Thích Nhất Hạnh
Chương 65
Không "có" cũng không "không".
Sau
buổi pháp thoại này, đại đức Svastika thấy nhiều thầy có
vẻ trầm ngâm, riêng đại đức thấy mình chưa nắm vững được những
điều Bụt dạy. Đại đức tâm niệm sẽ cố gần gũi cùng các
vị đại đức lớn để học hỏi thêm qua những lời luận
đàm của họ.
Trong
buổi pháp thoại kế tiếp, đại đức Ananda được phép đại
diện các thầy đặt lên những câu hỏi để Bụt trả lời.
-
Bạch Thế Tôn, thế nào là thế giới? Thế nào là vạn hữu?
-
Này Ananda, thế giới (loka) là sự tập hợp của tất cả những gì có
tính biến chuyển và tàn hoại (paloka). Vạn hữu tuy sum la
nhưng tất cả đều bao hàm trong mười tám lãnh vực: đó là sáu căn, sáu
trần, và sáu thức. Sáu căn, như các vị đã biết là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý. Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp (đối tượng của
ý). Sáu thức là cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm và cái ý
tưởng. Ngoài mười tám lãnh vực đó mà ta gọi là thập bát giới,
không còn có gì nữa. Tất cả mười tám cái ấy đều có tính sinh
diệt và biến hoại, cho nên tôi nói thế giới là sự tập hợp
của tất cả những gì có tính biến chuyển và tàn hoại.
Ananda
lại hỏi:
- Thưa
Thế Tôn đã từng nói vạn pháp là không. Như thế nào gọi vạn
pháp là không?
-
Bởi vì vạn pháp không có tự thể riêng biệt cho nên gọi vạn pháp
là không. Sáu căn, sáu trần cũng như sáu thức, không có pháp nào
có tự thể riêng biệt.
- Thưa
Thế Tôn, có lần con đã nghe Thế Tôn nói về ba cánh cửa giải
thoát là Không, Vô Tướng và Vô Tác. Có lần con cũng đã
nghe Thế Tôn nói vạn pháp là không, thế giới là
không. Con chưa thật sự hiểu được thế nào là không. Có phải vì vạn
pháp có tính biến chuyển và tàn hoại cho nên Bụt nói “vạn pháp
là không"?
-
Này Ananda, quả thật tôi đã từng nói về không, và phép quán về không.
Phép quán chiếu về không là một phép quán chiếu mầu nhiệm,
có thể giúp người hành đạo vượt ra khỏi khổ ưu và sinh tử. Hôm
nay tôi sẽ vì đại chúng mà nói về phép quán không.
Này
các vị, tất cả chúng ta đều đang ngồi trong giảng đường Lộc
Mẫu. Chúng ta biết rằng trong giảng đường này không có chợ
búa, trâu bò, làng xóm, mà chỉ có các vị khất sĩ đang ngồi nghe
pháp mà thôi. Cái gì không thì ta nói là không, cái gì có thì ta phải nói
là có. Vậy tôi nói ở trong giảng đường Lộc Mẫu này, thì chợ búa, làng xóm,
trâu bò là không, nhưng các vị khất sĩ là có, có phải như thế không?
-
Bạch Thế Tôn, đúng như vậy.
-
Sau buổi giảng này, tất cả chúng ta đều sẽ đi ra khỏi giảng
đường Lộc Mẫu, và trong giảng đường sẽ không có một vị khất
sĩ nào. Lúc đó, giảng đường Lộc Mẫu không có chợ búa, không
có làng xóm, không có trâu bò mà cũng không có các vị khất sĩ. Có phải thế
không?
-
Bạch Thế Tôn, đúng như vậy. Lúc đó trong giảng đường Lộc
Mẫu không có gì hết.
-
Này Ananda, “có” luôn luôn được hiểu là “có cái gì đó”, và “không” luôn luôn được
hiểu là “không có cái gì”. Tuy nhiên cái âm thanh phát ra từ “có” và “không” tự
chúng không có ý nghĩa gì cả.
Xin Thế
Tôn giải rõ cho chúng con.
-
Này các vị, “không” bao giờ cũng hiểu là “không có một cái gì”, ví dụ không chợ
búa, không trâu bò, không làng xóm, không có các vị khất sĩ. Ta không thể
nói “không” một cách suông được. “Có” cũng thế. “Có” bao giờ cũng hiểu là “có
một cái gì đó”, như có chợ búa, có trâu bò, có làng xóm, có các vị khất
sĩ. Ta không thể nói “có” một cách suông được. Vào giờ phút hiện tại, các
vị có thể nói là trong Lộc Mẫu Đường không chợ búa, không trâu bò,
không xóm làng, nhưng có các vị khất sĩ. Đấy là trường hợp Lộc
Mẫu Đường, còn trong trường hợp vạn pháp thì sao? Nếu ta
nói vạn pháp “có”, thì “vạn pháp có cái gì”? Nếu ta
nói vạn pháp “không” thì “vạn pháp không có cái gì”?
Này
các vị khất sĩ, cái mà tôi gọi là “không” trong vạn pháp đó là
cái ngã, nghĩa là cái tính chất thường tại và bất biến. Vạn
pháp giai “không”, nghĩa là vạn pháp “không có ngã”, không
có tính chất thường tại và bất biến. Căn bản của cái “không”
là như thế. Các vị đã hiểu và đã biết rằng vạn pháp đều có
tính biến chuyển và hoại diệt. Chính vì vậy, vạn
pháp có tính cách biến chuyển và hoại diệt cho
nên vạn pháp không có ngã, không hàm chứa một cái ngã nào. Vì vô
thường cho nên vạn pháp cũng vô ngã. Tất cả các pháp đều
không có ngã trong tự thân, cho nên vạn pháp được gọi là không ...
Này quý vị, “không” có nghĩa là không có tự ngã.
Này
các vị khất sĩ! Trong năm uẩn không có uẩn nào có tính
cách thường tại bất biến cả. Cả năm yếu tố hình
hài, cảm giác, tri giác, ý nghĩ và nhận thức đều không có
tự ngã, đều không có tính cách thường tại bất biến (tính
cách thường tại bất biến ấy thường được gọi là cái tôi). Đã
không có “cái tôi” thì làm gì có “cái của tôi”? Đã không có ngã thì làm gì có
ngã sở? Quán chiếu để thấy được sự không có mặt của “cái tôi” và “cái
của tôi” trong vạn pháp tức là quán chiếu về tính “Không”
vậy.
Ananda
hỏi:
- Vạn
pháp không có ngã, đó là điều mà chúng con đã hiểu và đã thấy, nhưng
bạch Thế Tôn, có vạn pháp không?
Bụt im
lặng nhìn xuống phía trước.
Trước
mặt Bụt có một chiếc bàn nhỏ, trên bàn có đặt một cái bát nước sạch để Bụt
giải khát, Người chỉ vào bát nước trên bàn và hỏi đại đức Ananda:
-
Ananda, theo thầy thì cái bát này là bát không hay bát đầy?
-
Bạch Thế Tôn, cái bát này không phải là bát không, nó là một cái bát đựng
đầy nước sạch.
-
Ananda, thầy hãy cầm cái bát nước đầy này lên và đem đổ hết nước trong bát ra
phía ngoài Lộc Mẫu Đường.
Đại
đức Ananda làm theo lời Bụt dạy. Khi trở vào đại đức đặt chiếc
bát không lên bàn.
Cầm
chiếc bát lên và úp miệng bát xuống bàn, Bụt hỏi:
-
Ananda, cái bát này bây giờ đây là bát không hay bát đầy?
-
Bạch Thế Tôn, cái bát này bây giờ đây không phải là cái bát đầy nước nữa,
mà là một cái bát không.
-
Ananda, thầy có chắc là cái bát này là cái bát không không?
-
Bạch Thế Tôn, con chắc chắn cái bát này là cái bát không.
-
Ananda, trong cái bát này không có nước nhưng lại có đầy không khí. Cái
bát chỉ không có nước thôi, chứ cái bát đang chứa đầy không khí.
Thầy đã quên rồi. “Không” luôn luôn hiểu nghĩa là không có một cái gì, “có”
luôn luôn hiểu nghĩa là “có một cái gì đó”. Trong trường hợp này,
thầy phải nói: cái bát không có nước, nhưng có đầy không khí.
-
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu.
- Vậy
thì này Ananda, cái bát có thể là một cái bát không mà cũng có thể là một
cái bát đầy. Cái không hay cái đầy ấy tùy thuộc vào sự có mặt của cái
bát. Nếu không có cái bát thì làm gì có cái không hay cái đầy. Vậy
nếu muốn không hay muốn đầy thì phải có cái bát đã. Như giảng
đường Lộc Mẫu mà chúng ta đang ngồi ở đây. Giảng
đường có thể không hay đầy, nhưng muốn không hay đầy thì phải
có giảng đường trước đã.
Đại
chúng “ồ” lên một tiếng.
Đại
đức Ananda chắp tay:
-
Bạch Thế Tôn, như vậy là có vạn pháp, và vạn pháp có thật.
Bụt mỉm
cười nói:
-
Này Ananda! Thầy đừng nên bị từ ngữ khống chế như thế. Nếu vạn
pháp có mặt như những hiện tượng không có ngã thì cái có đó
không phải là cái có của tri giác thông thường. Cái “có” ấy cùng với
cái “không” kia là một.
Ananda
lại chắp tay:
-
Xin Bụt khai thị cho chúng con.
-
Này Ananda, chúng ta vừa nói đến cái bát không và cái bát
đầy. Chúng ta cũng vừa nói đến giảng đường không
và giảng đường đầy. Tôi đã nói sơ lược về không, bây giờ
tôi sẽ nói sơ lược về có.
Cái
bát trên bàn kia tuy là cái bát không còn nước, nhưng nếu đại
chúng nhìn thật kỹ thì không phải như vậy.
Nâng
cái bát lên, Bụt nhìn Ananda:
-
Ananda, trong những yếu tố nhân duyên đã đưa tới sự có
mặt của cái bát này, có yếu tố nước không?
-
Bạch Thế Tôn, có. Nếu không có nước trộn vào đất sét thì người
thợ gốm không thể nào biến đất sét thành cái bát.
-
Đúng rồi, Ananda! Nhìn kỹ vào cái bát ta thấy có nước ở trong đó, dù trong giờ
phút hiện tại, nó là một cái bát không có nước. Sự có mặt của cái
bát chứng minh được sự có mặt của nước. Ananda! Thầy có thấy yếu
tố lửa trong cái bát này không?
-
Bạch Thế Tôn, con có thấy. Nếu không có lửa thì đất trộn với
nước không thể nào đưa tới sự có mặt của cái bát. Nhìn sâu vào cái
bát con thấy sự có mặt của hơi nóng của lửa.
Nhìn
sâu vào cái bát thấy gì nữa?
-
Con thấy không khí. Nếu không có không khí thì lửa không cháy được và
người thợ gốm cũng không sống được. Con thấy người thợ gốm. Con thấy bàn tay
khéo léo của người thợ gốm. Con thấy tâm thức của người thợ gốm. Con
thấy lò gốm. Con thấy củi chất trong lò. Con thấy rừng cây đã làm ra củi. Con
thấy mưa, nắng, đại địa đã làm cho rừng cây mọc lên tươi tốt ...
Bạch Thế Tôn, con thấy muôn ngàn yếu tố nhân duyên đã cùng
nhau hợp lại để đưa tới sự có mặt của cái bát này.
-
Hay lắm, Ananda! Thầy đã thấy được sự có mặt của những yếu tố nhân
duyên, đã đưa tới sự có mặt của cái bát khi quán sát về cái
bát. Ananda! Những yếu tố ấy cũng có mặt đồng thời với cái
bát và trong cát. Trong những yếu tố ấy, có mặt yếu tố tâm
thức của thầy. Ananda! Nếu từ trong cái bát này mà thầy lấy hơi nóng để
trả về cho mặt trời, lấy đất sét trả về cho đại địa, lấy nước trả về
cho dòng sông, lấy bàn tay người thợ gốm trả về cho cha mẹ người ấy,
lấy than củi trả về cho rừng cây ... thì cái bát sẽ còn có mặt không? Cái bát sẽ
đi về đâu?
-
Bạch Thế Tôn, cái bát sẽ không còn có mặt, bởi vì những nhân
duyên tạo nên cái bát đã trở về với vị trí nguyên thủy
của chúng. Cái bát sẽ trở về với những yếu tố nhân
duyên ấy.
-
Ananda! Nếu thầy đã quán chiếu chín chắn về đạo
lý nhân duyên, chắc chắn thầy đã thấy rằng cái bát không thể tự
riêng mình mà có mặt được. Cái bát chỉ có thể có mặt trong sự liên
hệ nhân duyên với tất cả các pháp. Các pháp nương nhau mà sinh
khởi, có mặt và hoại diệt. Sự có mặt của một pháp kéo theo sự có mặt của
tất cả các pháp. Sự có mặt của các pháp có thể được chứng minh nhờ sự
có mặt của một pháp. Ananda, đó là nguyên lý tương nhập và tương
tức.
Ananda! Tương
nhập nghĩa là trong cái này có cái kia và trong cái kia có cái này. Ví dụ:
nhìn vào cái bát ta có thể thấy người thợ gốm, nhìn người thợ gốm ta có thể
thấy cái bát. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia, cái kia là cái
này. Ví dụ sóng là nước, nước là sóng. Ananda, hiện Lộc Mẫu Đường
không có chợ búa, trâu bò, và làng xóm nhưng kỳ thực nếu không có chợ
búa, trâu bò và làng xóm, đó chỉ là một cách nói, một lối nhận thức. Sự
thực thì nếu không có chợ búa, trâu bò và làng xóm thì chúng
ta sẽ không bao giờ có Lộc Mẫu Đường. Nếu
không có giáo đoàn của các vị khất sĩ thì cũng sẽ
không có Lộc Mẫu Đường. Vì vậy cho nên, Ananda khi
nhìn giảng đường Lộc Mẫu vào lúc giảng đường trống
vắng, ta cũng vẫn thấy sự có mặt của chợ búa, trâu bò, xóm làng, và các
vị khất sĩ trong đó. Không có cái này thì không có cái kia, và ý
nghĩa căn bản của “Không” (sunna) là: cái này có thì cái kia có.
Nói
tới đây Bụt im lặng. Giảng đường Lộc Mẫu im phăng phắc.
Những lời Bụt nói đã gây ấn tượng sâu sắc trong tâm
trí người nghe.
Một
lát sau, Bụt nâng cái bát không lên, nói với đại chúng:
-
Các vị khất sĩ! Cái bát này tự nó một mình nó không thể có mặt được.
Nó chỉ có thể có mặt đồng thời với tất cả những cái khác mà ta không
gọi là bát, như đất, nước, lửa, không khí, người thợ gốm ... Tất cả các pháp
trên thế gian, pháp nào cũng thế. Pháp nào cũng có mặt dựa trên mối
liên hệ nhân duyên trong nguyên tắc tương tức và tương
nhập.
Các
vị khất sĩ! Nhìn vào cái bát này ta thấy được tất cả vũ trụ vạn hữu.
Vậy ta có thể nói cái bát này chứa đầy cả vũ trụ vạn hữu. Chỉ có một
cái không có mặt trong cái bát này thôi. Đó là tự ngã riêng biệt của cái bát.
Tự
ngã là gì? Tự ngã là tự nó có mặt mà không cần đến một yếu tố nào
khác. Trên thế gian không có pháp nào có thể tự mình có mặt mà không
cần đến bất cứ một yếu tố nào khác, vì vậy cho nên không có
một pháp nào có tự ngã. Đó là ý nghĩa căn bản của “không”. “Không”
nghĩa là không có tự ngã.
Các
vị khất sĩ! Năm uẩn là năm yếu tố của sinh mạng. Hình
sắc không có tự ngã, vì hình sắc không thể tự mình có mặt một
cách riêng biệt. Trong hình sắc có cảm thọ, có tri giác, có
tâm ý và có nhận thức. Cảm thọ cũng vậy. Cảm thọ cũng
không có tự ngã, bởi vì cảm thọ không thể tự mình có mặt một cách
riêng biệt. Trong cảm thọ có hình sắc, có tri giác, có tâm
ý và có nhận thức. Điều này cũng được áp dụng cho các uẩn khác
là tri giác, tâm tư và nhận thức. Trong năm uẩn, không có uẩn
nào có tự tính riêng biệt. Năm uẩn nương vào nhau
mà thành. Vì vậy năm uẩn là “không”.
Các
vị khất sĩ! Sáu căn, sáu trần và sáu thức là không. Mỗi nhân
duyên phải nương vào các nhân duyên khác mà được thành lập,
không nhân duyên nào có tự tính riêng biệt.
Các
vị khất sĩ, tôi muốn nhắc lại để quý vị cùng nhớ: cái này có cho nên
cái kia có. Các pháp vì nương vào nhau mà có mặt cho nên các pháp được gọi là “không”.
“Không” ở đây nghĩa là không có tự ngã, không có một sự hiện
hữu riêng biệt và độc lập.
Đại
đức Ananda bạch:
- Bạch
Thế Tôn, có những nhà trí thức Bà la môn nói rằng: “Sa môn
Gotama chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt. Sa
môn Gotama dẫn dắt con người tới sự tiêu diệt mọi hình
thức của sự sống”. Thưa Thế Tôn, có phải vì Thế
Tôn nói vạn pháp là không cho nên người ta hiểu
lầm như thế hay chăng?
Bụt
nói:
-
Ananda, những nhà trí thức Bà la môn kia, những vị lãnh
đạo giáo phái kia không nói đúng sự thật. Tôi không
bao giờ chủ trương thuyết hư vô, thuyết đoạn diệt. Tôi không chủ
trương dẫn dắt đến sự đoạn diệt mọi hình thức của sự sống.
Này
Ananda! Trong số các tà kiến, có hai tà kiến mà nhiều người
đã vướng phải: đó là chấp có và chấp không. Chấp
có là nhận thức về vạn vật như những gì thường tại và
có tự thể riêng biệt. Chấp không là nhận thức về vạn vật như
một màn ảo thuật của thần linh. Khi nhận thức mắc kẹt
vào tà kiến nào trong hai tà kiến ấy cũng không có cơ hội
thấy được sự thật.
Này
Ananda! Có lần khất sĩ Kaccayana hỏi tôi: “Thế Tôn, thế nào
là chánh kiến, thế nào là cái thấy chân thực? Tôi đã trả lời:
Kaccayana, chánh kiến là thứ nhận thức vượt thoát hai
luận chấp có và không”. Khi ta đã thấy được tự tính chân
thực của thực tại rồi thì ta không còn bị ràng
buộc bởi hai tà kiến ấy nữa. Người có chánh kiến thấy
được quá trình phát sinh và hoại diệt của các pháp và vì
vậy không bị lay chuyển bởi các ý niệm có và không. Khi khổ đau
phát sinh, người có chánh kiến biết là khổ đau đang phát sinh. Khi
khổ đau tàn họai, người có chánh kiến biết kà khổ đau đang tàn hoại.
Sự phát sinh và tàn hoại của vạn pháp không lay chuyển được người
có chánh kiến. Chấp có là một thái cực, chấp
không cũng là một thái cực khác. Nhận thức duyên
sinh vượt ra ngoài hai thái cực đó và an trú ở trung
đạo.
Này
Ananda! Có và không thực ra chỉ là những ý
niệm không phù hợp với thực tại. Thực tại vượt ra
ngoài khuôn khổ của những ý niệm ấy. Người giác ngộ là
người đã vượt thoát ý niệm có và không.
Ananda!
Không những có và không đều không, mà sinh và diệt cũng là không. Sinh và diệt
cũng chỉ là những ý niệm. Sinh diệt cũng là không.
Đại
đức Ananda hỏi:
- Bạch
đức Thế Tôn, nếu sinh diệt là không thì tại sao Thế Tôn nói
“vạn pháp vô thường, luôn luôn sinh diệt?”
-
Này Ananda! Đứng về tục đế ta có thể nói vạn pháp có sinh
và có diệt, nhưng đứng về đệ nhất nghĩa đế, ta cần thấy được tính cách bất
sinh và bất diệt của vạn pháp.
-
Xin Thế Tôn chỉ dạy thêm cho chúng con.
-
Này Ananda! Cây Bồ đề mà thầy trồng ở trước Lộc
Mẫu Đường, cây bồ đề ấy đã được sinh ra từ lúc nào?
- Bạch
đức Thế Tôn, cây Bồ đề ấy sinh ra từ bốn năm nay, vào giờ phút mà
hạt bồ đề bắt đầu nứt mầm trong đất.
-
Ananda! Vậy trước khi cây Bồ đề ấy sinh ra, nó đã có chưa?
- Thưa
Thế Tôn, trước khi nó sinh ra, cây Bồ đề chưa có.
- Vậy
thì cây Bồ đề có thể từ không mà trở thành có hay
sao? Thầy đã thấy một pháp nào từ không mà trở thành có hay
chưa?
Đại
đức Ananda im lặng.
Bụt
nói:
-
Này Ananda, trong vũ trụ không có một pháp nào mà từ không trở
thành có. Nếu không có hạt giống Bồ đề thì không thể
có cây Bồ đề. Cây Bồ đề là từ hạt Bồ đề mà
có. Cây Bồ đề chỉ là sự tiếp nối của hạt Bồ đề. Trước
khi hạt Bồ đề nứt mầm, cây Bồ đề đã hiện hữu sẵn trong
hạt Bồ đề. Một pháp đã có sẵn thì cần gì phải sinh ra nữa? Vì
vậy cho nên cây Bồ đề có tính cách bất sinh.
Bụt
lại hỏi Ananda:
-
Này Ananda, sau khi hạt Bồ đề nảy mầm thành cây Bồ đề, hạt Bồ
đề có diệt không?
-
Bạch Thế Tôn, hạt Bồ đề có diệt thì cây Bồ đề mới sinh
ra được.
-
Ananda, hạt Bồ đề không diệt. Diệt tức là từ có mà trở
thành không. Thầy có thấy trong vũ trụ này có một pháp nào từ có
mà trở thành không được không? Một chiếc lá, một hạt bụi, một
làn hương cũng không thể từ có mà trở thành không được. Các pháp ấy
chỉ có thể biến chuyển để trở thành những pháp khác (8).
Hạt Bồ đề cũng thế, hạt Bồ đề không diệt mà chỉ biến
chuyển thành cây Bồ đề. Hạt Bồ đề cũng như cây Bồ
đề đều là những pháp bất sinh và bất diệt. Ví như con người
cũng vậy, cơ thể đó trước khi có mặt và sau khi chết đi chỉ là sự chuyển hóa vật
chất từ dạng này sang dạng khác chứ không hề sinh diệt. Ananda! Không những
hạt Bồ đề và cây Bồ đề là những pháp bất sinh bất diệt mà tất cả
các pháp trong đó có tôi, có thầy, có các vị khất sĩ, có Lộc
Mẫu Đường, có chiếc lá, có hạt bụi, có làn hương, tất cả đều bất
sinh bất diệt.
Này
Ananda! Tất cả các pháp đều bất sinh và bất sinh; sinh và diệt
chỉ là những ý niệm của nhận thức con người mà thôi.
Các pháp không, có, không sinh, không diệt, không dơ, không
sạch, không thêm, không bớt, không tới, không đi, không một, không nhiều. Tất
cả các ý niệm có không, sinh diệt, dơ sạch, thêm bớt, tới
đi, một nhiều ... đều là những ý niệm phân biệt của nhận thức thế
gian. Khi có tu tập quán chiếu về tự tính không của vạn pháp, lúc
ấy các vị mới có thể vượt thoát những ý niệm phân biệt ấy
để chứng nhập được thực tại của vạn hữu.
Ananda! Thực
tại của vạn hữu là không có cũng không không, không sinh cũng
không diệt, không thành cũng không hoại. Nếu không có thực
tại ấy làm cơ bản thì làm gì có cái thế giới có sinh, có diệt,
có, không, có thành, có hoại của nhận thức phân biệt? Nếu
không có thực tại ấy thì làm gì có lối thoát cho thế
giới sinh diệt, có không và thành hoại?
Này
Ananda! Khi đứng trên bờ biển, thầy nhìn ngắm những đợt sóng nhấp nhô sinh
diệt trên mặt đại dương. Thực tại bất sinh, bất
diệt có thể đem so sánh với nước trong đại dương,
và sự sinh diệt có thể được đem so sánh với những con
sóng đại dương. Ananda! Sóng thì có cao, có thấp, có lớn, có bé, có sinh,
có diệt, nhưng nước trong đại dương thì không cao, không thấp, không
lớn không bé, không sinh, không diệt. Nếu không có nước thì
làm sao có sóng, và sóng cứ sinh diệt muôn trùng trên đại dương cũng hòa
về với nước!
Ananda!
Sóng là nước, nước là sóng. Sóng tuy có sinh có diệt, nhưng một khi
sóng nhận biết được rằng mình chính là nước thì tự khắc sóng vượt
thoát được sinh diệt và không còn sợ hãi, âu lo và khổ đau
vì sinh diệt.
Các
vị khất sĩ! Phép quán chiếu về tự tính không của vạn
pháp là một phép quán chiếu mầu nhiệm có thể đưa các vị
vượt thoát sợ hãi, vượt thoát lo lắng, vượt thoát khổ đau.
Phép quán chiếu này có thể đưa quý vị vượt thoát thế
giới của sinh tử. Các vị hãy nổ lực mà thực
tập phép quán chiếu này.
Nói
tới đây Bụt lặng im. Người đã chấm dứt buổi pháp thoại.
Buổi pháp
thoại hôm nay làm xôn xao cả đại chúng. Đại
đức Svastika chưa bao giờ được nghe Bụt nói những điều sâu sắc
và mầu nhiệm như hôm nay. Đại đức thấy các thầy lớn thầy
nào nét mặt cũng rạng rỡ. Vẻ sung sướng hiện rõ trong cái nhìn
và trong nụ cười của họ. Svastika có cảm tưởng mình hiểu được những
điều Bụt nói, nhưng thầy nghĩ có thể là mình chưa thấy hết được chiều sâu của
buổi pháp thoại này. Thầy biết thế nào đại đức Ananda cũng sẽ
trùng tuyên lại bài thuyết pháp hôm nay và thầy sẽ có dịp học
hỏi thêm qua những cuộc pháp đàm do các đệ tử lớn của Bụt tổ chức.
-----------------------------
(8)
Về sau này, khi khoa học đã phát triển, con người bắt đầu nghiên cứu và khám
phá về năng lượng và vật chất trong vũ trụ. Quy luật này được đề xuất và thử nghiệm đầu tiên bởi Émilie du Châtelet. Sau đó, nhà
khoa học nổi tiếng Albert Einstein, đã đưa ra định nghĩa về định luật
bảo toàn năng lượng vật chất như sau: “Năng lượng không thể được tạo ra cũng như không thể bị phá hủy;
thay vào đó, nó chỉ có thể được biến đổi từ dạng này sang dạng khác hoặc chuyển
đổi từ vật này sang vật khác (hoặc cả hai)”. Do vậy mà nhận thức về có, không,
sinh, diệt đều là nhật thức sai lầm, thực tại cho ta thấy rõ rằng do sự biến
chuyển của vạn vật khi đã đủ điều kiện nhân duyên thì sự vật đó sẽ biến chuyển
từ dạng này sang dạng khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét