Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 3
TRÍ HUỆ
CHƯƠNG 37
VÔ DUYÊN KHỞI(1).
Khi tâm vượt lên sự hữu vi, nó
biết sự vô vi.
Tâm trở thành vô vi,
một cảnh giới không còn những yếu
tố có điều kiện.
Tâm không
còn bị chi phối những vấn đề của thế gian.
Mục đích
chúng ta nghe Pháp là, thứ nhất, để hiểu biết sự việc mà chúng ta chưa hiểu
biết, để làm sáng tỏ sự việc, và thứ hai, để cải thiện sự hiểu biết của chúng
ta đối với những điều chúng ta đã hiểu. Chúng ta phải dựa vào các buổi thuyết
giảng để tăng thêm sự hiểu biết, và lắng nghe là một yếu tố chủ yếu. Tâm là một
thành phần quan trọng. Cái tâm phân biệt giữ cái tốt và xấu, đúng và sai. Nếu
chúng ta thiếu chánh niệm dầu chỉ một phút thôi, chúng ta điên loạn trong phút
đó. Nếu chúng ta thiếu chánh niệm trong nữa giờ, chúng ta điên loạn trong nữa
giờ đó. Tâm chúng ta thiếu chánh niệm trong bao lâu, thì chúng ta điên loạn bấy
lâu. Đó là tại sao việc chú tâm nghe Pháp là một điều vô cùng quan trọng.
Tất cả
những chúng sinh trong thế gới này đều kinh nghiệm khổ đau. Mục đích của vệc tu
hành là để dứt trừ sự khổ đau này. Nếu khổ đau phát sinh, đó là bởi vì chúng ta
không thật sự biết nó. Bất kể chúng ta điều khiển nó chừng nào, qua ý lực hay
qua tài sản thế gian, đều không thể được. Chỉ qua sự hiểu biết rõ ràng, qua
hiểu biết chân lý của sự khổ, thì khổ đau mới tan biến.
Những bản
chất tốt và xấu là những sự thật không thay đổi. Pháp có nghĩ là một thứ mà bản
chất không thay đổi, nó duy trì chính nó. Sự rối ren duy trì sự rối ren của nó,
sự tĩnh lặng duy trì sự tĩnh lặng của nó. Tốt và xấu duy trì tình trạng của
chúng – nó không thay đổi vì một người nào: dầu bạn già hay trẻ, quốc tịch là
gì, nó cũng không thay đổi. Cho nên Pháp được định nghĩ là cái duy trì tình
trạng của nó. Trong sự tu hành, chúng ta phải biết cái nóng và cái mát, đúng và
sai, tốt và xấu. Nếu chúng ta biết sự bất thiện, chúng ta sẽ không tạo ra
nguyên nhân của nó – cái lý do kiến nó phát sinh.
Đây là tu
hành. Tuy nhiên, phần lớn người tu hành là những người nghiên cứu hay thực hành
Giáo Pháp, nhưng chưa hợp nhất với Giáo Pháp, chưa dập tắt nguyên nhân của sự
bất thiện và rối ren trong tâm. Chừng nào nguyên nhân của sự việc vẫn còn hiện
diện, chúng ta không thể tránh được phiền não. Cùng thế ấy, chừng nào nguyên
nhân của sự rối ren vẫn còn trong tâm, chúng ta không thể tránh được sự rối
ren, bởi vì nó phát sinh từ gốc ngọn này. Chừng nào cái gốc chưa được dập tắt,
sự rối ren sẽ phát sinh trở lại.
Mỗi khi
chúng ta làm điều thiện, sự thiện lành phát sinh trong tâm. Nó phát sinh từ
nguyên nhân của nó. Khi chúng ta biết nguyên nhân, chúng ta có thể tạo ra
chúng, và kết quả chắc chắn sẽ theo sau. Nhưng thông thường, người ta không tạo
ra những nguyên nhân đúng đắn. Họ rất muốn sự thiện lành, nhưng họ không làm gì
đế mang nó đến với mình. Tất cả những gì họ có là những kết quả xấu, chúng cuốn
hút tâm vào sự khổ. Tất cả những gì người ta muốn thời nay là tiền bạc. Họ nghĩ
rằng nếu họ có đủ tiền, mọi thứ sẽ tốt đẹp, cho nên họ giành hết thời giờ để
kiếm tiền. Họ không tìm kiếm sự thiện lành. Điều này cũng giống như muốn có
thịt ăn, nhưng không muốn dùng muối để bảo quản nó. Bạn cứ để miếng thịt ở đó
cho đến khi nó thối rữa. Những ai muốn tiền không chỉ biết cách kiếm tiền, và
phải biết cách bảo quản nó. Nếu bạn muốn thịt, bạn không thể cứ mua nó rồi để
nó nằm đó. Nó sẽ thối rửa.
Kết quả
của sự suy nghĩ sai lạc là sự rối ren, hỗn loạn. Đức Phật giảng dạy Giáo Pháp
để chúng ta thực hành, để có thể biết Giáo Pháp và hợp nhất với nó – để khiến
cho tâm là Giáo Pháp. Khi tâm là Giáo Pháp, nó sẽ hạnh phúc và mãn nguyện. Sự
vận hành của luật luân hồi nằm trong thế giới này, và sự chấm dứt khổ đau cũng
nằm ngay tại đây.
Mục đích của sự tu hành là khiến cho tâm vượt lên sự
khổ đau. Thân thể không thể vượt lên khổ đau – một khi sinh ra, nó phải kinh
nghiệm bệnh đau, già, và chết. Chỉ có tâm mới vượt lên sự bám giữ và dính mắc.
Tất cả giáo lý của Đức Phật đều là những phương tiện để đạt mục đích này.
Ví dụ, Đức
Phật dạy về pháp hữu vi và vô vi. Pháp hữu vi thì hằng hà sa số - hữu hình và
vô hình, lớn hay nhỏ - nếu tâm chúng ta còn chịu ảnh hưởng của ảo giác, nó sẽ
chế biến ra những thứ này, phân loại chúng thành tốt hay xấu, ngắn hay dài, thô
và vi tế. Tại sao tâm chế biến như thế? Bởi vì nó không biết cái thực tại tương
đối. Nó không biết chút gì về luật duyên khởi. Không biết những điều này, tâm
không nhìn thấy Pháp. Không nhìn thấy Pháp, tâm nắm giữ đủ thứ. Chừng nào tâm
còn bị trói buộc bởi sự nắm giữ, con người không thể ra khỏi cảnh giới của
duyên khởi. Chừng nào con người còn chưa ra khỏi cảnh giới của duyên khởi, họ
còn rối rắm, và còn chịu ảnh hưởng của sinh, lão, bệnh và tử, ngay cả trong suy
nghĩ. Cái tâm như thế là một pháp hữu vi.
Pháp vô vi
nói về cái tâm đã nhìn thấy Pháp, thấy sự thật về ngũ uẩn, biết rằng chúng là
tạm bợ, bất toàn, và vô chủ. Tất cả những ý tưởng về “tôi” hay “của tôi”, “họ”
hay “của họ”, đều thuộc về cái thực tại tương đối. Thật vậy, chúng đều là những
điều kiện. Khi chúng ta biết thực chất của những điều kiện không phải là chúng
ta, không thuộc về chúng ta, chúng ta buông bỏ tất cả điều kiện và quy ước. Khi
chúng ta buông bỏ các điều kiện, chúng ta ngộ Đạo, chúng ta giác ngộ Pháp. Khi
chúng ta ngộ Đạo, chúng ta biết rõ ràng. Chúng ta biết điều gì? Chúng ta biết
rằng ngoài những điều kiện và quy ước ra, không có gì cả. Không có tự ngã,
không có “chúng ta” hay “họ”. Đây là hiểu biết bản chất của sự việc.
Nhìn thấy
sự việc như thế, tâm vượt lên chúng. Thân thể có thể già, bệnh, và chết, nhưng
tâm vượt lên trên những trạng thái này. Khi
tâm vượt lên sự hữu vi, nó biết sự vô vi. Tâm trở thành vô vi, một trạng thái
không còn những yếu tố có điều kiện. Tâm không còn bị chi phối bởi những vấn đề
của thế gian. Các điều kiện không còn ô nhiễm tâm. Hạnh phúc và khổ đau
không còn ảnh hưởng tâm. Không có thứ gì ảnh hưởng tâm, hay thay đổi nó. Tâm đã
thoát khỏi mọi sự dính mắc. Nhìn thấy bản chất của điều kiện và quy ước, tâm
giải thoát.
Cái tâm
giải thoát này gọi là vô vi, không còn bị chi phối bởi năng lực chế biến. Nếu
tâm không thật sự biết những điều kiện và quy ước, nó bị những thứ này ảnh
hưởng. Khi gặp sự tốt, xấu, vui, buồn, tâm chế biến thuận theo những cảm thọ
đó. Nó chế biến bởi vì còn có nguyên nhân ở đó. Nguyên nhân là sự tin tưởng
rằng thân thể là “ta” hay “của ta”; cái cảm giác đó là “ta” hay “của ta”; cái
quan điểm đó là “ta” hay “của ta”. Xem xét sự việc theo cách này là nguồn gốc
của hạnh phúc, đau khổ, sinh, lão, bệnh, tử. Đây là cái tâm hữu vi – nó xoay
chuyển và thay đổi mãi dưới sự chi phối của những điều kiện thế gian.
Khi bạn
vừa có được một thứ gì, tâm liền bị chi phối bởi nó. Nó khiến cho tâm cảm thấy
sung sướng, nhưng khi nó mất đi, tâm đau khổ. Tâm trở thành nô lệ của những
điều kiện, nô lệ của sự ham muốn. Bất kể tâm tiếp nhận điều gì từ thế gian, nó
đều bị ảnh hưởng. Cái tâm này không có chổ ẩn náu, nó chưa biết rõ chính mình,
chưa giải thoát. Nó chưa có một nền móng vững chắc.
Ngay cả
một đứa trẻ cũng khiến bạn tức giận. Ngay cả một đứa trẻ cũng có thể phỉnh gạt
bạn, khiến bạn khóc hay cười. Ngay cả một người già cũng bị lừa. Các điều kiện
uốn nắn cái tâm ảo tưởng, khiến nó lúc thương, lúc ghét, lúc vui, lúc buồn.
Chúng uốn nắn tâm như thế bởi vì chúng ta là nô lệ của chúng. Chúng ta là nô lệ
của tham ái (tanhà). Tham ái ra lệnh, là chúng ta vâng lời ngay.
Tôi nghe
người ta than phiền, “Tôi khổ quá. Tối ngày tôi làm việc ở ngoài đồng. Tôi
không có thời gian ở nhà. Ngay cả giữa trưa, tôi cũng phải làm việc dưới cái
nắng cháy da. Những lúc trời lạnh buốt, tôi cũng không thể ở nhà, tôi phải đi
làm. Tôi bị áp bức quá”.
Nếu tôi
hỏi họ, “Tại sao bạn không bỏ nhà đi tu luôn cho rồi?” họ nói, “Không được, tôi
còn có trách nhiệm”. Tham ái giữ họ lại. Đôi lúc đang cày ruộng, bạn mắc tiểu
đến độ phải tiểu ngay ra đó, giống như những con trâu vậy! Chúng ta làm nô lệ
cho tham ái đến thế!
Khi tôi hỏi,
“Cuộc sống lúc này ra sao rồi? Bạn có thời giờ đến tu viện không?” thì họ nói,
“Bận quá thôi!” Tôi không biết có chuyện gì mà nó nghiêm trọng đến thế! Đây chỉ
là những điều kiện, những sự chế biến. Chúng ta nên nhìn thấy bản chất của
những thứ bên ngoài, của những điều kiện. Đây là nhìn thấy Pháp, nhìn thấy bản
chất của sự việc. Nếu bạn thật sự nhìn thấy hai thứ này, bạn sẽ buông bỏ chúng.
Bất cứ
điều gì bạn có được, nó không có thực chất. Mới đầu, nó có vẻ tốt, nhưng cuối
cùng nó trở thành xấu. Và rồi nó khiến bạn yêu, ghét, khóc, cười. Tại sao thế?
Bởi vì tâm vẫn chưa phát triển.
Vào thời
xưa, khi có người chết, người ta mời sư thầy đến để tụng bài kinh về bản chất
vô thường của thế gian. Tất cả điều kiện đều vô thường. Thân và tâm đều vô
thường, chúng biến đổi mãi. Có thứ gì trong cái thân này mà không thay đổi
không? Tóc, móng tay, răng, da – chúng có giống như xưa không? Cái tâm – nó có
ổn định không? Thử nghĩ đi. Sự sinh và diệt xảy ra bao nhiêu lần trong một
ngày? Cho nên cả thân và tâm luôn sinh và diệt, luôn rối rắm.
Bạn không
thể nhìn thấy những thứ này đúng với sự thật là vì bạn cứ tin vào sự giả dối.
Bạn như bị một người đui chỉ đường, dẫn bạn vào tận rừng sâu. Làm sao họ có thể
đưa bạn đến chổ an toàn khi họ không thấy gì cả? Cùng thế ấy, tâm của chúng ta
bị gạt bởi những điều kiện, khiến chúng ta đau khổ trên hành trình tìm kiếm
hạnh phúc, khiến chúng ta bị trở ngại trong công cuộc tìm kiếm bình an. Chúng
ta muốn dứt trừ khổ đau và trở ngại, nhưng lại tạo ra chính những thứ đó. Và
rồi chúng ta than phiền. Chúng ta tạo ra những nguyên nhân xấu, vì chúng ta
không biết sự thật về những cái bên ngoài và những điều kiện.
Những quan
niệm như “xuất gia” và “tại gia” cũng chỉ là những quy ước, những sự chế biến.
Chúng ta tạo ra chúng cũng bởi vì lúc ban đầu chúng không có ở đó. Nó giống như
một cái đĩa trống – bạn có thể đặt bất cứ thứ gì vào đó bởi vì nó trống trơn.
Đây là bản chất của thực tại tương đối. Đàn ông và đàn bà chỉ là những quy ước,
cũng như mọi thứ khác chung quanh chúng ta.
Nếu bạn
hiểu bản chất của những quy ước, bạn có thể sống bình an. Nhưng nếu bạn tin
rằng một người, một vật, cái “của tôi”, cái “của họ”, v.v… là những phẩm chất
có thực, bạn sẽ phải cười và khóc vì chúng. Nếu chúng ta xem những thứ đó là
“của chúng ta”, chúng ta chắc chắn đau khổ. Đây là tà kiến.
Nhưng
chúng ta muốn không đè nén những điều kiện này, mà mang theo với mình và đau
khổ vì chúng. Chúng ta lạc lối trong những điều kiện như thế đó. Thiên đàn, địa
ngục, và Niết bàn đều được tìm thấy tại điểm này.
------------------------------------------------------
(1)
Cảnh giới vô duyên là một cảnh giới không còn có những yếu tố có điều kiện
(duyên), không còn chịu ảnh hưởng của luật nhân duyên. Xem phụ lục Thập Nhị
Nhân Duyên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét