Thích Nhất Hạnh
Phần 12
Những năm tháng cuối đời.
Chương 70
Bụt từ đâu tới và sẽ đi về đâu?
Một
hôm nọ, khi trời đang cơn mưa tầm tả, có một vị du sĩ tới viếng. Vị du sĩ này
tên là Uttiya. Đại đức Ananda tiến dẫn ông vào gặp Bụt.
Thầy giới thiệu vị du sĩ, lấy ghế mời ông ngồi, rồi đi lấy khăn để
ông lau khô đầu tóc và mình mẩy.
Uttiya
an tọa rồi hỏi Bụt:
- Thưa
sa môn Gotama, thế giới là còn mãi hay là sẽ có khi bị hoại
diệt?
Bụt mỉm
cười, nói:
-
Du sĩ Uttiya, tôi xin phép không trả lời câu hỏi đó.
Uttiya
hỏi:
- Thế
giới là có biên giới hay không có biên giới?
-
Tôi cũng không trả lời câu hỏi đó.
- Vậy
thì thân thể và linh hồn là một hay là hai?
-
Câu hỏi này tôi cũng xin phép không trả lời.
- Sau
khi chết, sa môn Gotama còn hay là mất?
-
Câu hỏi này tôi cũng xin phép không trả lời.
-
Hay Ngài nghĩ rằng sau khi chết, Ngài vừa còn mà cũng vừa mất?
-
Du sĩ Uttiya, câu hỏi đó, tôi cũng không trả lời.
Uttiya ngạc
nhiên. Ông nói:
-
Câu nào tôi hỏi, sa môn Gotama cũng không trả lời. Tại sao thế?
Vậy hỏi câu nào sa môn Gotama mới chịu trả lời?
Bụt
nói:
-
Tôi chỉ trả lời những câu hỏi về đạo pháp có liên
hệ tới công phu tu tập nhằm thanh lọc thân tâm,
vượt thắng lo âu và giải thoát đau khổ mà thôi.
- Đạo
pháp của sa môn Gotama có thể cứu độ được bao nhiêu
người trên thế giới?
Bụt
lặng yên không nói.
Du
sĩ Uttiya cũng ngồi yên lặng.
Sợ
vị du sĩ nghĩ lầm rằng Bụt không thèm nói hoặc không đủ sức trả
lời những câu hỏi của ông ta, và nghĩ như thế thì tội nghiệp cho
ông ta quá, đại đức Ananda lên tiếng:
-
Thưa du sĩ Uttiya, để tôi nói cho ông bạn nghe một ví dụ này, và ông có
thể hiểu ý của thầy tôi. Giả dụ có một ông vua nọ, cư trú
trong một thành trì thật kiên cố, có hào sâu và hầm chông bao quanh, chỉ
có một cửa ra vào mà thôi, và ở cửa ra vào ấy vua đã cử một người
thật sáng suốt đứng canh gác. Người gác cửa này chỉ cho vào thành
những người nào mà ông ta biết và nhận ra được họ. Ngoài ra, ông ta sẽ
ngăn chặn tất cả người lạ mặt. Ông ta cũng đã đi tuần hành chung quanh thành
trì và biết rõ rằng không có một kẻ hở nào mà ngoại nhân có thể đột
nhập được vào thành, dù cho một cái lỗ nhỏ đủ để một con mèo chui qua. Ông
vua trấn ngự trong thành không lưu tâm tới số lượng những người được
phép qua lại cổng thành. Ông vua ấy chỉ quan tâm đến việc
làm thế nào để kẻ gian không đột nhập vào thành mà thôi. Thầy tôi
cũng vậy! Sa môn Gotama không quan tâm tới số lượng những
người theo đạo. Sa môn Gotama chỉ quan tâm tới những pháp
môn có hiệu lực ngăn chặn và diệt trừ tham dục, thù
hận và mê vọng, để thực hiện an lạc và giải
thoát mà thôi. Nếu ông bạn hỏi thầy tôi những câu hỏi thật sự hữu ích cho
việc điều phục thân tâm và tu tập thiền quán thì thầy
tôi sẽ trả lời ông, chứ không im lặng.
Du
sĩ Uttiya lĩnh ý, nhưng vì ông ta quá chú trọng đến những vấn
đề thuộc phạm vi lý luận siêu hình nên ông đã cáo
từ Bụt và đại đức Ananda mà không cảm thấy thỏa
mãn cho lắm.
Sau
đó mấy hôm lại, có một vị du sĩ khác tên là Vacchagota tới viếng Bụt. Ông ta
cũng hỏi Bụt những câu có tính cách tương tự như những câu hỏi của du
sĩ Uttiya. Ví dụ ông hỏi:
- Sa
môn Gotama, xin Ngài cho biết là có ngã hay không?
Bụt
im lặng không đáp. Sau vài câu hỏi không được giải đáp,
Vacchagota đứng dậy và bỏ đi.
Sau
khi Vacchagota đã đi khuất, đại đức Ananda hỏi Bụt:
- Thưa
Thế Tôn, trong các buổi pháp thoại, Thế Tôn đã từng giảng dạy
về đạo lý vô ngã. Tại sao hôm nay Thế Tôn không trả
lời những câu hỏi về ngã của du sĩ Vacchagota?
Bụt
nói:
-
Này Ananda, đạo lý vô ngã mà tôi giảng dạy cho các vị khất
sĩ là một pháp môn hướng dẫn thiền quán, mà không phải là
một chủ thuyết. Hiểu nó như một chủ thuyết, các vị có thể bị mắc kẹt vào nó.
Tôi đã có lần bảo các thầy là giáo pháp phải được xem
như chiếc bè chở ta qua sông, như ngón tay chỉ mặt trăng, và ta không
nên bị mắc kẹt vào giáo pháp hay sao? Du sĩ Vacchagota chỉ muốn tôi
đưa ra một chủ thuyết thì tôi đưa ra sao được. Tôi không muốn cho Vacchagota mắc
kẹt vào một chủ thuyết, dù là chủ thuyết hữu ngã hay là chủ thuyết vô ngã.
Nếu tôi nói với ông ta là có ngã, thì là tôi ngược lại giáo pháp của
mình. Nếu mình nói với ông ta là không có ngã, để ông ta níu vào đấy như một
chủ thuyết rồi để ông ra bị mắc kẹt vào đấy thì có ích gì cho ông ta? Vậy
nên im lặng là câu trả lời tốt nhất trong trường
hợp này, thà rằng họ cho là tôi “không biết” còn hơn là họ bị mắc kẹt
vào kiến chấp.
Một
hôm, đại đức Anuruddha trên đường đi khất thực bị một nhóm
du sĩ chặn lại chất vấn. Họ bắt thầy phải trả lời cho được câu
hỏi của họ. Họ nói trả lời được thì họ mới cho đi. Họ hỏi:
- Chúng
tôi nghe đồn sa môn Gotama là bậc giác ngộ vẹn toàn,
và giáo pháp của
Người rất cao siêu mầu nhiệm. Thầy là môn đệ của sa
môn Gotama, vậy xin thầy cho biết: “sau khi chết sa
môn Gotama có còn hiện hữu hay không?”
Rồi
các vị du sĩ buộc đại đức Anaruddha chọn một trong những mệnh đề sau:
1. Sau
khi chết, sa môn Gotama còn.
2. Sau
khi chết, sa môn Gotama mất.
3. Sau
khi chết, sa môn Gotama vừa còn vừa mất.
4. Sau
khi chết, sa môn Gotama vừa không còn vừa không mất.
Khất
sĩ Anuruddha biết rằng trong bốn câu trả lời đó không có
câu trả lời nào phù hợp với giáo pháp của Bụt.
Thầy im lặng, nhưng các vị du sĩ không bằng lòng với sự im
lặng đó. Họ buộc thầy phải nói ra một điều gì đó.
Cuối
cùng, đại đức nói:
-
Này các bạn, theo tri kiến của tôi thì bốn mệnh đề đó, không mệnh đề
nào diễn tả được sự thật về sa môn Gotama.
Các
thầy du sĩ cười và bảo nhau:
-
Xem bộ vị khất sĩ này là người mới tu cho nên ông ta mới không trả
lời được câu hỏi của mình và tìm mọi cách để thối thác. Thôi chúng
ta nên để cho ông ta đi thôi.
Nói
xong, họ bỏ đi.
Sau
đó mấy hôm, trong giờ pháp thoại, đại đức Anuruddha đem sự việc
xảy ra trình lên Bụt, rồi thầy nói:
- Bạch
Thế Tôn, xin Thế Tôn soi sáng cho chúng con, để chúng con
được học hỏi thêm và để cho chúng con có khả năng trả
lời mỗi khi được hỏi những câu hỏi tương tự.
Bụt
hỏi Anuruddha:
-
Này Anuruddha, đi tìm bắt sa môn Gotama bằng khái niệm rất
khó. Sa môn Gotama ở đâu? Anaruddha! Có thể tìm sa
môn Gotama nơi hình sắc không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Có thể tìm sa môn Gotama nơi cảm giác không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Có thể tìm sa môn nơi tri giác, tâm tư và nhận
thức không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
- Vậy
thì Anuruddha, có thể tìm sa môn Gotama ngoài hình
sắc không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Có thể tìm sa môn Gotama ngoài cảm giác không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Có thể tìm sa môn Gotama ngoài tri giác, tâm tư và nhận
thức không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
Bụt
nhìn Anuruddha:
- Vậy
thì tìm sa môn Gotama ở đâu? Này Anuruddha, ngay trong giờ
phút hiện tại đứng trước sa môn Gotama mà còn không nắm bắt
được sa môn Gotama huống hồ là sau khi sa môn Gotama diệt
độ! Tự thân của sa môn Gotama, cũng như tự thân của bất cứ
một pháp nào trong vạn pháp, không thể nào nắm bắt được bằng khái niệm,
bằng những phạm trù của nhận thức phân biệt. Phải thấy cho được
các pháp trong liên hệ duyên khởi của nó. Phải thấy cho được sa
môn Gotama nơi những pháp mà ta thường cho là không phải sa
môn Gotama, như thế mới thấy được chân tướng của sa
môn Gotama.
Này
Anuruddha! Muốn thấy được tự tánh của một đóa hoa sen, ta phải
thấy cho được đóa sen ở nơi những pháp mà ta không gọi là đóa sen, như ánh
sáng mặt trời, nước hồ, đám mây, bùn đất, hơi nóng ... Chỉ có cái
thấy đó mới đưa ta vượt thoát được cái lưới biển kế sở chấp, tức là cái
lưới phân biệt khái niệm về những phạm trù sinh, diệt, này,
kia, có, không, dơ, sạch, thêm, bớt ... Muốn thấy được sa
môn Gotama cũng thế. Bốn phạm trù: có, không, vừa có vừa không,
không có cũng không không, chỉ là bốn cái lưới nhện trong số bao nhiêu cái
lưới nhện khác, chấp vào những cái lưới nhện ấy thì không đủ sức nắm bắt
được thực tại mầu nhiệm.
Này
Anuruddha! Thực tại tự thân không thể dùng khái niệm phân
biệt mà nắm bắt được, không thể dùng ngôn ngữ văn từ mà
diễn bày được. Chỉ có trí tuệ thực chứng do thiền
quán đem lại mới giúp ta nhận thức được tự thân của thực tại.
Này
Anuruddha, ví như có một người chưa bao giờ nếm hương vị của một trái
xoài thì không thể nào biết được hương vị ấy dù người khác có dùng bao
nhiêu ngôn ngữ, văn từ và khái niệm phân
biệt để diễn tả hương vị trái xoài cho người kia nghe. Chỉ
có thể tự người ấy nếm thử trực tiếp hương vị trái xoài thì mới biết được,
cũng như phải thực tập thiền quán để có kinh nghiệm chứng đắc trực
tiếp mới đưa ta thể nhập được vào thực tại. Do đó tôi đã từng
nhiều lần nói với các vị rằng đừng nên đi lạc vào thế
giới của hý luận để tránh đánh mất thời gian quý
báu của sự tu tập quán chiếu.
Này
Anuruddha! Vạn pháp là vạn pháp trong cái tự thân như
thật của nó, cho nên ta gọi tự thân của các pháp là chân
như (tathatha). Chân như là tự thân mầu
nhiệm của vạn pháp. Đóa sen từ chân như mà tới, Anuruddha
cũng từ chân như mà tới, sa môn Gotama cũng từ chân
như mà tới. Từ chân như mà tới thì gọi là Như Lai (tathagatha).
Từ chân như mà tới, vậy vạn pháp đi về đâu? Vạn
pháp đi về chân như. Đi về chân như thì gọi là Như Khứ
(tathagatha). Thật ra vạn pháp không từ đâu tới cả, cũng không đi về
đâu cả, vì tự thân của vạn pháp đã là chân như rồi. Anuruddha!
Nghĩa đích thực của Như Lai là không từ đâu tới mà cũng không đi về
đâu cả (từng vô sở lai, diệc vô sở khứ). Anuruddha, từ hôm
nay trở đi tôi sẽ tự gọi là Như Lai (tathagatha). Như Lai ưa
từ này, bởi vì từ này tránh được ý niệm phân biệt có thể thấy được
trong các đại danh từ tôi và ta.
Đại
đức Anuruddha mỉm cười:
-
Bạch Thế Tôn, từ nay Người là Như Lai đối với chúng con. Chúng
con biết rằng chúng con cũng từ chân như tới, nhưng chúng con không
tự xưng chúng con là Như Lai, chúng con chỉ để Như Lai sử dụng đại
danh từ này.
Thế
Tôn, mỗi lần Thế Tôn tự gọi mình là Như Lai, chúng con lại có
dịp được nhắc nhở để quán chiếu và nhớ rằng chúng con cũng thuộc về
cùng một bản thể chân như, bất sinh và bất diệt.
Bụt mỉm
cười:
- Như
Lai rất hài lòng vì đề nghị ấy của thầy Anuruddha.
Đại
đức Ananda có mặt trong buổi tham vấn kỳ diệu hôm ấy. Sau
khi cuộc tham vấn chấm dứt, thầy đi theo đại
đức Anuruddha. Thầy đề nghị là ngày hôm sau, hai người sẽ lên trùng tuyên
cho đại chúng nghe nội dung của cuộc tham vấn từ đầu tới
cuối, và đại đức Anuruddha sẽ bắt đầu buổi trùng tuyên bằng cách
thuật lại cuộc đối thoại giữa thầy và các du sĩ ngoại đạo trên đường
phố Savatthi. Thầy Anuruddha rất hoan hỷ về đề nghị này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét