn chưa phát triển cái “tâm
chứng kiến” bên trong chính mình. Nhưng chúng ta có thể lấy Giáo Pháp làm tiêu
chuẩn. Chúng ta có Giáo Pháp chưa? Chúng ta suy nghĩ có đúng không? Và nếu sự
suy nghĩ đã đúng, chúng ta có thể xả bỏ sự đúng đó chưa hay vẫn còn dính mắc
vào đó?
Đây
là điều quan trọng: bạn phải quán chiếu cho đến khi bạn đạt tới một điểm nơi mà
bạn xả bỏ, nơi không có một thứ gì nữa, nơi không có tốt hay xấu. Rồi bạn vứt
nó đi. Bạn vứt bỏ tất
cả. Nếu tất cả đã ra đi hết, thì đâu còn có gì nữa.
Cho nên, nói đến sự huấn luyện tâm,
đôi lúc chúng ta cho là dễ. Nhưng thật sự nó rất khó, rất là khó. Nó khó vì nó
không phù hợp với ước muốn của chúng ta: đôi lúc chúng ta có cảm tưởng như các
chư thiên, thánh thần đang giúp đỡ mình. Mọi thứ đều đúng. Bất kỳ chúng ta nghĩ
hay nói gì cũng đều có vẻ đúng. Rồi chúng ta dính mắc vào sự đúng đó và không
bao lâu thì chúng ta đi sai đường và mọi thứ đều trở nên xấu. Tu hành khó là
chỗ đó. Chúng ta không có một tiêu chuẩn để đo lường sự việc.
Con người có rất nhiều đức tin, đầy
tự tin, nhưng thiếu trí huệ. Họ có thể có rất nhiều định lực, nhưng không có
nhiều trí huệ. Họ chỉ nhìn thấy một mặt của thực tại, và chỉ đi theo đó. Họ
không quán xét. Đây là tin một cách mù quáng. Họ có đức tin, nhưng nó không
xuất phát từ trí huệ. Họ không nhìn tháy điều này; họ cho là họ có trí huệ, cho
nên họ không thấy mình sai. Cho nên chúng ta được dạy về Năm Lực(2):
Tín lực, Tinh Tấn lực, Niệm lực, Định lực, và Huệ lực. Huệ lực ở đây không phải
chỉ giản dị là trí thông minh, mà là thứ trí huệ bao trùm tất cả, là trí huệ
tối thượng.
Các Bậc Giác Ngộ chỉ ra cho chúng ta
năm bước này để chúng ta có thể xem xét chúng, trước tiên, như một đối tượng để
suy ngẫm, và sau đó, như là cái thước đo sự tu hành của mình. Lấy ví dụ về Tín lực: chúng ta có sự tin tưởng chắc
chắn không, chúng ta đã phát triển nó chưa? Tinh
Tấn lực: chúng ta có nỗ lực chuyên cần hay không? Nổ lực của chúng ta là
đúng hay sai? Ai cũng nỗ lực cả, nhưng sự nỗ lực đó có khôn ngoan không? Niệm lực cũng vậy. Niệm lực là sự tỉnh
giác không ngừng. Mèo cũng có niệm lực. Khi nó thấy con chuột, niệm lực hiện
diện. Ai cũng có niệm lực, thú vật, phàm nhân, thánh nhân – tất cả đều có nó. Định lực, hay sự chú tâm liên tục: ai
cũng có điều này. Trong sự tỉnh giác của con mèo, thiền định cũng ở đó. Trí huệ: con mèo có thứ này luôn, cũng
giống như trí huệ con người, nhưng nó không rộng lớn như con người. Con mèo
biết theo cách mà con vật biết. Nó có đủ trí huệ để bắt chuột.
Năm thứ này gọi là những Năng Lực.
Có phải Năm lực này phát sinh từ Chánh Kiến không? Tiêu chuẩn đo lường Chánh
Kiến là gì vậy? Chúng ta phải hiểu rõ điều này.
Chánh kiến là sự hiểu biết rằng tất
cả những thứ này là không chắc chắn. Vì thế Đức Phật và tất cả Thánh Nhân không
nắm giữ chúng. Họ nắm, nhưng không bám víu lấy chúng. Sự nắm giữ đó không dẫn
đến sự trở thành, là sự nắm giữ không ô nhiễm bởi tham ái. Chỉ có sự tu hành,
nhưng không có ước muốn trở thành thứ này hay thứ kia.
Bạn nắm giữ một thứ gì, ở đó có sự
vui hưởng hay sự bất mãn. Nếu có vui sướng, bạn có nắm giữ cái vui sướng đó
không? Nếu có sự bất mãn, bạn có nắm giữ sự bất mãn đó không?
Có những quan niệm có thể dùng để làm
nguyên tắc đo lường sự tu hành chúng ta chính xác hơn. Ví dụ, sự tin tưởng rằng
mình tốt hơn người khác, khôn ngoan hơn người khác, hay khờ dại hơn người khác
là quan niệm sai lầm. Chúng ta có thể cảm giác những thứ này, nhưng chúng ta
cũng biết chúng với trí huệ. Chúng ta biết rằng, chúng chỉ sinh rồi diệt. Cho
rằng mình tốt hơn người khác là không đúng. Cho rằng mình bằng người khác là
không đúng. Cho rằng mình dỡ hơn người khác cũng không đúng.
Chánh kiến là cái cắt xuyên qua tất
cả những thứ này. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình tốt hơn người khác, lòng kiêu
hãnh sẽ phát sinh. Nó ở đó, nhưng chúng ta không thấy. Nếu chúng ta cho rằng
mình bằng người khác, chúng ta không còn tôn trọng và khiêm tốn đúng lúc. Nếu
chúng ta nghĩ rằng mình dỡ hơn người khác, chúng ta buồn phiền, cho rằng mình
bất hạnh. Chúng ta vẫn còn dính mắc vào năm uẩn(3), tất cả chỉ là sự
trở thành và sinh khởi.
Đây là tiêu chuẩn để đo lường chính
mình. Một cách khác là như vầy: Nếu chúng ta có một kinh nghiệm vui vẻ, chúng
ta cảm thấy vui vẻ. Nếu chúng ta có một kinh nghiệm xấu, chúng ta không vui.
Chúng ta có thể xem cả hai thứ thích và
không thích này là có giá trị như
nhau không? Hãy đo lường chính mình dựa vào tiêu chuẩn này. Trong cuộc sống
hằng ngày, khi chúng ta nghe một thứ gì chúng ta thích hay không thích, tâm
trạng của chúng ta có thay đổi không? Tâm có dao động không? Ngay tại đây,
chúng ta có một tiêu chuẩn để đo lường.
Hãy nhận biết chính mình. Đây là
nhân chứng của bạn. Đừng làm những quyết định dựa vào sức manh của những sự ham
muốn. Sự ham muốn có thể thổi phồng chúng ta, khiến chúng ta nghĩ rằng chúng ta
là một thứ gì đó, nhưng thật sự thì không phải. Chúng ta phải rất thận trọng.
Có quá nhiều góc cạnh để suy xét,
nhưng cách đúng đắn là không đi theo những ham muốn của bạn, mà đi theo sự
thật. Chúng ta nên biết cả hai thứ tốt xấu, và khi chúng ta biết chúng, chúng
ta buông bỏ chúng. Nếu chúng ta không
buông bỏ, chúng ta vẫn còn ở đó, chúng ta vẫn “tồn tại”, chúng ta vẫn “có”. Nếu
chúng ta vẫn “là” [cái gì đó], thì vẫn còn một thứ gì đó, vẫn còn sự trở thành
và sinh khởi.
Vì thế, Đức Phật bảo chúng ta chỉ
nên phán xét chính mình, đừng phán xét người khác, bất kể là họ tốt hay xấu.
Đức Phật chỉ vạch ra con đường, Ngài nói, “Chân lý là như vầy”. Bạn nghĩ sao?
Tâm của chúng ta có giống như thế hay không?
Chẳng hạn, giả sử một nhà sư lấy thứ
gì đó thuộc về một người khác, rồi người kia buộc tội ông, “Anh ăn cắp đồ của
tôi”. “Tôi không ăn cắp, tôi chỉ lấy chúng thôi”. Thế rồi chúng ta nhờ một vị
sư thứ ba phân xử. Anh ta phải quyết định như thế nào đây? “Đúng, tôi có lấy
nó, nhưng tôi không ăn cắp nó”. Hoặc là, “Đúng là tôi làm thế, nhưng tôi không
có ý định”. Làm sao để tin điều đó? Nếu bạn không thể tin điều đó, tất cả những
gì bạn có thể làm là cứ để người làm chịu trách nhiệm về việc làm của mình.
Nhưng bạn nên biết rằng, chúng ta
không thể che giấu những sự việc nảy sinh trong tâm mình. Bạn không thể che đậy
chúng, bất kể đó là thiện nghiệp hay ác nghiệp. Bất kể hành động là thiện hay
ác, bạn không thể xua đuổi chúng bằng cách phớt lờ chúng, bởi vì những thứ này
thường bộc lộ chính nó. Chúng che đậy chính chúng, chúng bộc lộ chính chúng.
Chúng tự sinh ra, tồn tại, biến diệt. Tất cả đều tự động. Sự việc vận hành như
thế đó.
Đừng cố suy đoán về những điều này. Chừng
nào còn có sự không biết, chúng ta
vẫn chưa xong với chúng. Có người hỏi tôi, “Tâm của một an-na-hàm(4) đã thanh tịnh chưa?
“Đôi phần”.
“Hả? Một vị an-na-hàm đã từ bỏ mọi
ham muốn dục lạc. Làm sao tâm của ông vẫn không thanh tịnh?”
“Ông có thể đã buông bỏ mọi ham muốn
dục lạc, nhưng vẫn còn một thứ gì đó. Vẫn còn có vô minh. Nếu vẫn còn có một
thứ gì đó, thì vẫn còn một thứ gì đó vướn mắc. Nó giống như cái bình bát của
một vị tỳ kheo. Có loại bát cỡ lớn, cở trung bình, và cở nhỏ… Bất kể nó nhỏ bao
nhiêu, vẫn còn có cái bình bát ở đó, đúng không? Nó cũng thế với quả vị tu-đà-hoàn(5), tư-đà-hàm(6), an-na-hàm… họ
đã từ bỏ những phiền não nào đó, nhưng chỉ tới một mức độ nào đó. Bất kể là thứ
gì còn lại, những Thánh Nhân đó không nhìn thấy. Nếu họ có thể nhìn thấy, họ đã
đều là a-la-hán. Vô minh là cái không
thể nhìn thấy. Nếu tâm của một an-na-hàm hoàn toàn khai mở, ông đã chẳng là
an-na-hàm, ông đã hoàn tất sự tu hành rồi. Nhưng vẫn còn có một thứ gì đó”.
“Tâm những bậc thánh đó đã thanh
tịnh chưa?” “Một phần nào, nhưng không phải hoàn toàn rốt ráo”. Tôi làm sao có
thể trả lời khác được?
Đừng lơ là. Đức Phật khuyên chúng ta
luôn cảnh giác. Trong việc huấn luyện tâm, tôi từng muốn thử nhiều thứ, nhưng
tôi đều có vẻ sai lạc. Chúng có tính cách huênh hoang, tự mãn. Chúng là quan điểm
và lòng kiêu hãnh. Chỉ nhận biết hai thứ này thôi đã là đủ khó rồi.
Có một lần, một người muốn được xuất
gia để tưởng niệm người mẹ đã quá vãng của ông. Ông đến tu viện này, mà không
màng chào hỏi chư tăng, ông khởi sự đi kinh hành ngay trước cửa chánh điện… đi
tới, đi lui một cách huênh hoang.
Tôi nghĩ, “Có những loại người như
thế sao?” Đây là niềm tin mù quáng. Ông ta chắc hẳn đã quyết định phải khai ngộ
trước khi trời tối hay gì đó. Ông tưởng rằng nó dễ đến thế. Ông không nhìn ai
cả, cứ cúi đầu lầm lủi đi. Tôi cứ để ông làm thế, nhưng tôi nghĩ, “Trời ơi, ông
nghĩ tu hành dễ đến thế sao?” Tôi không biết ông ở lại bao lâu, nhưng tôi không
nghĩ là ông thọ giới.
Khi tâm vừa nghĩ đến điều gì, chúng
ta liền gởi nó ra ngoài. Chúng ta không nhận ra rằng đây chỉ là thói quen chế
biến của tâm, và sự chế biến này giả dạng trí huệ, và huyên thuyên dông dài về
những chuyện nhỏ nhặt. Sự chế biến này có vẻ rất khôn ngoan – nếu không biết
rõ, chúng ta sẽ nhầm lẫn nó với trí huệ. Nhưng khi đụng chuyện, nó lúng túng, không
biết xử lý, bởi nó không phải là trí huệ thật. Khi đau khổ phát sinh, cái gọi
là trí huệ ở đâu vậy? Nó có giúp ích được gì không? Nó chỉ là sự chế biến mà
thôi.
Cho nên, hãy ở lại với Đức Phật.
Trong sự tu hành, chúng ta phải xoay vào trong, và tìm thấy Đức Phật. Đức Phật
vẫn ở đó, vậy hãy đi vào trong để tìm Ngài.
Nếu tâm cố nói với bạn rằng bạn là
một vị Thánh Dự Lưu, hãy mang ý nghĩa này tới Phật. Ngài sẽ nói, “Không có gì
chắc chắn cả”. Nếu bạn nghĩ mình đã đạt quả vị Tư-đà-hàm, Ngài sẽ nói, “Điều
này không chắc chắn”. Nếu ý tưởng, “Tôi là một An-na-hàm” nảy sinh, Đức Phật sẽ
chỉ nói một điều: “Không chắc chắn”. Nếu bạn cam chắc mình là một A-la-hán,
Ngài sẽ nói một cách kiên quyết hơn, “Không chắc chắn chút nào cả”.
Bất kể điều này là cũ hay mới đối
với bạn, tùy thuôc vào bạn, vào trí huệ của bạn. Một người không có trí huệ sẽ
không thể phân biệt. Cứ nhìn những cây xoài. Nếu chúng được trồng thành cả bụi,
có cây lớn trước, có cây sẽ cong mình, mọc ra ngoài khỏi cây xoài lớn trước đó.
Ai bảo chúng làm thế? Đây là thiên nhiên. Thiên nhiên có cả cái tốt và cái xấu,
cái đúng và cái sai. Nếu chúng ta trồng bất cứ loại cây nào quá gần nhau, những
cây mọc sau sẽ đâm nhánh ra khỏi những cây mọc trước nó. Đây là thiên nhiên, là
Đạo.
Cùng thế ấy, ham muốn dẫn đến khổ
đau. Nhưng nếu chúng ta quán chiếu nó, nó sẽ dẫn chúng ta ra khỏi sự ham muốn,
và chúng ta sẽ vượt lên sự ham muốn. Bằng cách khảo sát sự ham muốn, chúng ta
sách động nó, khiến nó nhẹ nhàng hơn dần cho đến khi nó tan biến hoàn toàn. Cây
cối cũng vậy; có ai ra lệnh cho nó mọc như thế không? Chúng không thể nói
chuyện, hay đi tới đi lui, thế nhưng chúng biết cách mọc tránh ra khỏi chướng
ngại. Nơi nào chật chội, chúng uốn cong ra khỏi đó.
Đạo nằm ngay tại đây. Kẻ trí sẽ nhìn
thấy nó. Cây cối không biết gì cả; chúng chỉ thuận theo những quy luật tự
nhiên, thế nhưng chúng biết đủ để mọc tránh khỏi những chỗ nguy hiểm và hướng
đến một nơi thích hợp. Và những người biết suy nghĩ cũng làm thế. Chúng ta tìm
đến cuộc sống không nhà bởi vì chúng ta muốn vượt lên sự khổ đau. Điều gì khiến
cho chúng ta đau khổ? Nếu chúng ta đi vào trong, chúng ta sẽ tìm thấy. Cái mà
chúng ta thích và cái mà chúng ta không thích đều là bất toại nguyện. Nếu chúng
là bất toại nguyện, đừng đến gần chúng. Bạn muốn mình say đắm những điều kiện
hay chán ghét chúng? Chúng đều không chắc chắn. Khi chúng ta hướng về Đức Phật,
tất cả những thứ này kết thúc.
Tôi xuất gia tại một ngôi chùa làng
và sống trong những ngôi chùa như thế khoảng vài năm. Tôi muốn tu hành, tôi
muốn thành thạo, tôi muốn huấn luyện. Không có ai dạy dỗ tôi trong những ngôi
chùa đó, nhưng tôi kiên quyết tu hành. Tôi đi đây đi đó và nhìn chung quanh. Bởi
vì có tai, nên tôi nghe pháp, bởi vì có mắt, nên tôi nhìn. Bất kể ai nói gì,
tôi cũng tự nhủ, “Không chắc”. Khi lưỡi tôi nếm vào vị ngọt, chua, mặn, lạt,
ngon, dỡ, hay những cảm xúc khác nhau phát sinh trong thân, tôi đều nói với
mình, “Điều này không phải là một thứ chắc chắn!”. Và tôi sống với Giáo Pháp
như thế đó.
Sự
thật thì tất cả đều không chắc chắn, nhưng tâm tham ái của chúng ta muốn sự
việc là chắc chắn. Chúng ta phải làm sao? Chúng ta phải nhẫn nại. Điều quan trọng nhất là sự nhẫn
nhịn. Có một lần, tôi đi thăm một tu viện cố. Khi nhìn thấy vài chỗ trên vách
tường hay tượng Phật bị nứt nẻ, một trong các bạn của tôi nói, “Thật là tội!
Nứt nẻ đủ chỗ cả”. Tôi trả lời, “Nếu sự việc không phải là như vậy, thì làm gì
có cái gọi là Phật, và sẽ chẳng có Giáo Pháp. Nó nứt nẻ như thế, bởi vì nó hoàn
toàn phù hợp với lời Phật dạy”. Tận đáy lòng, tôi cũng buồn khi thấy những ngôi
chùa này bị nứt nẻ, nhưng tôi vứt bỏ sự đa cảm của mình và cố nói điều gì đó có
ích hơn cho các bạn của tôi, và cho chính tôi.
“Nếu nó không nứt nẻ như thế, làm gì
có Phật!”
Có lẽ các bạn tôi không nghe, nhưng
tôi đang nghe chính mình. Cách suy nghĩ này rất hữu ích. Giả sử có ai đó chạy
đến gặp tôi và nói, “Luang Por, ngài có biết là người ta vừa nói gì về ngài
không?” hoặc là, “Hắn nói như thế về ngài”. Có lẽ bạn sẽ tức tối. Mới nghe một
ít lời phê bình là nổi sân rồi! Cảm xúc trỗi dậy. Chúng ta phải biết cảm xúc
này rõ ràng. Chúng ta có thể chuẩn bị để trả đũa, nhưng khi xem xét kỹ sự việc,
chúng ta mới biết là họ không có ý nói thế.
Đây là một trường hợp khác về sự
không chắc chắn. Tại sao chúng ta vội tin quá vậy? Tại sao chúng ta tin vào lời
nói người khác nhiều đến thế? Bất kể là nghe thấy gì, chúng ta cũng nên ghi
nhận, nhẫn nại, xem xét sự việc cẩn thận.
Bậc hiền triết luôn xem xét tính
không chắc chắn của sự việc khi nói chuyện. Mỗi khi chúng ta phớt lờ tính không
chắc chắn của sự việc, chúng ta không phải là một kẻ trí, chúng ta không tu
hành. Bất kể chúng ta thấy gì hay nghe
gì, dầu là vui hay buồn, chỉ việc nói, “Điều này không chắc!” Hãy nói với
chính mình như thế một cách cứng rắn. Hãy điều chỉnh cách nhìn của bạn như thế
đối với mọi thứ. Đừng làm lớn chuyện. Hãy mang tất cả vào sự không chắc chắn
này. Đây là nơi phiền não kết thúc.
Nếu chúng ta hiểu bản chất của sự
việc như thế, sự ham muốn nhục dục, sự mê đắm, và sự ràng buộc phai mờ dần. Tại
sao chúng phai mờ dần? Bởi vì chúng ta hiểu, chúng ta biết. Chúng ta đi từ vô
mình đến sự hiểu biết. Sự hiểu biết phát sinh từ vô minh, cái biết phát sinh từ
sự không biết, sự thanh tịnh phát sinh từ phiền não. Nó là như thế.
Khi chúng ta có chánh niệm, chúng ta
gần với Đạo. Nếu chúng ta có chánh niệm, chúng ta nhìn thấy sự vô thường, tính
chất tạm bợ của mọi sự việc. Chúng ta sẽ nhìn thấy Phật và vượt lên sự khổ của
luân hồi. Nếu không phải lúc này, thì là một lúc nào đó trong tương lai.
Nếu
chúng ta vứt bỏ những phẩm chất của bậc Thánh Nhân, của Phật, hay của Pháp, sự
tu hành của chúng ta sẽ trở nên khô cằn và vô hiệu. Chúng ta phải tu hành một cách
kiên định, bất kể chúng ta đang làm việc, đang ngồi, hay đang nằm. Khi mắt nhìn
thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, hay thân kinh nghiệm cảm
xúc – trong tất cả sự việc, đừng vứt bỏ Phật, đừng xa rời Phật.
Đây là kẻ đến gần Phật, người luôn
sùng bái Phật. Chúng ta có những nghi lễ sùng bái Phật, như buổi tụng kinh
sáng. Đây là một cách sùng bái Phật, nhưng nó không phải là cách sùng bái sâu sắc
như tôi vừa mô tả. Sùng bái Phật chỉ với sự tụng đọc kinh điển thì giống như
việc định nghĩa chữ tỳ kheo như là
“người hỏi”. Nếu chúng ta quan sát sự vô thường, khổ, và vô ngã mỗi khi lục căn
tiếp xúc với lục trần, thì đây cũng giống như cách định nghĩa chữ tỳ kheo như
là “người nhìn thấy hiểm họa của luân hồi”. Nó sâu sắc hơn nhiều và cắt xuyên
qua nhiều thứ.
Hãy phát triển thái độ này trong sự
tu hành và bạn sẽ đi đúng hướng. Nếu bạn suy ngẫm theo cách này, thì dầu bạn có
phải sống xa vị thầy, bạn vẫn gần họ. Nếu bạn sống gần thầy, nhưng tâm bạn chưa
gặp họ, bạn sẽ cứ chê trách hay nịnh hót họ. Nếu họ làm điều gì bạn vừa ý, bạn
nói là họ tốt. Và nếu họ làm điều gì bạn không thích, bạn nói họ xấu – và sự tu
hành của bạn chỉ quanh quẩn ở đó. Bạn không đạt được một thứ gì qua việc soi
mói người khác. Nhưng nếu bạn hiểu sự giảng dạy này, bạn có thể trở thành một
vị Thánh Nhân ngay lúc này.
Với những vị tăng mới, tôi đã đưa ra
thời khóa biểu và những quy luật của tu viện, chẳng hạn như: “Đừng nói quá
nhiều”. Đừng vi phạm những tiêu chuẩn này, bởi chúng là con đường dẫn tới sự
giác ngộ, đến Niết Bàn. Bất cứ ai vi phạm những quy luật này không phải là
người tu hành chân chính, không phải là người xuất gia với ý muốn tu trong
sạch. Những người như thế có thể thấy được gì? Dầu họ có ở bên cạnh tôi mỗi
ngày, họ sẽ không nhìn thấy tôi. Dầu họ có gần Phật, họ sẽ không thấy Phật, nếu
họ không tu hành. Cho nên, hiểu Đạo hay đắc Đạo tùy thuộc vào sự tu hành của
bạn. Hãy tự tin, tịnh hóa tâm của bạn. Nếu sự tức giận hay không thích phát
sinh, cứ để chúng ở đó trong tâm nhưng nhìn thấy chúng rõ ràng! Cứ xem xét
những thứ đó. Chừng nào còn có một thứ gì đó, thì có nghĩa là chúng ta vẫn phải
đào sâu thêm và học hỏi ngay tại đó. Có người nói, “Tôi không thể cắt bỏ nó,
tôi không thể làm được” – nếu chúng ta nói như thế, thì đây chỉ toàn là những người
vô dụng.
Bạn phải thử. Nếu bạn không thể cắt
bỏ nó, hãy đào sâu hơn. Đào bới những uế trược, nhổ chúng tận gốc rễ. Moi chúng
ra dầu chúng ngoan cố đến đâu. Đạo không phải là một thứ có thể đạt được bằng
cách chạy theo những ham muốn của mình. Tâm có thể đi một đường, và chân lý đi
một nẻo. Bạn phải canh phía trước, gác phía sau. Đó là tại sao tôi nói, “Tất cả
đều không chắc chắn, tất cả đều tạm bợ”.
Sự thật này về sự không chắc chắn –
cái chân lý giản dị, nhưng vô cùng sâu sắc và hoàn thiện này – cứ bị con người
phớt lờ. Đừng dính mắc vào cái tốt, đừng dính mắc vào cái xấu. Chúng ta tu hành
để được giải thoát, cho nên hãy mang những thứ này đến chỗ dừng nghỉ. Đức Phật
dạy chúng ta đặt chúng xuống, từ bỏ chúng, bởi vì chúng chỉ mang đến khổ đau.
------------------------------------------------------
(1)
Pàtimokkha (Ba-la-đề-mộ-xoa), là một phần của Luật tạng (vinayapitaka), nói về
giới luật dành cho tỳ kheo ni. Đây là giới luật mà mỗi lần sám hối, chư Tăng
phải tự kiểm điểm.
(2)
Năm Lực là năm sức mạnh tinh thần, giúp đạt giác ngộ.
(3)
Năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tập hợp lại và chúng ta gọi đó là con
người.
(4)
An-na-hàm (àngàmi), chỉ người đắc Thánh quả Bất hoàn, tức không còn trở lại thế
gian.
(5)
Tu-đà-hoàn (sakadàgàmi), chỉ người đắc Dự lưu, Thánh quả thứ nhất.
(6)
Tư-đà-hàm (sotàpanna), chỉ người đắc Thánh quả Nhất lai, tức là người trở lại
một lần.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét