Ajahn Sumedho
PHẦN III - SỐNG ĐẠO
CHƯƠNG 17
GIÁO DỤC CON NGƯỜI VỀ CUỘC ĐỜI
Trong tiếng La tinh, "giáo
dục" là "educere," có nghĩa là
"dẫn đến" hay "hướng đến." Hiểu được nghĩa
gốc của từ nầy, chúng ta có thể suy rộng ra ý nghĩa của hai chữ "giáo
dục". Nếu giáo dục là "dẫn dắt hay hướng con người đến một
cái gì đó" thì nó sẽ dẫn và hướng chúng ta đến cái gì? Mục tiêu
của người làm giáo dục là gì? Tôi cũng xin nói thêm về ý nghĩa của giáo dục,
cụm từ "hướng dẩn con người" gợi cho chúng ta một cái gì đó nhẹ
nhàng phải không các bạn? Khi bạn hướng dẫn người nào đó, bạn không thể ép
buộc họ. Và muốn hướng dẫn ai đó, bạn phải là tấm gương để họ
kính trọng và tự nguyện noi theo.
HƯỚNG DẪN BẰNG CÁCH LÀM GƯƠNG
Không ai muốn học bất cứ điều
gì, cho dù đó là những ý tưởng cao đẹp nhất, từ một ông thầy mà bản
thân ông ta không sống và thể hiện thật sự những gì ông ta thuyết giảng. Dưới
con mắt của học trò, ông ta chỉ là một người đạo đức giả. Chúng ta
chán ghét và phẫn nộ khi có ai đó bảo chúng ta phải sống tốt trong khi bản
thân họ lại xấu xa đê tiện. Vì thế, nếu người làm giáo dục mà không
xứng đáng với vai trò của họ, thì thay gì hướng dẫn, họ phải ép buộc và
cưỡng bức người khác. Kết quả là chúng ta sẽ có một nền giáo dục áp đặt,
mua chuộc, và chỉ biết kích thích bản năng ganh đua và tranh chấp giữa con
người.
Phần lớn ai cũng có xu hướng muốn
chứng tỏ mình giỏi hơn người khác. Khi khuynh hướng nầy được khuyến khích
trong giáo dục, nó sẽ kích thích mạnh mẽ sự ganh tỵ, mặc cảm tự ty, hay thái độ
tự mãn và tự tôn giữa con người với nhau. Đây là những tình cảm sẽ đưa con
người đến khổ đau và tuyệt vọng. Trong hệ thống giáo dục dựa trên sự
tranh đua, điều quan trọng là phải thắng lợi và thành đạt, và trong
cuộc đua nầy, chỉ có một người được thắng cuộc. Nhưng hệ thống giáo
dục dựa trên sự đoàn kết và hợp tác sẽ giúp mọi người phát triển tiềm năng
để trở thành hữu ích cho bản thân họ và xã hội. Vì thế, trong nền giáo dục lấy
sự đoàn kết và hợp tác làm căn bản, việc giáo dục hay "hướng dẫn con
người" cũng có nghĩa là chúng ta phải quan tâm đến từng con người cá
nhân trong đó.
Trong đời đi học, tôi đã gặp
nhiều vị thầy không thật sự làm đúng bổn phận của "người hướng
dẩn." Vì ai cũng phải đi làm để sống nên nhiều
người đã chọn nghề dạy học để sống. Khi hồi tưởng lại những
ngày đi học, tôi nhớ là có rất ít vị thầy đã thật sự cống
hiến đời mình cho học trò và hiếm khi họ là những người thật sự đáng
kính trọng. Nhưng thông thường, nhà trường cũng không đòi hỏi các thầy
giáo phải trở thành những người hướng dẫn xứng đáng. Trường học chỉ
trả lương để các thầy dạy học trong một thời gian rồi sau đó về nhà nghỉ
Trong môi trường đó, người thầy sẽ xem dạy học là để kiếm tiền như
bao nhiêu việc làm khác, thay vì là cái nghề mà qua đó, họ có thể hiến
dâng và phục vụ cho xã hội.
Các thầy giáo và trường học nên thấy
rằng giáo dục là một cái gì đó cao hơn là việc đào tạo nghiệp vụ. Tuy
các thầy cô không phải là nam hay nữ tu sĩ, nhưng nhiệm vụ của họ cũng gần
giống như thế, đó là hiến dâng và bố thí. Họ phải có tâm nguyện cao
cả để trở thành người hướng dẫn xứng đáng; họ phải được người khác
kính trọng và tin tưởng. Đây là thể hiện quan trọng nói lên bản chất của xã
hội, phải không các bạn? Xã hội cần có những người công dân gương mẩu, không
những gồm các tu sĩ mà cả thầy giáo, các vị có nghiệp vụ chuyên môn như kỹ sư,
bác sĩ, luật sư, và công chức nhà nước -- thậm chí cả vị Thủ Tướng hay Tổng
thống và tất cả những công dân bình thường ở lứa tuổi trưởng thành.
GIÁO DỤC LÀ CÁI GÌ CAO HƠN
VIỆC ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ
Lý tưởng mà nói, giáo dục phải chuẩn
bị cho con người đi vào cuộc đời. Nhưng thông thường người ta
chỉ nhìn giáo dục như một quá trình dạy cho học sinh biết đọc và biết
viết. Mục đích của giáo dục thường chỉ là dạy học sinh học hành, thi
cử đỗ đạt, kiếm được việc làm, và làm ra tiền rất sớm. Ngoài ra, nó không
chuẩn bị con người khả năng đối diện với tuổi già hay thất nghiệp. Trong chừng
mực nào đó, giáo dục không đáp ứng được nhu cầu của nhiều người vì nó
không chuẩn bị cho họ gì hết ngoại trừ tìm được việc làm.
Nhưng có được việc làm chỉ là
một phần của cuộc sống. Chúng ta chỉ làm việc một số giờ nào đó trong
ngày, và một số năm tháng nào đó trong đời. Và hiện nay, xã
hội đang phát triển theo hướng là sẽ giảm số giờ và số năm làm việc của
con người; hiện nay, người ta có khả năng về hưu sớm. Nhưng cũng chính khả
năng nầy lại làm cho nhiều người lo sợ. Họ than vãn, "Tôi sẽ phải làm gì
với thời giờ còn lại nếu phải về hưu lúc năm mươi lăm tuổi?" Các tu
sĩ Phật giáo không thể nghỉ hưu lúc năm mươi lăm tuổi. Lúc năm mươi lăm
tuổi, tôi xin phép về hưu nhưng Giáo hội đã từ chối. Tuy nhiên, đối với
những người không phải là tu sỉ, khả năng không phải làm việc suốt đời là
có. Đây là khả năng có thật.
Tuy nhiên, chúng ta luôn xem thất
nghiệp là con bệnh của xã hội. Chúng ta thường nói, "Nạn thất nghiệp thật
là kinh khủng", chứ không bao giờ nói, "Thất nghiệp là điều tốt và đáng
mừng vì công nhân sẽ không phải làm việc trong những hãng xưởng hay văn phòng
buồn bã và tẻ nhạt nữa, không phải lập đi lập lại những công việc nhàm
chán, thiếu hứng thú và chỉ mang lại bực bội và phiền não." Chúng ta không
cho thất nghiệp là điều đáng hoan hỷ; chúng ta cho đó là cái gì rất kinh
khủng. Khi có thất nghiệp, chúng ta tự trách là đã không làm tròn trách
nhiệm đối với giới trẻ vì đã không tạo cho họ những việc làm mà thực
chất là nhàm chán, lập đi lập lại, và không hứng thú chút nào, và
qua đó đã không giúp họ kiếm ra tiền. Nền giáo dục hiện đại làm cho
chúng ta tin rằng nếu không làm ra tiền, thì về thực chất, chúng ta không làm
gì cả. Trong mức độ nào đó, nhân phẩm chúng ta sẽ bị hạ thấp hoặc
chúng ta sẽ mất hẳn giá trị làm người.
Nền giáo dục hiện đại không
giúp chúng ta tìm hiểu những giới hạn của đời sống con người. Nó
không nêu những vấn đề như, "Đời sống là gì? Mục đích của cuộc
sống là gì? Ý nghĩa của con người sống trên trái đất nầy là gì?"
Những câu hỏi đại loại như trên đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và
quán tưởng; Chúng ta phải mở rộng tâm thức để tiếp nhận và ý thức về những
tình cảm, tư duy, kinh nghiệm, và cảm giác của chúng ta -- nói khác đi, để
tiếp cận với những giới hạn của kiếp sống con người. Nếu không biết giới
hạn của mình, chúng ta sẽ không tự lượng được sức và dễ đi đến chỗ
quá đà. Hoặc ngược lại, chúng ta sẽ bị mặc cảm tự ti và co rút lại
trong đời. Cả hai thái cực nầy đều dẫn con người đến những khó
khăn tâm lý và tình cảm về sau nầy.
Trong con người thường có nhiều loại
xung lực tâm lý, có loại tốt đáng được trân trọng; có loại xấu cần loại
bỏ. Những xung lực tâm lý nầy nối kết với nhau thành một chuỗi liên tục từ
cái cao thượng nhất đến cái hạ tiện nhất. Vì thế, trong khi hành
thiền và thực hành giáo Pháp, chúng ta sẽ tiếp cận và làm quen với những xung
lực tâm lý đáng được trân trọng bên trong chúng ta. Thấy được những
xung lực tâm lý nầy trong nội tâm và tìm cách thể hiện chúng ra trong cuộc sống
là điều rất quan trọng. Suy nghĩ và quán tưởng về những vấn đề
như "Làm người trong xã hội nầy, tôi phải sống như thế nào? Như một người
cha, mẹ, vợ, chồng, thầy giáo, luật sư, nhà kinh doanh, người buôn bán, thợ thủ
công, hay bất cứ nghề nào đi nữa, tôi nên sống như thế nào? Làm sao tôi có
thể hướng những khả năng và đức tính của mình đến những mục tiêu mà
tôi hằng kính trọng?" là rất quan trọng. Khi nêu lên và tìm giải đáp
cho những câu hỏi này, đó chính là lúc mà chúng ta đang "giáo
dục" hay "hướng dẫn" chúng ta về cuộc đời và hướng cuộc đời
chúng ta đến những mục tiêu cao cả; lúc đó nhận thức của chúng ta sẽ thống
nhất và hòa làm một với Sự Thật và Sự Thánh Thiện.
Ngược lại, chúng ta có thể đưa
một cá nhân hay cả một dân tộc vào con đường sai lầm. Tâm chúng ta có
thể đầy ấp với những mê tín dị đoan hay với những niềm tin và nhận
thức hoàn toàn sai lạc về cuộc đời.
Khác với những xã hội sơ khai, xã
hội hiện đại dễ đi vào con đường sai lầm. Trong thế giới
hiện đại, môi trường sống của con người ít nhiều rất giả tạo và có nguy cơ
là sẽ cắt đứt chúng ta khỏi quá trình phát triển tự nhiên của cuộc sống;
để cuối cùng chúng ta sẽ rơi vào những tháp ngà đầy ô nhiễm và ảo tưởng. Chúng
ta có thể xem thường những bộ lạc sơ khai, cho thế giới của họ là đầy dị
đoan và mê tín, nhưng chúng ta nên nhớ rằng họ vẫn sống gần gủi với thiên
nhiên. Thế giới quan của họ có thể khác với chúng ta, nhưng họ rất ý thức, tỉnh
giác và thường xuyên sống nhu thuận và hòa hợp với môi trường tự nhiên chung
quanh.
Khi nền văn minh hiện đại phát triển
và con người bị tác động bởi những hệ tư tưởng khác nhau, chúng ta có
khuynh hướng bị lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông đại
chúng. Khi xem truyền hình, tâm chúng ta chỉ tiếp thu những loại tin tức
rác rưởi và vô ích. Chúng ta sống một thế giới hoàn toàn giả tạo và quên
hẳn đi những dòng vận động tự nhiên của trái đất nầy. Thậm
chí, chúng ta mất hẳn liên hệ với thân thể vật chất của chính mình. Nếu không
nhờ gia đình, truyền thống tôn giáo, hay nhà trường nhắc nhở, chúng ta sẽ
mất hẵn ý niệm về sự thiêng liêng của cuộc sống; chúng ta sẽ bị chìm đắm
trong những thú vui thô thiển của ngũ dục, những trò tiêu khiển giải trí, hay
những cuộc phiêu lưu tình cảm. Và dĩ nhiên, sau khi đắm mình trong những
dục lạc trên, chúng ta sẽ càng điên loạn và sụp đổ tinh
thần. Tất cả những vấn đề của xã hội hiện đại đều bắt nguồn từ
những ô nhiễm và ảo tưởng trong tâm chúng ta và từ việc chúng ta đã mù
quáng chấp nhận những cái giả tạo mà xã hội nầy cung cấp.
Trở lại chuyện về Đức Phật,
Ngài luôn khuyên các tu sĩ vừa thọ giới tỳ kheo nên vào rừng để
sống. Ngài khuyên như thế với mục đích gì? Hãy tưởng tượng khi ngắm
cảnh núi rừng, tâm bạn sẽ như thế nào? Kinh nghiệm của riêng tôi cho thấy là
khi nhìn và tiếp cận với thiên nhiên chưa bị tàn phá, chưa bị hoen ố bởi dục
vọng và lo sợ của con người, tôi thường cảm thấy bình an và thanh tịnh. Cùng
thế ấy, nếu sống lâu trong rừng, bạn sẽ cảm thấy an tịnh. Cây cỏ và đời
sống ở rừng không làm ô nhiễm tâm chúng ta. Chúng chỉ là chúng; chúng không giả
vờ và ngụy tạo. Trong khi đó, rất nhiều điều mà con người tạo tác, xây dựng,
hay tái tạo lại giả tạo và khó có thể mang lại sự thanh tịnh cho tâm hồn chúng
ta.
GIÁO DỤC VỀ TÍNH CHẤT CHUNG NHẤT CỦA
CON NGƯỜI
Tuy nhiên, xã hội hiện đại cũng
có thuận lợi của nó. Nhờ vào khoa học kỹ thuật mà chúng ta có được
cái nhìn toàn cầu. Luân Đôn không xa Băng Cốc, Hoa Thịnh Đốn, hay bất cứ
nơi nào khác trên trái đất nầy. Đã có thời nước Anh chỉ dành cho
người Anh; phần đông dân chúng Anh theo đạo Ky Tô, và thuộc Giáo Hội Anh Quốc.
Lúc đó người Anh rất dễ đoàn kết, vì họ có chung một văn hóa, tôn giáo, và
giá trị đạo đức. Nhưng hiện nay, nước Anh đã mất đi sự
thống nhất và ổn định đó. Không ai biết được những mong ước, cảm
nhận và sở nguyện của phần đông dân chúng Anh hiện nay. Sự thống nhất
và đoàn kết về tôn giáo không còn nữa. Nước Anh trở thành đa tôn giáo,
đa màu da, đa nguyên và đa dạng trong mọi lãnh vực. Và trong chừng
mực nào đó, đây cũng là xu hướng phát triển chung của toàn thế giới.
Xu hướng đa nguyên này có những
thuận lợi và bất thuận lợi. Một trong những bất thuận lợi là sự rối loạn và mất
phương hướng của xã hội. Xã hội Anh có những lý tưởng của nó; Người Anh cũng
muốn làm những điều đúng đắn và hợp lý. Chắc chắn nó không phải là một xã
hội hạ tiện, ích kỷ, chỉ biết bo bo bảo vệ quyền lợi của mình. Nhưng hiện nay
nước Anh đang mất hướng vì cơ sở chung của toàn xã hội đang sụp
đổ. Các giai cấp và tôn giáo không ngừng tranh chấp lẫn nhau. Không
ai đồng ý với ai về bất cứ vấn đề gì.
Trên thế gian nầy, không có yếu tố
chung nào hết giữa con người với nhau ngoại trừ cái "chất người"
trong mỗi con người chúng ta. Là con người, chúng ta đều có chung một loại
đau khổ. Đó là tất cả chúng ta đều sẽ già, bệnh, rồi chết. Tất cả chúng
ta đều sầu bi và khổ não, cho dù chúng ta nói những thứ tiếng khác nhau,
có hình dáng khác nhau, cách thức ăn uống khác nhau, và những phản ứng
khác nhau với cuộc đời. Vì thế, chúng ta cần nhận thức rõ về cái
"chất người" chung nầy, nói khác đi, cần ý thức rõ về kinh
nghiệm khổ đau chung nầy của con người. Và đây là điều mà
những ai làm công tác giáo dục phải lưu ý và nhấn mạnh. Chúng ta cần ghi
nhớ điều nầy trong tâm và nhắc nhở người khác nhớ về điều này. Chúng
ta cần nhận thức về kinh nghiệm khổ đau chung nầy của con người, cho dù
kinh nghiệm khổ đau đang xảy ra ở Ethiopia hay tại cung điện hoàng gia Anh
Buckingham, ở Tòa Nhà Trắng của Tổng thống Mỹ hay tại Baghdad bên
Trung Đông, tất cả kinh nghiệm khổ đau đều giống nhau. Con người, cho
dù nam hay nữ, của tất cả các chủng tộc hay quốc gia đều có cùng một kinh
nghiệm, đó là được sanh ra, đau đớn, bệnh tật, già nua, rồi chết. Là
con người, chúng ta bị kiềm chế và giam hãm liên tục trong một trạng thái bất
toại nguyện, và cũng chính vì thế mà chúng ta đã dành phần lớn
cuộc đời mình để phấn đấu đi tìm sự thoải mái và toại nguyện. Chúng
ta phấn đấu một cách tuyệt vọng để được hạnh phúc và thoải mái -- và
cuộc đấu tranh giành hạnh phúc và thoải mái nầy đã biến thành
mục đích của toàn bộ cuộc đời chúng ta. Tuy nhiên, ngay cả những
lúc chúng ta đã có được an toàn và hạnh phúc, lo âu và sợ hãi vẫn không
rời chúng ta. Vì thế, khổ đau là kinh nghiệm chung của tất cả con người.
Và tâm từ và tâm bi cũng thế. Khái
niệm tâm từ hay metta trong đạo Phật có nghĩa là khả năng
kham nhẫn và chịu đựng những bất toàn của cuộc đời, xã hội, và của
chính chúng ta. Thái độ từ bi nầy là giá trị chung và phổ biến cho tất cả
mọi người. Bạn có thể từ bi với người Công giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, với
bất cứ hội đoàn chính trị nào, và với tất cả giai cấp trong xã hội.
Tất cả mỗi người trong chúng
ta đều có tâm từ nầy. Vấn đề là chúng ta thường không nhận ra nó,
bỏ quên nó trong lúc chạy theo những ham muốn và thôi thúc điên đảo
của chúng ta. Chúng ta bị cuốn hút trong cuộc sống đến nỗi chúng ta
quên đi những đức tính có công năng đem lại sự quân bình trong tâm như
nhẫn nhục, tha thứ, tử tế, và dịu dàng. Nhưng khi mở rộng và giải phóng tâm
khỏi những ô nhiễm và ảo tưởng về cuộc sống, chúng ta sẽ tiếp cận với tâm từ.
Tâm từ là tâm chung và phổ biến có mặt trong tất cả mọi người cho dù đó là
người có học hay dốt nát, là nam hay nữ. Tâm từ không phải là đặc quyền của
bất cứ giai cấp thống trị hay nhóm tôn giáo nào. Một tâm thức mở rộng bao la và
phủ trùm tất cả là mảnh đất chung cho tất cả mọi người; chính từ
mảnh đất đầy từ bi nầy, chứ không phải từ những lập trường cực đoan, mà
chúng ta có thể nhận diện cuộc đời một cách trong sáng và rõ ràng.
Nền giáo dục đúng đắn là nền
giáo dục hướng dẫn trẻ con, người lớn, nam hay nữ tu sĩ, người Ky tô giáo,
người Ấn độ giáo, người Hồi giáo -- và cùng bao nhiêu người khác nữa
-- tiến về cái chung và phổ biến của con người, thay vì hướng về sự chia rẽ và
phân liệt.
***
------------------------------
Câu hỏi:
* Tại sao Sư muốn thuyết
giảng đạo Phật cho người khác?
Trả lời: Tôi thuyết giảng đạo Phật vì
người ta muốn biết về đạo Phật. Như bạn biết, là một tu sĩ Phật giáo,
chỉ khi nào có yêu cầu, tôi mới được giảng về đạo Phật. Đây là một
trong những giới luật của người tu. Tôi không thể tự mình đứng lên và kêu
gọi, "Bạn nên theo đạo Phật." Nhưng nếu
bạn đến và yêu cầu, "Xin sư giảng Đạo Phật cho tôi
nghe" hay hỏi tôi, "Sư là ai? Sư theo đạo nào?",
lúc đó tôi mới được phép giảng về đạo Phật.
Tôi đến nước Anh vì có lời mời;
các Phật tử Anh đã mời tôi đến đây. Nếu không có lời mời của họ,
tôi đã không bao giờ đến đây. Vì thế một tu sĩ Phật giáo, cho dù
nam hay nữ, đều không phải là những nhà truyền giáo; chúng tôi không muốn
thay đổi đức tin của ai cả. Nhưng chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng
giảng cho những ai đến và hỏi hay muốn tìm hiểu về đạo Phật.
Truyền thống trong đạo Phật đòi
hỏi một nam hay nữ tu sĩ phải sống làm sao để cuộc đời của họ có thể khơi
dậy và làm tăng trưởng đức tin nơi người cư sĩ và thúc đẩy họ hướng về
đạo. Điều nầy có nghĩa là chúng tôi phải giữ tròn giới hạnh để các bậc
thiện trí kính trọng. Khi có ai đó phát tâm muốn tìm hiểu và đến hỏi
chúng tôi, "Đức tin của Sư là gì?" hay "Tại sao Sư
cạo đầu?" thì chúng tôi sẽ giải thích cho họ. Vì thế, giảng Pháp luôn
là một quá trình giải đáp những câu hỏi, chứ không phải là một cố
gắng để truyền đạo hay thuyết phục ai đó về một điều gì.
Vì đạo Phật chỉ mới thâm nhập
phương Tây gần đây, nên người ta thường hỏi chúng tôi, "Tu sĩ Phật giáo
các ông đã giúp ích được gì cho xã hội?" Người ta có thể cho
chúng tôi chỉ là những người ăn bám vào xã hội, hay chỉ là những
kẻ ăn không ngồi rồi. Họ chất vấn, "Thế thì các vị đã đóng
góp được gì cho nền hòa bình của thế giới?" Người ta thường đặt những
câu hỏi nầy cho chúng tôi vì đầu óc của người phương Tây thường cho là chỉ
có những hoạt động thiết thực và cụ thể mới là tốt. Nhưng trong truyền
thống đạo Phật, chúng tôi tu tập không phải để khẳng định mình là ai trong
xã hội. Phẩm chất đạo đức thể hiện trong cuộc sống của chúng tôi
là để tạo điều kiện hay trợ duyên cho người khác nhìn lại chính họ. Sự có
mặt của chúng tôi là để cho người khác đặt câu hỏi và quán tưởng về
cuộc đời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét