17 thg 4, 2023

HẠNH PHÚC ĐẾN TỪ SỰ BIẾN MẤT - CHƯƠNG 1 (gộp bài)

TIÊU TRỪ BẢN NGÃ ĐỂ ĐẠT ĐẾN PHÚC LẠC VÔ TẬN

Thiền sư Ajahn Brahm

CHƯƠNG 1

BỨC TOÀN CẢNH

Dù bạn đang ở đâu - trong tu viện, trong thành phố, trên những con đường rợp bóng cây - lúc này lúc khác, bạn sẽ gặp các trục trặc, khó khăn. Đây chẳng qua là bản chất của cuộc sống. Vì vậy, khi có vấn đề về sức khỏe, bạn không nên nói: “Có gì đó không ổn với tôi – hôm nay tôi bệnh”; thay vào đó, bạn nên nói: “Có gì đó đúng với tôi – hôm nay tôi bệnh”. Bản chất của cơ thể con người là thi thoảng bị bệnh. Cũng vậy, bản chất của hệ miễn dịch là không miễn dịch vào lúc bạn không ngờ tới, bản chất của máy móc là lâu lâu bị hỏng. Cuộc sống tự nhiên là vậy. Dù có vật lộn, cố gắng làm cho cuộc sống diễn ra êm ả cho bản thân và người khác, chúng ta cũng không thể đảm bảo điều ấy xảy ra.

Mỗi khi bạn rơi vào đau buồn, bực tức hay khó khăn, hãy luôn nhớ tới một trong các ý nghĩa sâu xa của khổ: bạn đòi hỏi cuộc đời một thứ nó không thể cho bạn. Chúng ta kỳ vọng cuộc đời những thứ không thể. Chúng ta đòi hỏi mọi chuyện hoàn hảo, mọi vật hoàn hảo, tất cả những gì chúng ta nỗ lực xây dựng, định hướng, và thu xếp diễn ra hoàn hảo vào đúng lúc, đúng chỗ. Tất nhiên, đó là đòi hỏi một thứ không thể được. Chúng ta đòi hỏi sự giác ngộ, ngay ở đây và bây giờ. Nhưng đó không phải cách mà vũ trụ này vận hành. Nếu bạn đòi hỏi một thứ mà cuộc đời không thể trao cho bạn, thì bạn nên hiểu rằng mình đang đòi hỏi sự khổ.

Vậy nên, dù đang làm việc hay hành thiền, hãy chấp nhận rằng thi thoảng mọi thứ sẽ không ổn. Việc của bạn là không đòi hỏi những gì cuộc đời không thể cho bạn. Việc của bạn là quan sát. Việc của bạn là không phải cố gắng thúc đẩy cuộc đời diễn ra theo cách bạn muốn. Việc của bạn là hiểu, chấp nhận, và buông xả. Càng chống lại thân tâm, chống lại cuộc đời, bạn càng gây thêm thiệt hại và càng rơi vào đau khổ.

Đôi lúc, khi thấu hiểu và đứng lùi lại khỏi mọi sự việc hằng ngày, chúng ta sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh. Chúng ta thấy không có gì không ổn với người khác, không có gì không ổn với chính mình, không có gì là không ổn với đời. Chúng ta sẽ hiểu rằng, “không ổn” chẳng qua là điều tự nhiên của cuộc sống - đó cũng là điều Đức Phật nói tới trong chân lý cao quý đầu tiên về khổ (1). Bạn cố hết sức làm cho cuộc sống này ổn thỏa, làm cơ thể bạn, tâm trí bạn an ổn - nhưng rồi mọi thứ cứ không ổn.

---------------------------------------------------

(1) chân lý cao quý đầu tiên về khổ: gọi là Khổ Đế. Khi Đức Phật giác ngộ, đầu tiên Ngài đã thuyết giảng về chân lý cao quý Tứ Diệu Đế (Khổ đế - Tập đế - Diệt đế - Đạo đế) cho năm anh em Kiều Trần Như  - Kinh Chuyển Pháp Luân.


BÀI 1

HIỂU RẰNG KHỔ LÀ ĐỘNG LỰC CHO TU TẬP

Sự suy ngẫm về khổ (dukkha), là một phần quan trọng của tu tập Phật giáo đích thực. Chúng ta không cố gắng kiểm soát khổ; thay vào đó, cố gắng hiểu nó bằng cách xem xét nguyên nhân của nó. Đây là điểm quan trọng trong tu tập, vì hầu hết mọi người khi rơi vào khổ thường phạm sai lầm là trốn chạy khỏi nó hoặc cố gắng thay đổi nó. Họ đổ lỗi cho máy móc trục trặc, nhưng đương nhiên máy móc là thế. Mọi thứ bất ổn, thế là chúng ta khổ. Vì vậy chúng ta nên đổi thái độ, đừng cưỡng lại. Khi không chống lại cuộc đời và bắt đầu hiểu về khổ, chúng ta có một phản ứng khác. Nó được gọi là nibbidà hay trí tuệ chán ghét.

Phản ứng được gọi là nibbidà này đến từ chỗ hiểu bản chất của thân tâm và thế gian, chúng chỉ là vô thường, khổ và vô ngã. Bạn hiểu bản chất của việc tu tập Phật Giáo, của việc thiền định mỗi ngày. Bạn biết sẽ có điều không hài lòng và sẽ có vấn đề. Bạn đủ sáng suốt để không trốn chạy những vấn đề hoặc thay đổi chúng. Bạn hiểu rằng vấn đề là cố hữu trong kết cấu của luân hồi (samsara). Đây là một trong những tri kiến lớn của Đức Phật, thúc đẩy Ngài nói ra bài thuyết pháp đầu tiên, Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutra).

Khi bạn nhận ra khổ là cố hữu trong vòng luân hồi, điều đó thay đổi phản ứng của bạn. Giống như có một quả táo thối rữa và bạn cố gắng bỏ những phần thối rữa để sử dụng phần còn lại. Khi có trí tuệ, bạn sẽ thấy toàn bộ trái táo bị thối rữa, và phản ứng tự nhiên là chán ghét - bạn chối bỏ toàn bộ trái táo, quăng nó đi. Bạn không cần đến nó, có thể buông xả nó. Điều quan trọng là hiểu nỗi khổ trong cuộc đời, thấy được tại sao sự khổ và sự không hài lòng là không thể tránh được. Bạn không bao giờ có khả năng kiểm soát nó, loại bỏ nó hay làm cho nó thành ổn thỏa hơn.

Khi chúng ta suy ngẫm và hiểu như vậy, nó cho chúng ta động lực và sự khích lệ để tu tập. Theo kinh văn (sutta), khi Đức Phật thấy người ta già đi, mắc bệnh và chết, vậy là đủ để thúc đẩy Ngài tìm giải pháp cho khổ. Ngài nhận ra rằng già, bệnh, chết là điều tự nhiên mà Ngài chưa vượt qua được. Bởi vậy, Ngài có động cơ lên đường tìm sự chấm dứt những vấn đề này.

Từng vấn đề kể trên cũng là những gì đợi bạn trong tương lai. Đây là thứ chắc chắn: bạn sẽ già đi, mắc bệnh và chết. Bạn chẳng thể làm gì để thay đổi sự việc. Đây là những thực tế về sự tồn tại của bạn, về cơ thể bạn và về mọi thứ khác. Mọi thứ rồi sẽ già đi, phân hủy và biến mất - mọi thứ bất ổn và sụp đổ. Đức Phật khi ấy đủ sáng suốt để biết rằng, dù với tất cả những phẩm chất tâm linh cao quý và công đức đã tích lũy, Ngài cũng không tránh được nỗi khổ ấy. Và Ngài cần một phản ứng khác: thấu hiểu nó.


BÀI 2

XA LÌA

Kinh Chuyển Pháp Luân dạy, chân lý cao quý đầu tiên phải được thấu hiểu. Nói cách khác, bạn không cố gắng chiến thắng nổi khổ, bạn không cố gắng thay đổi nó, bạn không cố gắng làm cho nó tốt hơn hay trốn chạy khỏi nó; bạn hiểu nó. Những thời điểm khó khăn là những cơ hội tuyệt vời để đối mặt với khổ, hiểu nó trọn vẹn mà không chọn cách dễ dàng là trốn chạy.

Phản ứng tự nhiên của hầu hết mọi người là mỗi khi khổ hay khi có vấn đề gì đó xảy ra là trốn chạy; họ chìm đắm trong tưởng tượng, xem phim, lướt web, táng gẫu, uống rượu hay cà phê, hoặc đơn giản là đi dạo. Chúng ta thật ra đang cố tránh điều gì? Chúng ta đang chìm vào những tưởng tượng ấy vì cái gì? Nó là phản ứng theo thói quen của chúng ta trước việc mọi thứ không đủ tốt, không làm thỏa mãn. Nếu thật sự muốn đi tới đâu đó, bạn phải trở nên sáng suốt và tự do, Đức Phật nói rằng, bạn phải thấu hiểu về khổ.

Khi bắt đầu tìm hiểu, bạn nhận ra rằng chúng ta đều trải qua khổ. Trong Trưởng lão ni kệ (Therigatha) có một câu chuyện nổi tiếng về Kisagotami. Cách Đức Phật đưa Kisagotami thoát khỏi sự đau khổ do cái chết của con trai bà, sự giảng dạy làm bà thấy rõ rằng mọi người khác cũng chết: cái chết của con trai bà không phải là một sự kiện duy nhất trong thế gian này, mà gắn liền với mọi cái chết khác. Đức Phật muốn Kisagotami hiểu được cái khổ gọi là chết. Chết là điều tự nhiên; nó là một phần trong cách thức vận hành của sự vật. Nó ở mọi nơi; không ai trốn được nó. Vì vậy thay vì cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách đưa con mình trở lại cuộc sống, Đức Phật dạy bà Kisagotami hiểu được bản chất của vấn đề.

Khi hiểu, chúng ta không phải cứ thế chấp nhận số phận, bởi vì như vậy cũng không hẳn tốt đẹp. Nghĩ “Thôi kệ, đây là cách mọi thứ phải vậy!”, không phải phản ứng đúng. Khi có sự thấu hiểu về khổ, chúng ta hiểu mình đang tham dự vào điều gì, đời thật sự là như thế nào, lúc ấy phản ứng tự nhiên chỉ có một. Không phải cố gắng chạy trốn hay chấp nhận mọi điều xảy đến, mà là sự chán ghét.

Trí tuệ chán ghét có nghĩa là hiểu được bản chất vô thường của thế gian và xa lìa hay xả bỏ. Chúng ta thoát khỏi thứ ràng buộc. Cố gắng thay đổi mọi thứ chỉ khiến bạn dính mắc vào mọi thứ nhiều hơn, và chấp nhận mọi thứ cũng giữ bạn dính mắc vào. Xa lìa nghĩa là bạn để những thứ ở đó như vậy, không bận tâm hay lo lắng về chúng. Bạn chỉ ở đó, không can thiệp vào điều bạn đang trải qua. Bằng cách bạn không đưa bản thân vào điều bạn đang trải qua, bạn đứng lùi lại khỏi cuộc sống. Nó gần giống như từ bỏ, một kiểu từ bỏ làm cho mọi thứ biến mất.

Bạn đọc trong kinh văn rằng Đức Phật, bởi từ bi, nên biết cách khiến mọi người dứt bỏ ý nghĩ. Đôi lúc mọi người sa vào chuyện trò vì họ không có việc gì tốt hơn để làm. Đằng nào bạn cũng không có được câu trả lời về Pháp (Dhamma) đích thực bằng cách đặt các câu hỏi. Bạn chỉ có được những câu trả lời bằng cách ngồi tĩnh lặng và dứt bỏ tư tưởng, không phải bằng cách thúc đẩy nó hơn nữa. Vì vậy, khi có người hỏi tôi, tôi cố gắng đưa ra câu trả lời ngắn gọn nhất có thể. Đây là cách tôi giúp mọi người thoát khỏi chuyện phiếm.

Bạn nên xa lìa những thứ trong đời cũng theo cách như vậy. Sao phải sa vào tất cả những thứ này? Hãy nhìn vào chúng và nhận ra chúng chỉ gây khổ cho bạn: chúng chỉ khiến bạn mệt mõi và bực bội. Thông qua nibbidà (tuệ chán ghét), tất cả những đối tượng của giác quan mất dần tầm quan trọng.


BÀI 3

"KHÔNG PHẢI VIỆC CỦA TÔI"

Khi suy ngẫm về cuộc sống, bạn đi đến chỗ nhận ra nó hoàn toàn không thể kiểm soát được. Và bất cứ thứ gì không thể kiểm soát được thì không phải việc của bạn. Đó là một câu nói đơn giản nhưng tuyệt diệu mà tôi dùng trong tu tập, và tôi cũng khuyến khích người khác dùng. Dù bạn đang trải qua điều gì, ở bất kỳ nơi đâu, dù điều gì đang xảy ra trong thực tại hay trong ý nghĩ, hãy nói với nó: “Không phải việc của tôi”. Chuyện ai đó có thái độ không đúng hay nói gì với bạn, đó không phải việc của bạn; nó là nghiệp (1) của họ, không liên quan gì đến bạn.

Nếu bạn nhạy cảm với lời nói của người khác, để chúng làm tổn thương hay bị xúc phạm, bạn nên nhớ đến lời dạy của Đức Phật khuyên con trai mình là Rahula: Hãy như đất. Người ta vứt rác ra đất, giẫm đạp lên đất, làm những điều tồi tệ với đất, nhưng đất không bao giờ phàn nàn; nó đơn giản chấp nhận mọi thứ. Người ta cũng làm những điều tốt đẹp trên đất. Họ trồng cây, làm vườn, hay xây nhà cửa. Nhưng đất cũng không phản ứng, dù có bất cứ điều gì xảy ra với nó.

Vì thế hãy giống như đất. Dù mọi người nói, hay làm gì, đừng xao động. Nếu họ khen, hay chê bạn, đó là việc của họ, đừng xao động. Không cần phải bị tác động bởi lời nói và hành động của người khác, dầu lời nói ấy tốt hay xấu. Khi bạn có thái độ “Không phải việc của tôi”, nó sẽ không bao giờ làm bạn bực dọc.

Với cơn đau trong cơ thể và bệnh tật cũng vậy. Khi hành thiền, hãy nhắc mình nhớ rằng chúng không phải việc của bạn; chúng là việc của cơ thể - hãy để cơ thể quan tâm đến chúng. Như vậy thực ra là một cách hiệu quả để giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Một điều lạ là, khi bạn càng lo âu, quan tâm tới cơ thể, nó càng trở nên tệ hơn. Nếu bạn xa rời cơ thể, ngồi tĩnh lặng, để tâm trí trở nên buông xả, cơ thể biến mất, nó có khuynh hướng tự chữa lành. Thông thường, khi bạn cố gắn kiểm soát và sắp xếp mọi thứ, chúng dường như tệ hơn, với cơ thể cũng vậy. Đôi lúc, khi bạn để mặc nó và chỉ thư giãn, cơ thể trở nên thoải mái đến mức nó tự chữa lành. Vì vậy, hãy buông xả và quên nó đi.

Tôi biết rất nhiều tu sĩ, dưới tác động của hành thiền, các vấn đề bệnh tật của họ biến mất. Lần đầu tiên tôi thấy điều đó là với Ajahn Tate. Hồi tôi mới tới Thái Lan năm 1974, ông đang nằm viện vì bệnh ung thư không thể chữa khỏi. Họ đưa ra các cách điều trị tốt nhất, nhưng chẳng điều gì có tác dụng, bởi vậy họ gửi trả ông lại tu viện. Và hai mươi lăm năm sau ông mới chết. Đó là một ví dụ về điều xảy ra khi hành thiền. Tóm lại, bạn xa lìa mọi thứ - nibbidà (chán ghét) khởi lên – và tâm trí trở nên buông xả. Nó đã chứa đủ rồi và bạn thấy chúng tan đi.

Đây là quá trình mà kinh văn nói tới: trí tuệ chán ghét (nibbidà) dẫn tới sự không chấp thủ (viraga), hay không còn dính mắc. Một khi bạn coi điều gì đó không phải việc của mình, nó mất dẫn khỏi thế giới của bạn. Tâm trí không còn sa vào nó nữa; tâm trí không nghe, thấy, cảm nhận, hay biết về nó. Điều này diễn ra như sau. Bất kể điều gì mà bạn bám vào đều choán chỗ của tâm trí - đó là nơi tâm trí tìm được chổ để dựa và phát triển. Bạn đang tạo ra những chấp thủ. Là người hành thiền tôi thấy rất rõ chúng tạo ra thế giới cho chính mình. Nhưng khi bạn “xa lìa”, ở đó không có việc gì của bạn, và do bạn không lưu tâm đến nó nữa, nó biến mất khỏi tâm trí. Khi đã chán ghét, thực tế bạn đang “phá bỏ” thế giới quan của mình - những chấp thủ - mà chính bạn tạo nên.

------------------------

(1) nghiệp: Theo tiếng Sanskrit gọi là karma, Pàli gọi là kamma, có nghĩa là hành động có tác ý hoặc có ý thức (volitional action). Nói cách khác, nghiệp luôn  được bắt nguồn từ những tạo tác của ý chí thông qua những hoạt động của thân, miệng tác động đến đối tượng, gọi chung là tam nghiệp. Khi một hành động (tạo tác) nếu không phát sinh từ ý chí thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động ấy được gọi là hành động duy tác.


BÀI 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Đã bao nhiêu lần bạn cố gắng giải quyết “vấn đề”? Bạn sẽ cố giải quyết nó không chỉ đến tận lúc chết, mà còn trong nhiều kiếp sống tiếp theo. Thay vì vậy, hãy hiểu rằng thế gian này chỉ là trò chơi của các giác quan. Chính năm uẩn (khandha) đang làm việc của chúng; chẳng có gì liên quan đến bạn.

Là người hành thiền, tôi thường tự hỏi: “Sao âm thanh lại khiến mình xáo động?” Dù là âm thanh của một con chim ngoài kia, ai đó ho, hay dập cánh cửa, sao mình lại nghe? Thông qua quán sát âm thanh và hiểu cách nó vận hành, rõ ràng lý do duy nhất tôi nghe là bởi tôi hướng sự chú ý ra ngoài để nghe. Có sự tham gia tích cực vào thế giới âm thanh. Vì lẽ đó, nó gây phiền não. Ajahn Chah từng nói, “không phải âm thanh khiến bạn xáo động; chính bạn làm xáo động âm thanh”. Đó là câu nói sâu xa, rất có ý nghĩa. Tôi dùng câu nói ấy để hiểu bản chất của âm thanh, tại sao nó gây xáo động như vậy.

Khi ai đó mạt sát bạn, bạn không cần lắng nghe. Chúng ta lắng nghe bởi vì chúng ta quan tâm đến nó; chúng ta tham dự và dính mắc vào thế giới của âm thanh. Nhưng khi nhận ra âm thanh chỉ là âm thanh, đúng như bản chất của chúng, ta đạt được sự buông xả. Có những âm thanh dễ chịu, có những âm thanh khó chịu. Một số loài chim có giọng hay, một số loài kêu thật khủng khiếp. Nhưng đó không phải lỗi của chúng; chẳng qua bản chất chúng là vậy. Với con người cũng thế; có những người như quạ và có những người như chim sơn ca; một số nói dễ nghe, một số nói giọng kinh khủng. Đó là điều tự nhiên vậy thôi. Chẳng có gì liên quan đến chúng ta, bởi vậy chúng ta nên xả bỏ.

Khi thông qua nibbidà (tuệ chán ghét), chúng ta xa lìa những thứ ấy, chúng tan đi. Khổ tan đi bởi nguyên nhân của khổ tan đi. Thế gian mà chúng ta nhận thức bằng giác quan bắt đầu biến mất khi ta không còn quá bận tâm tới việc thay đổi nó. Thông qua nibbidà, chúng ta xa lìa và chối bỏ nó. Đây là bởi sự chán ghét đến từ chỗ thấy thế gian thật sự như nó là. Với cái nhìn ấy, chúng ta đi theo một hướng khác với phần còn lại của thế gian.


BÀI 5

NGƯỜI MANG THÔNG ĐIỆP CHÂN LÝ

Một cách khác để nhìn vào sự xa lìa thế gian là xem đó như một sự dịch chuyển vào tâm trí, vào vùng trung tâm của sự yên lặng. Đôi lúc, bạn có thể thấy gia đình, bạn bè hay thế gian cứ lôi kéo bạn ra ngoài - ra khỏi trung tâm của mình. Bạn cảm nhận sức lôi kéo ấy. Cả đời bạn cứ bị lôi kéo như vậy, nhưng điều đó có làm bạn hạnh phúc không? Đừng nghĩ rằng bạn có thể thoát khỏi nỗi khổ vì những cuộc vui, những dục lạc, hoặc bạn cho rằng mình đặc biệt và sáng suốt hơn người khác. Nghĩ rằng bạn giỏi hơn, rằng bạn có thể tránh khỏi những vấn đề mà người khác phải đối mặt trong cuộc sống, đó chẳng qua là sự kiêu ngạo của bản ngã.

Khi còn nhỏ, tôi cũng có những đam mê tưởng tượng. Tôi học cách không để chúng chi phối tôi bằng việc xem chúng dẫn tới một kết luận logic nào. Tôi sẽ nghĩ: “Rồi thì sao? Rồi thì sao?” và sẽ không dừng lại chừng nào chưa có được một bức tranh trọn vẹn. Với những đam mê, tưởng tượng.., câu “Rồi thì sao?” khiến chẳng còn gì vui vẻ, bởi “rồi thì sao?” chỉ còn lại sự trống rỗng. Không có màu sắc, sự tươi sáng, niềm vui và hạnh phúc gì nữa, vì cái “rồi thì sao” sẽ là tất cả những gì mọi người đều trải qua. Khi phần vui vẻ mất dần và tan đi, bạn trở lại nơi bạn đã bắt đầu. Và bạn vẫn chưa hiều gì về cuộc sống. Bạn đang cố đi qua, có được vài khoảnh khắc dễ chịu và vui vẻ. Để đến cuối cùng bạn đang trôi lăn về phía tuổi già và sự xa cách những người thân yêu. Ý nghĩa gì chứ? Nhưng nếu đi theo con đường nibbidà, bạn là người sáng suốt. Bạn đã trải qua khổ đủ rồi, nghĩa là đã có đủ dữ liệu để xử lý. Hãy suy ngẫm về nỗi khổ ấy khi bạn gặp khó khăn và nuôi dưỡng nibbidà (tuệ chán ghét).

Khi tu tập, có lúc bạn cảm thấy buồn tủi. Nếu bạn chỉ đang ngồi đó và không biết làm gì – không muốn tọa thiền, đi lại hay đọc sách, và thật sự chán ngấy – hãy quán xét sự buồn chán đó. Nếu bạn tìm hiểu nỗi khổ, không có khoảnh khắc nào mà bạn không thể tận dụng hay khai thác cho sự trưởng thành của mình. Rèn luyện tâm không phải ở chỗ kiểm soát sự việc mà là hiểu chúng. Hãy xem những khó khăn và thất vọng như những thiên sứ (devaduta) – những người mang thông điệp chân lý, tới để dạy bạn về Pháp.

Ajahn Chah luôn gọi những sự việc như vậy là Kruba Ajahn – người thầy lâu năm. Kruba Ajahn không sống trong một tu viện cụ thể nào đó. Đó là một Kruba Ajahn tưởng tượng. Kruba Ajahn thật sự sẽ ở trong căn phòng của bạn khi bạn thức dậy buổi sáng và mệt mõi đến nỗi không muốn ra khỏi giường. Kruba Ajahn sẽ ở đó khi bạn đang tọa thiền thời gian dài mà chẳng đi đến đâu. Kruba Ajahn đích thực sẽ ở đó khi bạn đang tu tập, tự hỏi mình đã đạt được những gì. Khi bạn sắp nhập định thì một con quạ tạo ra tiếng ồn lớn, hoặc bất kỳ trường hợp nào khác khiến bạn thật sự thất vọng và vỡ mộng – đó là Kruba Ajahn. Nó phải được suy ngẫm, lắng nghe và thấu hiểu.


BÀI 6

DỊCH CHUYỂN VÈ PHÍA TRỐNG RỖNG

Khi thấu hiểu nổi khổ thế gian, bạn thấy thế gian như một đống rác. Do là rác nên bạn xa lìa. Khi xa lìa, nó tan đi, sự chấp thủ cũng tan đi. Đây là điều tự nhiên. Bạn không phải làm cho nó tan đi. Nó không phải do lựa chọn ý chí hay do nghĩ “Mình muốn từ bỏ những người này, những vật này”. Bạn không cần từ bỏ bất kỳ điều gì. Chỉ là chúng không còn là mối bận tâm của bạn nữa. Khi bạn biết chúng không phải là mối bận tâm của mình, chúng tan dần và biến mất. Đây là ý nghĩa xâu xa hơn của đơn giản hóa và từ bỏ của cải. Bạn không chỉ từ bỏ những món đồ vật chất mà cả những “của cải trong tâm” – những thói quen và hận thù cũ, những cách nhìn nhận sự việc cũ mà bạn bám vào và chấp thủ. Bạn chối bỏ tất cả những gì khiến mình mệt mỏi, khiến mình bị câu thúc và giới hạn.

Hầu hết mọi người đều là những tù nhân bị giam hãm bởi quá khứ của mình. Họ đồng nhất bản thân với quá khứ, coi nó là con người họ, bản ngã (atta) của họ. Do họ xem mình là quá khứ, nó trở thành mối bận tâm của họ, họ dính mắc vào nó, vậy là chịu khổ. Nhưng họ không cần làm vậy, họ có thể buông xả nó. Cánh cửa phòng giam ấy luôn mở và bạn có thể đi qua nó bất kỳ lúc nào. Đừng nghĩ bạn phải giải quyết hết các vấn đề của quá khứ - đó chẳng qua là cảm giác tội lỗi. Bạn hoàn toàn có thể buông xả tất cả, vứt bỏ nó, để nó biến đi nếu bạn có dũng khí làm như vậy.

Vì thế, bằng cách nhận thức về khổ (dukkha-sanna), hãy tự hỏi rằng níu bám lấy quá khứ có tác dụng gì. Hãy nhìn nhận nó như nó là; hãy hiểu rằng nó gây khổ, hãy xa lìa nó, để nó tan đi. Bạn thậm chí không còn nghĩ tới quá khứ nữa. Khi bạn hiểu những thứ này là khổ, kết quả trực tiếp là sự xa lìa xảy ra, và hiểu càng sâu, chúng càng tan đi. Cuối cùng chúng không còn là một phần trong tâm trí của bạn nữa. Bạn nhìn thế giới bên ngoài và nó tan đi, bạn ngồi trong phòng của mình và toàn bộ thế giới biến mất. Bạn hiểu rằng ý nghĩa của thiền định là vậy. Thiền định là nghệ thuật để mọi thứ biến mất, tan đi, để chúng bốc hơi. Nó là sự dịch chuyển về phía trống rỗng.

Một trong những thứ quan trọng nhất phải tan đi để thiền định thăng hoa là suy nghĩ. Đầu tiên, bạn phải hiểu về suy nghĩ. Bạn phải nhìn nhận nó khách quan, xem nó như điều nó thật sự là. Suy nghĩ đưa bạn đi đâu? Bạn sẽ thấy suy nghĩ không phải là việc của mình. Khi hiểu đúng về suy nghĩ, bạn không cố gắng kiểm soát nó bằng ý chí, mà bạn hướng nibbidà (trí tuệ chán ghét) về phía nó. Để sử dụng một ví dụ trong kinh, chẳng hạn, hãy xem suy nghĩ như xác một con chó chết thối đeo quanh cổ bạn. Một khi nhìn nhận nó như vậy, bạn tự hỏi sao mình lại đang làm thế. Phản ứng tự động là quăng nó đi, giống như bạn sẽ quăng xác một con chó chết – thối rữa, bẩn thỉu, bốc mùi hôi hám. Đây là điều xảy ra khi bạn hiểu những thứ này. Bạn biết chúng không phải việc của mình. Bạn chối bỏ chúng, hay nói đúng hơn, sự chối bỏ tự nhiên xảy ra. Bạn đi theo một hướng khác: đi vào tâm thay vì đi ra ngoài thế giới.


BÀI 7

PHẢN ỨNG TỰ ĐỘNG

Nibbidà (trí tuệ chán ghét) khiến dừng các lậu hoặc (asava), hay những thứ tuôn ra từ tâm. Bạn biết điều này như thế nào: bạn đang ngồi thiền, không làm gì cả, và đột nhiên ý nghĩ bắt đầu tuôn trào ra – mình sẽ làm gì sau đó, những nhiệm vụ của mình, câu trả lời cho vấn đề mà mình đang cố gắng giải quyết. Ý nghĩ tuôn ra từ trung tâm của nó, và sự tuôn trào này được gọi là lậu hoặc. Vì sao nó tuôn ra? Bởi nó quan tâm đến thế gian; nó chưa hiểu chính nó. Khi chưa hiểu thế gian bên ngoài, bạn nghĩ thế gian là điều quan trọng với bạn – bạn nghĩ nó mang lại niềm vui, nghĩ rằng mình sẽ có được thứ gì đó từ những suy nghĩ ấy, từ sự sắp xếp tất cả mọi việc trong thế gian. Nhưng khi xa lìa, tất cả những thứ ấy tan đi, và lậu hoặc dừng lại. Cảm giác rằng thế gian này quan trọng cũng biến mất, bởi bạn hiểu nó không phải là điều bạn phải bận tâm. Khi thế giới bên ngoài tan đi, quá khứ, tương lai, và suy nghĩ cũng biến mất, và đó là khi thiền định thăng hoa.

Khi xa lìa những thứ bên ngoài, điều quan trọng là nhận ra rằng không phải bạn làm nó xảy ra. Tôi không thích việc sử dụng năng lực ý chí để theo dõi hơi thở. Tốt hơn là sử dụng năng lực trí huệ. Thông qua trí huệ, bạn thấy thế gian là khổ, rồi bạn xa lìa, và đạt đến nibbidà. Bạn không thể làm gì khác; nó là một phản ứng tự động. Vì vậy, hiểu về khổ và xa lìa là nền tảng mà bạn luôn trở về. Càng xa lìa, thiền định càng dễ dàng. Tôi nói là dễ dàng có nghĩa là thiền định cứ vậy mà xảy ra, thế thôi.

Khi xa lìa thế gian, bạn đi vào trong, và bạn ở trong khoảnh khắc hiện tại. Có thể bạn đang theo dõi hơi thở, nhưng khi đã hiểu, thậm chí bạn xả bỏ hơi thở. Bạn không cố gắn kiểm soát hơi thở hay làm cho nó khác đi. Hởi thở hoàn toàn tự nó đi vào và đi ra, còn bạn nhận ra rằng hơi thở không phải là việc của bạn. Bạn cũng hướng sự buông xả về phía nó, và nó tan đi. Theo Đức Phật, quán hơi thở là một phần của quán thân. Vì thế, khi bạn thấy hơi thở không liên quan gì tới bạn, và bạn xả bỏ nó, chính những gì còn lại của thân xác thể chất và năm giác quan sẽ tan đi và biến mất. Đó là lúc bạn bắt đầu đi sâu hơn. Do cơ thể và năm giác quan cuối cùng cũng tan đi, thiền định của bạn trở nên sâu, và bạn đi vào một thời khắc lớn.

Khi xa lìa khổ, không cố gắng kiểm soát cuộc đời, không cố gắng hiện hữu, chỉ để mọi thứ như chúng là, bạn có được điều ngày từ đầu bạn thực sự muốn: an bình và hạnh phúc. Sao mọi người lại vật lộn với cuộc đời để theo đuổi hạnh phúc? Hay bạn cho rằng cứ buông xuôi cuộc đời sẽ khiến bạn hạnh phúc? Điều đó chỉ làm bạn buồn chán và u mê, đôi lúc còn trầm cảm. Chỉ có con đường buông xả dẫn tới hạnh phúc đích thực. Bạn tĩnh lặng và bình an bởi mọi thứ biến mất.

Chỉ lúc ấy bạn mới hiểu trọn vẹn rằng ngay từ đầu mọi thứ đều là khổ. Năm giác quan là khổ, thế gian là khổ. Nói và nghĩ là khổ. Bất cứ điều gì bạn làm là khổ. Khi bạn xa lìa và đi vào trong, tới nơi ác ma không thể tới, lúc ấy, có sự giải thoát khỏi khổ. Đây là con đường đi vào trạng thái tĩnh lặng sâu gọi là thiền Jhana; bạn xa lìa thế gian và cũng không dính mắc vào thiền. Khi bạn xả bỏ ý nghĩ và cơ thể, xa lìa thế gian; thiền cứ vậy xảy ra. Nó là một phản ứng tự động, và nó xảy ra khi bạn hiểu rằng tất cả những thứ này không phải là việc của bạn.


BÀI 8

TĨNH LẶNG

Đã lâu, tôi luôn cố gắng giữ cơ thể mình khỏe mạnh: tôi chăm sóc nó, cho nó nghĩ ngơi. Nhưng khi hành thiền, tôi nói: “Không phải việc của mình”. Tôi chỉ ngồi đó, xả bỏ hoàn toàn. Tôi xả bỏ ý nghĩ và tất cả những thứ khác. Tôi không phải cơ thể này, không phải quá khứ hay tương lai của mình. Tôi chỉ ngồi đó, để mọi thứ phai dần, tan biến đi mất.

Sự xả bỏ và trải nghiệm nibbidà như vậy dẫn tới không chấp thủ. Không chấp thủ đến lượt nó dẫn đến tịch diệt (upasama), tức sự tĩnh lặng và an bình. Thật là đẹp biết bao khi chạm tới sự an bình đích thực của tâm trong khi toàn bộ thế giới bên ngoài tan biến, còn bạn hoàn toàn tĩnh lặng. Tâm trở nên bất động, không kết nối với cơ thể cũng như quá khứ và tương lai. Nó bất động về thời gian và bất động về không gian, sự tĩnh lặng ấy để cho mọi thứ tan dần và biến mất. Mọi thứ chỉ tồn tại khi có sự dịch chuyển hay tác động nào đó, bởi lẽ giác quan chỉ nhận thức sự vật khi chúng chuyển động. Để các giác quan có thể biết bất cứ điều gì, chúng cần sự đối chiếu, chúng cần sự tương phản. Khi chúng tĩnh lặng, sự hợp nhất khiến mọi thứ tan đi: toàn bộ thế giới bên ngoài biến mất, hình ảnh mất dần, âm thanh mất dần, ký ức mất dần, quá khứ, tương lai, và suy nghĩ mất dần, thân thể biến mất.

Khi thân thể biến mất còn bạn trải nghiệm sự tĩnh lặng sâu xa bên trong, đó là trạng thái thiền. Trong trạng thái thiền ấy, bạn xa lìa thế giới bên ngoài, năm giác quan biến mất. Đôi lúc được gọi là xa lìa thế gian. Trên thực tế, nó còn hơn cả sự xa lìa; nó là xả bỏ hoàn toàn, chấm dứt hoàn toàn thế gian. Lúc này, bạn hiểu ý nghĩa của sự biến mất, của việc mọi thứ không còn ở đó nữa. Lúc này, bạn biết buông xả thật sự nghĩa là gì. Bạn xả bỏ thế gian, và nó mang lại thật nhiều niềm vui, thật nhiều bình an. Nói là xả bỏ, nhưng thật ra bạn không làm gì cả. Sự xả bỏ này thông qua sự hiểu biết, bởi lẽ kết quả tự nhiên của hiểu biết là nibbidà. Mọi thứ tan đi, và bạn có được trạng thái an bình tốt đẹp, sự tĩnh lặng của tâm.

Một khi bạn bắt đầu nếm trải sự tĩnh lặng trong tâm, nó có thể gây nghiện. Khi tâm nghiện sự tĩnh lặng, nó sẽ hướng bạn đi sâu hơn về phía niết bàn (nibbàna). Đức Phật đã nói sự dính mắc đến thiền định sâu có thế dẫn đến các giai đoạn giác ngộ. Bạn không cần quá bận tâm lo lắng về việc nghiện xả bỏ. Đây là sự thú vị, niềm vui trên con đường tu tập. Đây là con đường dẫn đến tự do. Nó có thể dẫn tới nhiều tan rã hơn, nhiều buông xả hơn. Nibbidà tăng lên, và nó thúc đẩy bạn xa lìa thế gian.

Đây là ý nghĩa của việc bạn biết vì sao mình đi theo con đường Phật giáo. Bạn biết tại sao lại có nhiều người đi trên con đường này, những người xa lìa thế gian, để cho thế gian tan đi. Họ hạnh phúc khi ở một mình, “cái tôi” của họ thực sự biến mất. Họ đi ngày càng sâu hơn vào bên trong, vì họ thấy những nổi khổ xung quanh không còn là mối bận tâm của họ. Họ xả bỏ, và mọi thứ tan dần, tan dần.


BÀI 9

THẤU HIỂU LÀ ĐIỀU CỐT LÕI

Để hành thiền, bạn không cần cố tình buông bỏ quá khứ, tương lai hay làm dứt bặt suy nghĩ bằng năng lượng ý chí. Chỉ suy ngẫm về nỗi khổ và hiểu nó ngay lúc này, thông qua bất kể điều gì mà bạn trải nghiệm. Thông qua sự hiểu biết ấy, thế gian sẽ mất dần tầm quan trọng, bạn sẽ không ghé lại sân chơi ấy nữa. Sân chơi của các giác quan, của quá khứ và tương lai, của những giấc mơ... Nó xảy ra không phải bởi bạn làm nó xảy ra, mà vì đây là phản ứng tự nhiên của tâm khi nó thấy khổ. Khi tất cả những thứ này tan đi, thiền định xảy ra. Bạn không trở thành người hành thiền; thiền định chỉ tự xảy ra. Nó là một con đường, một hành trình, và đây là những biển báo trên hành trình, những cột mốc trên con đường dẫn tới sự trống rỗng và diệt trừ hoàn toàn. Đó là điều xảy ra khi bạn buông xả.

Đức Phật nói khổ phải hiểu trọn vẹn. Mỗi khi bạn rơi vào khó khăn, trục trặc, thất vọng hay bất kỳ đau đớn về thân hoặc tâm, đừng chối bỏ nó; hãy hiểu nó. Đừng để mặc nó: hãy suy nghĩ và hiểu nó đến mức nó tan đi và bạn nhận ra rằng nó chẳng phải việc của bạn. Khi nó tan đi, sự đắm chìm vào thế gian bên ngoài của bạn sẽ bị phá vỡ, bạn bắt đầu đi vào thế giới bên trong - thế giới của sự tĩnh lặng. Bạn đi theo hướng ngược lại, không phải bên ngoài, mà là vào trong tâm. Cuối cùng, bạn cũng xả bỏ cả tâm trí, trải nghiệm sự tịch diệt hoàn toàn, chạm đến niết bàn, lúc ấy bạn sẽ là một A-la-hán (arahant). Đó thực sự là một điều tuyệt diệu.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***