Thích Nhất Hạnh
Chương 77
Sinh tử là hoa đốm giữa hư không.
Mùa
an cư hoàn mãn, Bụt cùng Ananda đi hành hóa khắp nơi ở trong xứ
Magadha. Những chốn non xanh nước biếc Bụt đều đi tới, không có nơi nào Người
không dừng lại để thăm viếng các trung tâm tu học để giảng
dạy và khích lệ các vị khất sĩ và nói pháp thoại cho giới
cư sĩ. Đại đức Ananda thường được Bụt chỉ cho thấy những cảnh
tượng đẹp đẽ. Đại đức vốn ít để ý đến phong
cảnh vì tâm trí mãi lo cho Bụt, Bụt biết như thế nên thường nhắc
thầy.
Đại
đức nhớ lại trong suốt gần hai mươi năm làm thị
giả cho Bụt, Bụt đã chỉ cho thầy xem biết bao nhiêu là cảnh đẹp.
Người hay nói: “Nhìn đi, Ananda, núi Thứu đẹp biết bao, khả ái biết bao!”,
“Này Ananda, động Saptapanni cũng thật đẹp”... Ananda thấy rõ Bụt là người tu sĩ
cũng biết thưởng thức những gì hay và đẹp, nhưng không vướng
mắc vào bất cứ một cái đẹp hay cái xấu nào.
Mùa
mưa năm sau, Bụt về tu viện Jetavana an cư. Vua Pasenadi
đi du hành mãi tới giữa mùa an cư mới về. Về tới kinh đô,
biết Bụt hiện đang an cư, vua liền đến thăm Bụt.
Vua
nói với Bụt là vì tuổi đã lớn, vua không ưa ở hoài trong cung điện. Vua muốn
đi đây đi đó để thấy được những cảnh đẹp của thiên nhiên. Giao công việc
cho các quan đại thần, vua đi rong chơi du ngoạn, chỉ đem
theo một vài người tùy tùng. Không những vua đi du ngoạn ở
những nơi trong nước, vua còn đi đến các nước láng giềng, không phải
với tư cách một vị quốc vương, mà với tư cách một
kẻ hành hương. Vua đi mà cũng để thực tập thiền hành. Buông
bỏ mọi ưu tư, bước từng bước thanh thản và chú ý đến cảnh vật.
Vua nói những cuộc du ngoạn như vậy làm ấm lòng người.
- Thế
Tôn, trẫm năm nay đã bảy mươi tám tuổi. Thế Tôn cũng vậy. Trẫm nghe
nói Thế Tôn gần đây cũng ưa đi du sơn ngoạn thủy. Trẫm
cũng lớn tuổi như Thế Tôn nhưng trẫm không làm được lợi ích gì cho
ai, còn Thế Tôn, thì đi đâu cũng giảng dạy và hướng dẫn cho mọi
người tu học. Thế Tôn đi đến đâu là như mặt trời chiếu
sáng đến đó.
Rồi
vua tâm sự với Bụt về một nổi buồn thầm kín của ngài. Số là trong một cuộc âm
mưu đảo chính xảy ra tại kinh đô bảy năm về trước, vua đã kết tội oan vị tướng
tài quân đội hoàng gia là Bandhula và đã xử tử ông ấy. Mấy năm sau,
vua mới biết là mình đã sai lầm. Ngài hối hận lắm. Vua đã tìm mọi cách
để phục hồi danh dự cho tướng Bandhula và đã bồi đắp lại cho gia
đình ông, vua cũng đã cất nhắc đưa người cháu của ông ấy là tướng Karayana
lên chức tổng soái quân đội hoàng gia.
Mỗi
khi Bụt an cư tại thủ đô, vua đến tu viện Jetavana hầu như
mỗi ngày để nghe thuyết pháp hoặc tham dự vào những cuộc
pháp đàm, hoặc ngồi im lặng với Bụt. Mãn mùa an cư, Bụt
lại lên đường du hóa và vua cũng cùng đoàn tùy
tùng của ngài đi du ngoạn.
Năm
sau, cuối mùa an cư, Bụt đi lên xứ Kuru. Sau khi ở đó hai
tháng, Bụt lại theo bờ sông đi xuống Kosali, về Banarasi, ghé Vesali,
rồi lại đi lên miền Bắc. Một hôm nọ, đang cư trú hành
đạo tại tỉnh Medalumpa, một tỉnh lỵ nhỏ trong vương quốc Sakya quê hương
của mình, Bụt tình cờ gặp vua Pasenadi.
Lần
này vua đi du hành có đem theo thái tử Vedudabha và
tướng Karayana theo. Đang đi du sơn ngoạn thủy vua chợt
nhớ Bụt, và hỏi thăm không biết Bụt hiện giờ ở đâu.
Người ta cho vua biết là Bụt đang hành đạo ở tỉnh lỵ Medalumpa,
Medalumpa chỉ cách Nagaraka nơi vua đang du ngoạn chỉ chừng nửa ngày
đường. Mừng quá, vua bảo Karayana thắng xe đưa vua tới thăm Bụt. Đoàn tùy tùng của
vua chỉ đem theo có bốn chiếc xe. Tới Medalumpa, vua hỏi thăm, và biết
được Bụt đang cư trú trong một công viên. Xa giá của vua dừng lại ngoài cổng.
Để đoàn tùy tùng ở lại bên ngoài, vua bảo tướng Karayana
cùng đi với vua vào công viên. Thấy bóng các vị khất sĩ áo vàng qua
lại, vua tìm tới một vị gần nhất và hỏi thăm Bụt ở đâu, vị khất
sĩ chỉ cho vua một túp lều ẩn dưới bóng cây và nói:
-
Tâu hoàng thượng, Bụt đang ở trong ngôi nhà đó, cửa đóng, hoàng thượng
cứ thong thả đi tới đấy, rồi hoàng thượng ho lên một tiếng, và gõ hai
tiếng. Thế nào đức Thế Tôn cũng mở cửa mời hoàng thượng vào.
Vua
bỏ lại thanh gươm và tháo vương miện xuống trao cho vị tướng lĩnh, bảo ông
ta trở lại với đoàn tùy tùng để đợi mình. Rồi vua một
mình tiến đến túp lều nơi Bụt ở. Tới trước cửa, vua ho lên một tiếng. Chưa
kịp gõ cửa thì cửa đã mở. Bụt mỉm cười khi thấy vua. Người cầm tay dắt vua vào
trong nhà. Hai đại đức Ananda và Sariputta hiện có mặt để
hầu chuyện với Bụt trong tịnh thất cũng đứng dậy chào.
Bụt
mời vua ngồi trên một chiếc ghế, rồi tự mình ngồi xuống trên chiếc ghế đối
diện. Hai vị đại đức đứng hầu sau lưng Bụt. Vừa ngồi xuống vua
đã chợt đứng dậy. Vua sụp lạy xuống dưới đất và ôm hôn hai bàn
chân của Bụt. Vua quỳ trong tư thế ấy thật lâu, hai tay vuốt ve bàn
chân của Bụt, miệng nói:
- Thưa
Thế Tôn, trẫm là Pasenadi vua nước Kosala, trẫm xin kính lễ đức Thế Tôn.
Trẫm là Pasenadi vua nước Kosala, trẫm xin kính lễ đức Thế Tôn.
Bụt
đỡ vua dậy. Người mời vua ngồi lại một lần nữa xuống ghế, rồi Người
nói:
- Đại
vương, sao hôm ngài lại hành lễ cung kính quá như
thế? Chúng ta không phải là một đôi bạn thân thiết hay sao?
Vua
nói:
- Bạch
đức Thế Tôn, con có một vài điều muốn nói ra để Thế Tôn nghe, vì con
sợ không còn dịp.
Bụt dịu
dàng:
-
Điều gì, xin đại vương cứ nói.
- Thưa
Thế Tôn, con hoàn toàn tin tưởng nơi Thế Tôn, bậc toàn
giác, con hoàn toàn tin tưởng nơi giáo pháp của Bụt và
nơi giáo đoàn khất sĩ của Người. Con đã từng thấy và gặp
những tu sĩ Bà la môn và các đạo sĩ các giáo phái
khác, họ có thể tu hành đứng đắn, có khi được mười, hai mươi, ba mươi
hay bốn mươi năm, nhưng sau đó con lại thấy họ bỏ cuộc và đi vào nếp
sống ngũ dục. Ở trong đạo pháp của Thế Tôn, con thấy các
vị khất sĩ hầu hết đều tu phạm hạnh cho đến trọn đời.
Thế
Tôn, con từng thấy mọi người luôn có tư tưởng kình địch chống phá lẫn nhau. Nhưng
ở đây, con thấy các vị khất sĩ sống trong hòa kính, an vui, hòa hợp
nhau như nước với sữa. Con không thấy ở đâu có được cái tình thương
yêu và hòa điệu như trong giáo đoàn của Người.
Thế
Tôn, khắp nơi con đã từng thấy giới đạo sĩ dáng điệu khắc
khổ, mặt mày ủ rủ, âu sầu và lo lắng. Nhưng ở đây, con chỉ thấy các
vị khất sĩ luôn luôn tỉnh táo, tươi cười, vui vẻ, an
nhiên và tĩnh lặng. Thế Tôn, điều đó khiến con càng tin
tưởng nơi Thế Tôn và giáo pháp của Người.
Thế
Tôn, con là vua thuộc dòng dõi thiện chiến, con có binh quyền, uy lực
và mọi người phải quỳ phục dưới chân con. Thế nhưng thiên hạ vẫn
không mấy kính nể con. Vậy mà con thấy ở đây, trong giáo
đoàn Người, có khi có cả ngàn vị khất sĩ ngồi nghe Bụt nói, mà
con không nghe thấy một tiếng động nhỏ, dù là tiếng đắng hắng hay
tiếng sột soạt của y áo, đừng nói có ai dám thất kính với Bụt. Bạch Thế
Tôn, con nghĩ thật là mầu nhiệm, Bụt chẳng cần quyền uy, chẳng cần
gươm giáo, chẳng cần trừng phạt gì mà mọi người đều kính yêu Bụt một
cách tuyệt đối. Thế Tôn, điều này cũng làm cho con càng tin
tưởng ở Thế Tôn và giáo pháp của Người.
Thế
Tôn, con đã từng thấy và nghe giới trí thức và giới học giả
lừng danh bàn bạc với nhau đưa ra những câu hỏi bí hiểm có
thể làm cho Bụt lúng túng, nhưng khi đến gặp Thế Tôn và
nghe Thế Tôn thuyết pháp, họ cứ há miệng mà nghe để rồi tất cả đều
bị Thế Tôn chinh phục, đến nổi không có cơ hội và thời
giờ để hỏi những câu hỏi hóc búa của họ, những câu hỏi mà sau
cuộc gặp gỡ với đức Thế Tôn họ tự nhận thấy là rất ngây thơ. Thế
Tôn, điều này cũng là điều làm cho con có thêm tin tưởng nơi Thế
Tôn và giáo pháp của Người.
Thế
Tôn! Người thuộc về giai cấp vua chúa, con cũng thuộc về giai
cấp vua chúa. Người năm nay đã bảy mươi chín, con năm nay cũng đã bảy mươi
chín, vì vậy con nghĩ đây là cơ hội quý báu để con tỏ
lòng tôn kính Bụt hết mức và để con bày tỏ niềm tri kỷ giữa
con và Bụt, bây giờ con xin từ tạ Bụt con đi.
Bụt
nói:
- Đại
vương, ngài hãy trân trọng giữ sức khỏe.
Và
Bụt đứng dậy đưa tiễn vua ra cửa.
Lúc
Bụt trở vào, hai đại đức Ananda và Sariputta đứng dậy chắp
tay im lặng. Hai đại đức đã chứng kiến từ đầu đến cuối
buổi gặp gỡ này giữa Bụt và vua, Bụt nói:
-
Này hai vị! Quốc vương Pasenadi đã nói những lời chân
thành nhất của vị quốc vương đối với Tam Bảo. Các thầy nên
ghi nhớ lấy để làm vững chắc thêm đức tin của những đệ tử về sau này.
Một
tháng sau, Bụt lên đường về miền Nam. Đi được chừng nửa tháng, Người
về đến núi Linh Thứu, vừa về Bụt nhận được hai tin tức cùng một lúc: vua
Pasenadi đã băng hà và đại đức Moggallana đã bị những người
thuộc giáo phái lõa thể ám hại ngay tại cổng tu
viện Trúc Lâm.
Quốc
vương Pasenadi đã băng hà không phải ở thủ đô Savatthi mà ở
Rajagaha. Theo tin tức nhận được thì sau cuộc viếng thăm Bụt ở tỉnh
lỵ Medalumpa, vua đã trở lại với đoàn tùy tùng, nhưng khi vừa ra tới cổng,
vua chỉ còn thấy có một chiếc xe và một người cung phi ở lại. Hỏi ra
thì ba chiếc xe kia đã trở về Savatthi dưới sự cưỡng ép của tướng
Karayana, đem theo vương miện, ấn tín và thanh gươm báu của
vua. Karayana bảo thái tử Vidudabha phải trở về ngay
Savatthi để lên ngôi vua, đừng để một người quá già yếu ngồi trên
ngai vàng mãi thế. Thái tử dùng dằng chưa chịu thì Karayana
dọa rằng nếu thái không chịu về làm vua, ông ta sẽ về kinh tuyên
bố đảo chánh và tự xưng vương. Dưới áp lực ấy, thái
tử Vidudabha buộc đã phải làm theo.
Vua quyết
định đi về thành Rajagaha để cầu viện với đứa cháu là quốc
vương Ajatasattu. Suốt quãng đường dài, vua chỉ uống nước mà không ăn gì
được. Về tới Rajagah thì trời đã khuya và cửa thành đã đóng. Vua phải vào nghỉ
đêm trong một trạm nghỉ bên đường. Đêm ấy vua lên cơn bạo bệnh và qua đời
trong tay vị cung phi. Người cung phi này than khóc như mưa cho
số phận của vị hoàng đế. Sáng hôm sau, khi hay tin, vua Ajatasattu
vội vã cho rước long thể vào cung và ra lệnh tổ chức một lễ quốc tang long
trọng cho người bác của mình. Tang lễ hoàn mãn, vua định cử binh trị
tội quốc vương Vidudabha, nhưng vua đã bị y sĩ Jivaka can gián.
Jivaka nói rằng dù sao quốc vương Pasenadi cũng đã băng hà và vua mới
bên nước Kosala cũng là anh em cô cậu của vua, có cử binh chinh phạt cũng không
đưa đến được một giải pháp nào khác. Nghe lời Jivaka, vua
đã cử sứ thần qua Savatthi để thừa nhận quốc vương mới.
Còn
đại đức Moggallana là vị đại đệ tử thứ ba của Bụt đứng sau Kondanna
và Sariputta. Đệ tử lớn của Bụt có nhiều nhưng các vị đã viên tịch
trước Bụt. Đại đức Kondanna, thủ lĩnh của năm vị khất
sĩ đầu tiên được nghe Bụt thuyết pháp tại vườn Lộc
Uyển đã tịch. Đại đức Uruvela Kassapa và hai người em cũng đã
tịch. Ni trưởng Mahajapati cũng đã viên tịch từ
lâu. Ni sư Yasodhara và đại đức Rahula cũng đã nối tiếp
nhau viên tịch. Đại đức Rahula viên tịch năm đại
đức được năm mươi mốt tuổi. Đại đức Moggallana là một vị
đại khất sĩ có rất nhiều dũng khí. Người là kẻ phát ngôn bạo dạn
và cương trực nhất của giáo đoàn khất sĩ. Khi cần
phải tuyên bố lập trường của giáo đoàn hoặc
của giáo pháp, đại đức bao giờ cũng nói thẳng, không khi
nào chấp nhận sự thỏa hợp. Cũng vì lý do này mà
trong giới ngoại đạo có nhiều kẻ thù ghét đại đức. Hôm
ấy đại đức cùng ra đi với hai vị đệ tử, lên đường rất
sớm. Bọn sát nhân có dự tính trước cho nên đã mai phục bên
ngoài tu viện. Họ xông ra tấn công khi thấy đại đức. Họ tấn công
bằng gậy gộc. Ba thầy trò tay không, không thể nào chống
lại được họ, vì họ quá đông, và cũng vì họ có khí giới trong
tay. Hai vị đệ tử bị đánh văng ra ngoài. Họ kêu cứu, nhưng không kịp
nữa, đại đức đã bị bọn bất lương hạ sát, đại đức hét lên
một tiếng vang động cả rừng cây trước khi bị bọn chúng đập xuống
những gậy cuối cùng. Khi các thầy trong tu viện chạy ra thì bọn
sát nhân đã tẩu thoát hết. Hai vị đệ tử bị đả thương khá nặng. Khi
Bụt về tới thì nhục thân của đại đức đã được trà tỳ. Tro xương
của đại đức đã được thu góp trong một chiếc bình và đặt sẵn bên
ngoài tịnh xá của Bụt.
Bụt hỏi
thăm đại đức Sariputta, các thầy cho biết là đại
đức Sariputta đã đóng cửa am thất từ ngày đại
đức Moggallana bị ám sát. Ai cũng biết hai vị đại đức này
thân với nhau còn hơn anh em ruột, đối với nhau luôn
luôn như hình với bóng, Bụt chưa kịp nghỉ ngơi đã phải đi tìm đến am thất của
Sariputta để an ủi đại đức. Đại đức Ananda đi
theo Người, đại đức nghĩ chắc thế nào Bụt cũng đang buồn. Không
buồn sao được khi mất một lần hai vị đệ tử lớn: vua
Pasenadi và đại đức Moggallana. Bụt đi an ủi đại
đức Sariputta, nhưng ai sẽ an ủi Bụt? Như để trả
lời câu hỏi thầm kín trong đầu của đại đức Ananda, Bụt quay lại
nhìn thầy rồi nói:
-
Này Ananda, ai cũng nói thầy học nhiều và ghi nhớ nhiều về chánh pháp.
Thầy không nên lấy sự học nhiều và nhớ nhiều làm đủ. Chăm sóc cho Như Lai và lo
lắng cho giáo đoàn, điều đó tuy cần thiết nhưng cũng không
đủ, thời giờ còn lại có là bao, thầy phải nổ lực để vượt
thoát sinh tử. Thầy phải bình thản trước sinh tử, thấy sinh
tử như những hoa đốm giữa hư không.
Đại
đức Ananda cúi đầu, đi im lặng.
Ngày
hôm sau, Bụt xuống núi, đến tu viện Trúc Lâm. Người đề nghị vị
trí để xây tháp kỷ niệm đại đức Moggallana và để an
trí xá lợi của đại đức này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét