Thích Nhất Hạnh
Phần cuối
Niết bàn tịch tĩnh.
Chương 79
Nấm chiên đàn.
Một
hôm, đại đức Ananda tới gần Bụt, ngồi xuống bên Người và bạch
nhỏ:
- Thưa
Thế Tôn, bốn mươi năm nay con chưa từng thấy Người ốm đau nặng như kỳ rồi.
Hôm Thế Tôn bệnh nặng, con cảm thấy bủn rủn cả chân
tay. Đầu óc của con lúc ấy không được sáng suốt và con
không thấy được sự việc một cách rõ ràng. Hôm đó ai cũng nghĩ
rằng Thế Tôn sẽ không qua khỏi, nhưng con tự hỏi: Đức Thế
Tôn chưa dặn dò gì cho giáo đoàn khất sĩ thì Thế
Tôn chưa nhập Niết Bàn đâu. Nhờ nghĩ như vậy mà con
không đến nỗi nào.
Bụt
nói:
-
Này Ananda, giáo đoàn khất sĩ còn chờ đợi gì ở Như
Lai ? Chánh pháp đã được Như Lai giảng bày cặn
kẽ cho mọi người, có điều gì mà Như Lai chưa giảng dạy cho quý
vị đâu? Ananda, chỗ nương tựa của giáo đoàn là chánh pháp; các
vị đừng đi tìm một chỗ nương tựa bên ngoài nào khác nữa. Mỗi người phải
lấy chánh pháp làm nơi nương tựa, phải sống theo chánh
pháp; mỗi người phải là một ngọn đuốc soi sáng cho chính mình. Ananda, Tam Bảo
đã có sẵn trong mỗi người: khả năng giác ngộ là Bụt, pháp
môn tu học là Pháp, những yếu tố hỗ trợ cho sự tu
tập là Tăng. Không ai lấy đi Tam Bảo ra khỏi tự thân quí vị được, dù đất
trời có nghiêng ngã, tự tính Tam Bảo nơi nỗi người vẫn còn nguyên
vẹn. Đó là nơi nương tựa an ổn nhất của mỗi người. Vị khất
sĩ trở về an trú trong chánh niệm, quán
chiếu thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý, đó là vị khất
sĩ đang thắp sáng ngọn đuốc cho chính mình, đang có nơi nương
tựa vững chãi nhất. Một người nào khác, dù là giáo chủ, dù là
trưởng thượng, dù là thầy mình, cũng vẫn không phải là chỗ nương
tựa vững bền hơn chánh niệm, hơn tự tính Tam Bảo sẵn có nơi
mỗi người.
Vào cuối
mùa an cư, sức khỏe của Bụt đã được hồi phục. Một buổi
sáng, chú tiểu Cunda, vị thị giả của đại
đức Sariputta tìm tới tịnh thất của đại đức Ananda,
chú báo tin thầy của chú, đại đức Sariputta đã viên
tịch tại Nala, rồi chú trình lên đại đức áo cà
sa, bình bát và xá lợi của đại đức Sariputta, rồi chú
ôm mặt khóc. Đại đức Ananda cũng rưng rưng. Cunda kể là đại
đức Sariputta đã về đến Nala thăm mẹ và đã chăm sóc bà cho đến khi
bà lâm chung. Làm lễ trà tỳ mẹ xong, đại đức triệu
tập người thân thuộc và dân cư trong vùng lại, giảng
giải pháp cho họ nghe, làm lễ quy y cho họ và dặn dò hành
trì theo chánh pháp, rồi đêm đó đại đức ngồi lại trong tư
thế kiết già và nhập diệt. Trước đó, đại đức đã dặn
Cunda rằng sau khi đại đức tịch thì chú phải đem y
bát và xá lợi của đại đức về trình Bụt và xin Bụt
cho đi theo Người. Đại đức có nói là ngài muốn nhập
diệt trước ngày đức Thế Tôn nhập Niết Bàn.
Đại
đức Ananda lau nước mắt đứng dậy và cùng chú tiểu Cunda
đi gặp Bụt, đem theo cà sa, bình bát và xá
lợi của đại đức Sariputta.
Bụt
lặng yên nhìn kỷ vật còn lại của vị đại đệ tử. Người không nói
gì trong một lúc lâu, rồi Người xoa đầu chú Cunda.
Đại
đức Ananda lên tiếng:
-
Lạy Bụt, khi con nghe tin sư huynh đã viên tịch, con
thấy bủn rủn cả chân tay và đầu óc con mất hết sáng suốt, con
buồn quá.
Bụt
nhìn đại đức Ananda:
-
Này Ananda, sư huynh của thầy khi nhập diệt có đem đi
theo tất cả giới, định, tuệ và sự giải thoát của thầy đâu?
Đại
đức Ananda trần tình:
-
Không phải như thế, bạch đức Thế Tôn, con nghĩ đến sư huynh con
lúc sống đã phục vụ chánh pháp đắc lực như thế nào,
để nâng đỡ chúng con như thế nào, đã dạy dỗ, hướng dẫn, khích lệ chúng con
như thế nào, bây giờ đây sư huynh không còn ở bên với chúng con nữa,
không có hai sư huynh Sariputta và Moggallana, chúng con
thấy giáo đoàn trống vắng một cách lạ kỳ. Các sư
huynh không còn đó để hướng dẫn cho chúng con và chống
đỡ cho giáo đoàn, chúng con cảm thấy bơ vơ quá.
Bụt
dạy:
-
Ananda, Như Lai đã nhiều lần nhắc thầy rằng có sinh thì có diệt, có
hội ngộ thì có phân ly. Các pháp hữu vi là thế đó, cho nên ta đừng
nên mắc kẹt vào các pháp này. Hãy vượt thoát lên khỏi thế
giới của sinh diệt và của tụ tán. Ananda, Sariputta là một cành
cây lớn đã làm xong bổn phận nuôi dưỡng một thân cây. Cành
cây hiện có mặt trong thân cây. Thân cây ấy là giáo
đoàn khất sĩ đang tu tập theo giáo pháp giác ngộ.
Nếu thầy mở mắt ra mà nhìn, thầy sẽ thấy Sariputta trong thầy,
trong Như Lai, trong giáo đoàn khất sĩ, trong những người được
Sariputta giáo hóa, trong chú tiểu Cunda, và thầy sẽ thấy
Sariputta một nơi. Đừng nghĩ là Sariputta không còn nữa, Sariputta vẫn sẽ còn
mãi với chúng ta.
Này
Ananda, Sariputta là một vị bồ tát, nghĩa là một người đã giác
ngộ và đã biết đem trí tuệ và tình thương của
mình đi vào cuộc đời để hóa độ cho những người khác,
đưa họ cùng về bến bờ giác ngộ. Trong giáo đoàn khất sĩ,
Sariputta đã từng được ca ngợi như người có trí tuệ lớn, và
vì thế, Sariputta sẽ được các thế hệ tương lai tưởng niệm tới như một
vị bồ tát đại trí.
Ananda,
trong giáo đoàn khất sĩ còn có nhiều vị bồ tát nữa đã có
mặt trong cuộc đời để hóa độ và những vị này cũng
có hạnh nguyện lớn như Sariputta, khất sĩ Punna,
nữ khất sĩ Yasodhara, nam cư sĩ Sudatta đều là những người
có lòng từ bi lớn và hạnh nguyện sâu dày, luôn luôn dấn thân
vào cuộc đời để cứu độ chúng sinh, không ngại gian khổ và khó
khăn. Đó chính là những vị bồ tát đại bi. Nữ khất
sĩ Yasodhara và cư sĩ Sudatta đã viên tịch, nhưng đại
đức Punna vẫn còn mãi trong hàng ngũ những vị bồ
tát đang tinh tiến và dũng mãnh trên con
đường hóa độ. Như lai nhớ tới đại đức Moggallana, đó là một
vị bồ tát đại dũng, chí khí và can trường rất lớn, ít ai bì
kịp, đại đức Mahakassapa với nếp sống đơn
giản và lành mạnh là một vị bồ tát tượng
trưng cho hạnh tri túc. Đại đức Anurudha là một vị bồ
tát tượng trưng cho hạnh tinh tiến.
Ananda,
nếu các thế hệ tương lai biết học hỏi và tu
tập đạo lý giải thoát, thì các vị bồ tát như thế
sẽ tiếp tục xuất hiện trong đời để tiếp nối ngọn đuốc chánh
pháp và soi sáng thế gian. Ananda, tin vào Bụt, tin vào Pháp và
tin vào Tăng, tức là tin tưởng ở tương lai giáo đoàn. Trong
tương lai sẽ tiếp tục có thêm những vị bồ tát nữa có thể
sánh ngang tầm vóc lớn như Sariputta, Moggallana, Punna, Anurudha, Yasodhara,
Anathapindika ... Ananda, thầy không nên buồn về việc sư
huynh Sariputta viên tịch.
Trưa
hôm ấy trên bờ sông Ganga, bên thôn Ukkhacela, Bụt trầm tĩnh báo
tin viên tịch của đại đức Sariputta cho đại
chúng các vị khất sĩ. Bụt khuyên đại chúng nên nổ lực để
mỗi người có thể trở thành Sariputta, mỗi người có thể mang khả năng
và đại nguyện của Sariputta trên đường tu tập và hành
hóa, Bụt dạy:
-
Này các vị khất sĩ! Các vị hãy nương tựa vào chính mình, hãy tự mình làm
một ngọn đuốc cho chính mình, đừng nương tựa vào cái gì khác, đừng nương tựa
vào ai khác, như vậy các vị mới không bị đắm chìm bởi những đợt sóng của khổ
đau, của thất vọng, của tham dục. Các vị, hãy lấy giáo pháp làm nơi
sinh sống, làm chỗ nương tựa, và đừng nương tựa vào thứ gì khác ngoài chính
mình.
Này
các vị khất sĩ! Các vị hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Hãy lấy chánh
pháp làm ngọn đuốc.
Một
buổi sáng, Bụt cùng đại đức Ananda đi vào thành
Vesali khất thực. Sau khi ra thọ trai ở một cụm rừng, Bụt nói:
-
Ananda, chúng ta hãy về đền Capala để nghỉ trưa.
Trên
đường đi, Bụt dừng lại nhiều lần để nhìn phong cảnh và mây nước, Bụt
nói:
-
Ananda, Vesali thật là đẹp, đền Udena cũng đẹp. Các ngôi đền khác trong vùng
như Gotamaka, Sattanbaka và Bahuputta cũng đều là những ngôi đền đẹp. Đền
Capala mà ta sắp đến để nghỉ ngơi cũng đẹp lắm.
Sau
khi sắp đặt chỗ nghỉ cho Bụt, đại đức Ananda đi ra phía
ngoài để thiền hành. Trong khi đi thiền hành, đại
đức thấy đại địa rung động dữ dội và tâm
thần của thầy cũng bị chấn động theo. Đại đức tìm về
đền Capala và thấy Bụt đang ngồi yên tĩnh trong đền. Đại
đức Ananda trình lên Người về hiện tượng động đất xảy ra, Bụt
nói:
-
Ananda, Như Lai đã quyết định rồi, trong ba tháng
nữa, Như Lai sẽ diệt độ.
Đại
đức Ananda cảm thấy tay chân bủn rủn, mắt hoa, đầu
choáng. Đại đức quỳ sụp xuống trước Bụt, rơi lệ và van xin:
-
Xin đức Thế Tôn đừng diệt độ sớm như thế. Xin đức Thế
Tôn thương xót chúng con.
Bụt im
lặng, thầy Ananda lặp lại lời thỉnh cầu tới lần thứ ba, Bụt nói:
-
Ananda, nếu thầy có đức tin nơi Như Lai, thì thầy nên biết rằng
những quyết định của Như Lai là quyết định hợp với
thời gian và hợp cơ duyên. Như Lai nói là sẽ diệt
độ trong ba tháng nữa. Ananda, thầy hãy cho mời tất cả các vị khất
sĩ trong vùng về quy tụ tại giảng đường Kutagara ở rừng Đại
Lâm.
Bảy
hôm sau, trên một ngàn năm trăm vị khất sĩ và nữ khất sĩ tụ
tập tại giảng đường Trùng Các, Bụt ngồi trên pháp tọa. Người đưa
mắt nhìn đại chúng, rồi Người nói:
-
Này các vị khất sĩ! Những gì mà Như Lai đã thực chứng và đã
trao truyền lại cho quý vị, quý vị hãy trân trọng và khéo léo
mà học hỏi và giữ gìn, tu tập, chứng
nghiệm và truyền đạt lại cho những thế hệ về sau. Nếp
sống phạm hạnh cần được nối tiếp vì an lạc và hạnh
phúc của mọi người và mọi loài.
Các
vị khất sĩ! Những giáo pháp mà Như Lai đã truyền
đạt lại tuy nhiều nhưng có thể được tóm tắt trong các pháp
môn Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ
căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề và Bát chánh đạo. Các vị phải khéo
léo học hỏi, tu tập, thực chứng và truyền đạt lại
những pháp môn ấy.
Này
các vị! Tất cả các pháp đều vô thường, có sinh, có diệt, có tụ, có tán.
Các vị hãy tinh tấn lên để mà đạt tới giải thoát. Ba tháng
nữa, Như Lai sẽ diệt độ.
Hơn
một ngàn năm trăm vị khất sĩ im lặng nghe Bụt nói, uống những ngụm
suối nguồn trong mát trực tiếp từ giáo pháp của Bụt. Họ biết đây là cơ
hội cuối cùng để được thấy Bụt và nghe Bụt giảng pháp. Bụt nói
sẽ diệt độ, ai nấy đều đau lòng.
Sáng
hôm sau, Bụt đi vào Vesali khất thực. Khất thực xong,
Bụt ghé vào một cụm rừng để thọ trai. Sau đó Bụt cùng các vị khất
sĩ rời thành Vesali.
Ngước
nhìn lại thành Vesali với đôi mắt của một con voi chúa, Bụt nói với đại
đức Ananda:
-
Này Ananda, Vesali thật đẹp. Đây là lần cuốì Như Lai nhìn thành phố
này.
Và
Bụt hướng tới phía trước. Người nói:
-
Bây giờ, chúng ta hãy đi về Bhandagama.
Chiều
hôm ấy tại Bhandagama, Bụt thuyết pháp cho trên ba trăm vị khất
sĩ về giới, định, tuệ và giải thoát.
Sau
mấy hôm nghỉ ngơi và thăm viếng, Bụt rời Bhandagama và đi Matthigama, rồi
Bụt đi Ambagama, Jambugama. Nơi nào Bụt cũng thăm viếng và thuyết
pháp cho các vị khất sĩ.
Rồi
Người cùng các vị khất sĩ đi Bhoganagara. Tại đây, Bụt nghỉ ở đền
Ananda. Các vị khất sĩ địa phương tới thăm Bụt rất đông.
Trong thời gian thăm viếng ở đây, Bụt có dặn dò các vị khất
sĩ về sự cần thiết và phương pháp kiểm chứng những điều nghe
được về giáo pháp, Bụt dạy:
-
Khi nghe một ai nói về giáo pháp, dù người nói cho biết là đã
trực tiếp nghe từ những vị đạo cao đức trọng và có uy quyền, các
vị cũng không nên vội cho ngay đó là giới luật và giáo pháp đích thực
của Như Lai giảng dạy. Các vị phải so sánh những lời ấy với
pháp thoại mà Như Lai truyền lại. Nếu những lời ấy trái với đạo lý giải thoát
thì các vị nên bác bỏ, còn nếu những lời ấy phù hợp với giáo lý
giải thoát thì các vị hãy chấp nhận và thực hành theo.
Sau
đó, Bụt đi Pava. Tại Pava, Người nghỉ ngơi trong vườn xoài của nam cư
sĩ Cunda, con của một người thợ rèn. Được nghe Bụt thuyết pháp, Cunda
rất lấy làm sung sướng. Chàng thỉnh Bụt và các vị khất sĩ ngày
mai đến nhà chàng thọ trai.
Các
vị khất sĩ đi theo rất đông, có đến ba trăm vị. Trong khi người
nhà và bạn bè dâng thức ăn vào bát của các vị khất sĩ, Cunda tới
trước Bụt và dâng lên Người một món ăn đặc biệt đã được làm
riêng cho Bụt. Đó là nấm chiên đàn - Sukara maddava.
Sau
khi thọ trai xong, Bụt gọi Cunda và nhẹ nhàng bảo chàng:
-
Cunda, chỗ còn lại của món nấm chiên đàn này, con nên đào đất mà chôn
đi, đừng để ai ăn nữa.
Sau
khi mọi người đã thọ trai xong, Bụt thuyết
pháp cho gia đình Cunda. Thuyết pháp xong, Bụt và các
vị khất sĩ trở về vườn xoài nghỉ ngơi.
Tối
hôm ấy, một cơn đau bụng dữ dội nổi lên làm Bụt đau đớn vô
cùng. Người cố gắng chịu đau. Suốt đêm Người không ngủ. Sáng hôm sau,
Người bảo các vị khất sĩ lên đường thật sớm, hướng về Kusinara.
Giữa
đường, cơn đau bụng lại nổi lên dữ dội. Người dừng lại và tới ngồi nghỉ
dưới một cội cây. Đại đức Ananda lấy áo sanghati của Bụt xếp lại
thành tư và trải xuống gốc cây để Bụt ngồi nghỉ. Bụt bảo Ananda đi kiếm cho Bụt
ít nước để uống vì Người thấy khát.
Đại
đức Ananda nói:
-
Lạy Bụt, nước rạch ở đây đục lắm vì có một đoàn xe bò cả mấy trăm chiếc vừa đi
qua. Xin Bụt đợi đến khi mình tới sông Kakutha, nước ở đó trong mà ngọt lắm con
sẽ lấy để Bụt uống và rửa mặt cho mát.
Bụt
bảo:
- Như
Lai khát lắm rồi, thầy cứ đi lấy nước ở đây đi.
Đại
đức Ananda vâng lời. Lạ quá, khi đại đức mang vò xuống tới
con rạch thì nước rạch đã trở lại trong vắt.
Uống
nước xong, Bụt ngồi nghỉ. Các đại đức Anuruddha và Ananda ngồi cạnh
bên Người. Ba trăm vị khất sĩ cũng ngồi nghỉ ngơi gần đó, có nhiều vị
ngồi vây quanh Bụt. Lúc ấy có một người bộ hành đi từ Kusinara tới.
Thấy Bụt ngồi giữa các vị khất sĩ, ông ta tới khấu đầu đãnh lễ. Người này
tên là Pukkusa thuộc bộ tộc Malla, và ngày xưa cũng đã từng
là đệ tử của đạo sĩ Alara Kalama, vị đạo sĩ mà vị sa
môn trẻ Siddhatta đã từng đến thọ giáo. Pukkusa đã nghe nói đến Bụt.
Sau khi lạy Bụt, ông dâng lên Bụt hai tấm y mới để Bụt dùng. Bụt nhận một tấm
và bảo Pukkusa cúng dường tấm kia cho đại đức Ananda.
Sau
đó, Pukkusa xin được làm đệ tử Bụt. Bụt dạy đạo lý cho ông;
Pukkusa sung sướng cảm tạ rồi từ giã Người.
Thấy
y của Bụt đang mặc đã lấm bùn, đại đức Ananda thay y mới cho Người.
Sau đó, Bụt và các vị khất sĩ cùng đứng dậy và đi về phía
Kusinara.
Đến
bờ sông Kakuttha, Bụt đi xuống sông để tắm và uống nước. Tắm và uống
nước xong, Bụt lên bờ, đi về một vườn xoài gần đó. Người bảo khất
sĩ Cundaka xếp áo và trải xuống đất cho Người nằm. Khất
sĩ Cundaka ngồi hầu bên cạnh.
Bụt
gọi đại đức Ananda:
-
Ananda, bữa cơm sáng ngay tại nhà của cư sĩ Cunda là bữa
cơm cuối cùng của Như Lai. Sau này có thể có người làm cho Cunda
bị mặc cảm là đã cúng dường bữa ăn cuối cùng
cho Như Lai. Vậy thầy nên tìm dịp nói cho Cunda biết là những
bữa cơm mà Như Lai nhớ mãi là bữa cơm Như Lai thọ nhận trước
khi thành đạo và bữa cơm Như Lai thọ nhận trước
khi nhập Niết bàn. Người cúng dường một trong hai bữa cơm ấy
phải nên vui mới đúng.
Sau
khi nghỉ ngơi một lát. Người nói:
-
Ananda, chúng ta hãy đi qua bên kia sông Hirannavati để vào rừng cây
sala của bộ tộc Malla. Rừng cây này rất đẹp, nó nằm ở chỗ ngã rẽ đi
vào thành phố Kusinara.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét