Ajahn Sumedho
PHẦN III - SỐNG ĐẠO
CHƯƠNG 15
HỌC LÀM ĐIỀU THIỆN
Bây giờ tôi thấy rất rõ là khi còn
là cư sĩ, tôi đã sống cuộc đời không đáng được trân trọng; tôi đã
sống si mê và không lành mạnh cho lắm. Tôi cũng nhận ra rằng, vì không tôn
trọng cách sống của mình nên tôi cũng đã không tôn trọng bản thân mình.
Nhưng từ khi tôi xuất gia, mọi việc đã thay đổi. Với quyết tâm
sống theo giới luật của tu viện, niềm tự trọng dần dần nẩy nở trong tôi. Tôi
bắt đầu quý trọng bản thân vì tôi biết quý trọng những gì tôi đang
làm, những cách sống, tâm nguyện, cố gắng tinh tấn, và những gì tôi đang
thực hiện trong đời. Khi nói điều nầy, tôi không có ý là tất cả
chúng ta đều nên xuất gia, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta nên nuôi dưỡng
lòng tự trọng bằng cách cố gắng làm những việc thiện lành.
Có nhiều hành giả rất tinh tấn hành
thiền nhưng lại dễ duôi trong việc giử gìn giới hạnh. Giới hạnh phải là nền
tảng cho tất cả quan hệ giữa người và người. Làm người, chúng ta cần
vươn đến một tiêu chuẩn nào đó về giới hạnh và đạo đức. Khi
không có lòng tự trọng, chúng ta dễ buông xuôi mọi việc, chỉ muốn sống sao cho
qua thì giờ, ứng xử theo những cách thường dẫn đến sự chia rẽ, ngờ vực và
nghi kỵ lẫn nhau. Xã hội ngày nay đang đau khổ với bao tệ nạn khủng khiếp
như nghiện ma túy, nghiện rượu, tham nhũng và bạo động giết
người. Những tệ nạn này đang trở thành khá phổ biến vì hiện nay con
người sống không có đạo lý. Và nếu không có đạo lý, chúng ta sẽ
rơi vào tình trạng sa sút tinh thần, tuyệt vọng, và đầy sân hận với chính
bản thân mình.
VƯƠN ĐẾN ĐỜI SỐNG ĐỨC HẠNH
Là con người, chúng ta không bị bản
năng của loài vật chế ngự; chúng ta có khả năng vươn đến một đời sống đạo đức
cao hơn. Vì thế, chúng ta có thể dành đời mình để trao dồi đức
hạnh, không chỉ bằng cách hành thiền, mà còn qua cách sống có trách nhiệm với
xã hội. Sống đời đức hạnh sẽ mang lại niềm vui, bình an, và hài hòa không
những cho chúng ta mà còn cho toàn xã hội.
Tôi thường nghĩ về sự trao
dồi đức hạnh như một khoa học -- khoa học về sự thiện lành, hay khoa
học về sự lương thiện. Chúng ta tìm hiểu sự lương thiện; nhưng không phải
chỉ để có nhận định và ý kiến về khoa học nầy, và thảo luận về nó một cách
trừu tượng. Chúng ta thật sự suy tưởng về bản chất của sự lương thiện. Chúng
ta đặt câu hỏi, "Chúng ta nên làm gì trong đời nầy để được xem
là người lương thiện?" Chúng ta biến cuộc đời của mình thành một quá
trình học hỏi về sự lương thiện.
Nhiều người hiểu lầm đạo Phật
như là một tôn giáo theo thuyết định mệnh và thụ động mà theo đó
bạn không cần phải làm gì hết ngoài việc ngồi thiền, quán sát hơi thở hay sự
phòng xẹp của bụng, hoặc chỉ ngồi dưới gốc cây và miệng thì thầm niệm "Vạn
pháp là vô thường." Phật giáo không phải là một tôn giáo chủ trương
lãnh đạm và thờ ơ với cuộc đời, không quan tâm gì đến xã hội mà
chúng ta đang sống; Đạo Phật dứt khoát và rỏ ràng khuyến khích chúng
ta phát huy đạo dức, và điều này sẽ mang lại niềm an lạc cho cuộc sống chúng
ta.
Nếu đi tu mà không an vui hạnh
phúc thì chắc chắn sẽ không còn tôn giáo trên đời nầy. Và để
thật sự an vui hạnh phúc, bạn phải vị tha và rộng lượng bố thí; bạn phải
làm việc vì người khác. Hạnh phúc đến từ sự hiến dâng không vì bản thân
mình, trong đó bạn không mong được phần thưởng hay danh vọng gì hết. Nếu
bố thí mà vẫn mong được một lợi lộc nào đó, bạn sẽ không vui trong lúc
bố thí; bạn sẽ luôn cảm thấy có một chút thất vọng nào đó trong lòng. Nếu
bạn bố thí mà vẫn muốn nhận lại một cái gì đó, tâm bạn sẽ không bao giờ an
ổn. Vì thế, niềm vui được hiến dâng, thương yêu, làm điều thiện
lành, và giúp đỡ người khác vượt lên cao hơn lòng vị kỷ. Tự bản thân
nó đã là một phần thưởng. Chỉ có khả năng làm việc để phục vụ người
khác và cuộc sống vì lợi lạc xã hội, chứ không phải sự lợi dụng và bòn rút của
xã hội, mới mang lại danh dự đích thực cho con người.
SỐNG CÓ TRÁCH NIỆM VỚI TRÁI ĐẤT
CỦA CHÚNG TA
Thời đại hiện nay đòi hỏi chúng
ta cần có cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân mình và về cái hành tinh mà chúng
ta đang sống với tất cả chúng sanh khác. Cách suy nghĩ về con người
như một cá thể biệt lập, hay tư tưởng chỉ biết sống cho riêng mình không còn hợp
thời nữa. Trong vòng năm mươi năm qua, như là những thành viên sống trên
quả đất nầy, rõ ràng là loài người đang quan hệ ngày càng chặt chẽ và
mật thiết hơn. Khi có một nhóm người nào đó nắm tất cả những quyền lợi
và đặc ân trong tay và không cho người khác có được gì cả, thế
giới nầy sẽ mất quân bình; chiến tranh và xung đột sẽ xảy ra. Bất cứ
nơi nào có bất công và mất quân bình, ở đó đau khổ của loài người và các
chúng sinh khác sẽ càng nhiều thêm. Vì thế đã đến lúc chúng ta nên có
cái nhìn trí tuệ là tất cả chúng ta đều liên hệ chặt chẽ với nhau, và tất
cả chúng ta đều đang trợ duyên với nhau để sống. Chúng ta không
phải là những cá nhân hay những quốc gia hoạt động độc lập, riêng lẻ, và
không cần biết gì đến tác động của chúng ta trên những người còn lại.
Ngày nay, càng nhiều người đặt
câu hỏi, "Tôi nên sống như thế nào? Tôi có nên sống theo sự thôi thúc của
bản năng, chạy theo các mốt thời thượng, và hành động theo sở thích của
mình không? Tôi thật sự có quyền chỉ chăm lo cho sự an toàn và thỏa mãn dục lạc
cho riêng mình không?" Vì mỗi con người là một bộ phận không thể tách rời
khỏi xã hội, chúng ta phải suy nghĩ về trách nhiệm của mình đối với xã hội
và hành tinh mà chúng ta đang cùng sống với các chúng sanh khác.
Nếu có người ích kỷ và hạ tiện
nào đó nghĩ rằng, "Tôi sẽ chiếm lấy bất cứ cái gì đó cho riêng
mình, cho dù phải chà đạp lên trên quyền lợi của người khác."
Người đó mưu tính, xử dụng đủ loại mánh khóe, và tìm cách kiểm soát mọi
việc nhằm phục vụ quyền lợi của họ, mà không nghĩ gì đến người khác. Đó
chính là người không có ý thức trách nhiệm cá nhân. Trong thời đại hiện
nay, người ta cảm thấy khó chịu khi phải bàn về vấn đề trách nhiệm cá
nhân. Nhiều người tìm cách tránh né vấn đề nầy.
Thật ra, các chính trị
gia đương đại thường lợi dụng lòng ích kỷ của người dân ở các nước phương
Tây để xây dựng quyền lực cho mình bằng cách hứa hẹn đủ loại lợi
dưỡng, cơ hội tiến thân, và bảo đãm an toàn cá nhân. Trong chừng mực
nào đó, chúng ta rơi vào cái bẩy của họ vì đôi khi chúng ta không thể
sống với ý thức trách nhiệm cá nhân. Chúng ta vẫn muốn được bảo vệ,
muốn có một bậc cha mẹ nào đó săn sóc, vỗ về, nói với chúng ta là mọi việc
sẽ ổn thỏa, và thỏa mãn tất cả nhu cầu của chúng ta. Điều nầy rất hấp dẫn; vì
trong mỗi con người của chúng ta vẫn tiềm ẩn một đứa trẻ thỉnh thoảng có nhu
cầu khóc lóc đòi cha mẹ hướng dẫn, nuôi dưỡng, và an ủi mỗi khi nó cảm thấy bất
ổn.
Ngày nay, các nhà nước hiện đại
vô hình chung thường phải đóng vai trò các bậc cha mẹ bảo hộ con cái bằng
cách nầy hay cách khác. Chúng ta thấy là ở các nước dân chủ phương Tây, người
dân rất đòi hỏi; họ không ngừng đòi hỏi chính phủ đủ loại quyền
lợi, đặc ân, và tất cả cơ hội để thăng tiến. Đồng thời, tôi cũng thấy
là người dân ở các nước Anh và Mỷ thường không biết ơn và cảm kích về những gì
mà chính phủ đã làm cho họ. Họ luôn có khuynh hướng lo sợ là nhà nước sẽ tước
lấy quyền lợi hay chỉ quan tâm về những gì hợp hay không hợp với sở thích của
họ mà thôi.
Và rồi, đến một lúc nào đó
chúng ta sẽ thấy là nhà nước không đáp ứng tất cả nhu cầu của chúng
ta -- cũng giống như đôi khi có người cảm thấy là Chúa đã bỏ rơi
họ, hay cha mẹ không đủ thương yêu họ. Mặc dù nhận được tất cả
những bố thí và phúc lợi xã hội từ cha mẹ, nhà nước hay từ một Đấng Thượng
Đế nào đó, chúng ta vẫn khổ đau và bất toại nguyện; chúng ta vẫn không hài
lòng. Chúng ta vẫn thấy không đủ. Toàn bộ vũ trụ nầy sẽ không thể nào
thật sự và trọn vẹn thỏa mãn chúng ta. Sẽ không có một nhà nước nào mà con
người có thể hình dung hay tạo dựng nên lại có thể thật sự thỏa mãn tất cả
những đòi hỏi của chúng ta.
Ở phương Tây, những dính mắc,
tham đắm, và lệ thuộc của con người đã trở nên phức tạp. Chúng ta
không những chỉ đòi hỏi sự an toàn về thân mạng, nhà ở, thực phẩm, quần
áo, thuốc men mà còn đòi hỏi không biết bao nhiêu cơ hội thăng tiến. Chúng
ta đòi hỏi được giáo dục, được tự do làm bất cứ cái gì mình
muốn, được có thời gian để sống theo cách riêng của mình, và được
luôn cả cơ hội để phát triển những kỹ xảo và năng lực của chính chúng
ta. Chúng ta đòi hỏi quá nhiều. Nhưng chúng ta đã cho được
bao nhiêu? Chúng ta có thể làm gì để cống hiến lại? Phải chăng mỗi
người chúng ta nên làm một cái gì đó để đền ơn xã hội? Chúng ta nên học
hỏi điều gì để không hành động như một đứa trẻ không bao giờ
trưởng thành, chỉ biết đòi hỏi người mẹ phải nuôi dưỡng và bảo vệ mình một
cách vô hạn và không cùng?
KHÔNG THEO CÁC PHE PHÁI
Ngày nay, bằng nhiều cách, con người
bị sức ép phải chọn một tư thế hay lập trường nào đó. Tâm trí chúng
ta thường chạy đi tìm một lập trường đã có sẵn nào đó rồi bám
chặt vào đó. Lập trường nầy có thể là một quan điểm chính trị,
tôn giáo, quốc gia, hay quan điểm cá nhân nào đó. Đó cũng có thể là
quan điểm về giai cấp, màu da, hay giới tính. Cũng có người liều lĩnh tuyệt
vọng chạy đi tìm lập trường trên những vấn đề xằng bậy và rồ dại
nhất. Chúng ta có nhu cầu phải chọn một lập trường nào đó để cảm thấy cuộc
sống mình có ý nghĩa và mục đích. Nếu không, có lẽ người đời sẽ
xem chúng ta là một kẻ khù khờ đáng chán và không thuốc chữa.
Nhưng khi đã chọn lập trường --
nghĩa là khi bị dính mắc vào một quan điểm nào đó -- chúng ta sẽ
có khuynh hướng bị ám ảnh bởi lập trường đó, và không nhìn mọi việc rõ
ràng nữa. Chúng ta sẽ bị kẹt trong những quan điểm và tác phong tự cho
mình là đúng đến nỗi chúng ta không còn khả năng nhạy cảm, ngay cả đối với
tập thể và gia đình của chúng ta, đó là chưa kể đối với kẻ thù
của chúng ta. Chúng ta có thể mù quáng đấu tranh cho quan điểm chính trị
của mình đến nỗi có thể sẵn sàng hủy diệt cả thế giới nầy hầu bảo vệ
quan điểm của mình.
Dĩ nhiên, chỉ có những người
cực đoan mới làm việc nầy. Đa phần chúng ta đều có một cái nhìn rỏ ràng
nhất định nào đó về cuộc đời, nhưng chúng ta lại thường do dự và dao động.
Chúng ta bối rối không biết nên theo phe nào -- nên theo hẳn phe tả hay phe hữu
-- và chao đảo giữa hai phe. Thỉnh thoảng chúng ta ganh tỵ với những
người cả tin và cả quyết, luôn cho lập trường của ông ta là tuyệt đối
đúng; và chúng ta muốn mình cũng có được niềm tin mạnh mẽ và
quyết đoán như ông ta. Chúng ta nghĩ là tâm chúng ta sẽ yên ổn nếu
mọi việc được trắng đen rạch ròi như thế.
Nhưng phần lớn cuộc đời của
chúng ta đều nằm trong vùng tranh tối tranh sáng "không hữu cũng không
tả." Trong cuộc sống, chúng ta cố gắng duy trì thân mạng của mình, sống
hòa hợp với những người chung quanh, sống yên ổn và có một số thân bằng quyến
thuộc nào đó. Ngay cả những người cuồng tính nhất cũng phải trực diện
với những sự thật của cuộc đời. Họ cũng phải tìm thực phẩm để
ăn, nhà cửa để ở, và quần áo để mặc; họ cũng phải già, khổ vì bịnh, và
mất đi người thân của mình. Tất cả chúng ta đều đau khổ khi không đạt
được những gì mình mong muốn. Và tất cả chúng ta đều phải đi qua một kinh
nghiệm mà không ai có thể tránh được, đó là sự chết.
Đức Phật dạy chúng ta về cuộc đời
thật như chính nó. Đạo Phật giúp ta mở rộng tâm thức để tiếp nhận cuộc đời, mà
không buộc chúng ta phải chọn một lập trường. Điều nầy không có nghĩa là chúng
ta không được phép có những nhận định và ý kiến; chúng ta phải có những
quan kiến để sống trên đời. Nhưng chúng ta cũng cần suy nghĩ về việc
chúng ta dễ bị dính mắc trong các lập trường và quan điểm. Khuynh
hướng dính mắc nầy là một vấn nạn đặc biệt trầm trọng ở các nước phương
Tây: chúng ta quá duy tâm và hoàn toàn bị trói buộc bởi những lý thuyết và
quan điểm về những gì xảy ra trong cuộc đời.
Con người ngày nay có những tiêu
chuẩn rất cao; họ biết sự diễn biến và vận hành của mọi việc. Tôi hiếm khi gặp
người chủ tâm làm những việc xấu ác, sống ích kỷ và không quan tâm gì đến
người khác; những người như thế rất ít. Phần đông những người mà tôi
gặp đều muốn mọi việc phải được tối ưu -- cho dù chữ "tối
ưu" nầy được hiểu theo nghĩa là đáp ứng tối ưu cho quyền lợi của
riêng họ. Chúng ta động não để định nghĩa thế nào là tối ưu, và chính
vì thế mà tâm chúng ta trở nên rất phán đoán. Chúng ta cho là xã hội
không diễn biến như chúng ta mong đợi: nó phải tốt hơn. Chúng ta rất
chú tâm đến những vấn đề tiêu cực đang xảy ra chẳng hạn như nền kinh
tế phát triển chậm, bộ máy nhà nước nặng nề, và những bất công còn
tồn đọng. Những vấn đề này chiếm lĩnh tâm tư chúng ta vì chúng
ta hình dung ra một xã hội không tưởng trong đó mọi việc diễn ra tốt đẹp
như ý chúng ta muốn. Chúng ta có thể tưởng tượng ra một
thiên đàng đầy công bằng, bình đẳng, tử tế, và tình thương yêu.
Nhưng trong thực tế, những gì chúng ta kinh nghiệm chính là cuộc đời thật
như chính nó. Cuộc đời nầy đang xảy ra cho bạn như thế nào? Thật sự
nó là gì?
Đây chính là điều mà chúng tôi gọi
là mở rộng tâm thức để tiếp nhận cuộc đời hay các pháp như chính nó, đừng phê
phán và cũng đừng khẳng định điều gì cả, hãy thật sự cảm nhận cái thiện và bất
thiện, công lý và bất công, ban ngày và bóng đêm, trời nắng và trời mưa, cái
nóng bức và lạnh lẽo. Trong ngữ học Phật giáo, đó là hãy chánh niệm. Chánh
niệm là con đường giúp chúng ta đi ra khỏi khổ đau. Khi chúng ta sống
trọn vẹn với thực tại mà không phán đoán, tâm chúng ta sẽ tròn đủ,
cởi mở, tỉnh giác, và tiếp nhận.
Với chánh niệm, chúng ta không phải
lấy lập trường, chạy theo các phe phái, hay bị kẹt trong những cuộc cãi vã và
những vấn đề của gia đình, cơ quan, và xã hội. Ngược lại, chúng
ta có thể mở rộng tâm thức trước những xung đột. Tâm con người có khả
năng tiếp nhận cả hai phe đối lập; nó mẫn cảm với mọi việc. Nó có thể cởi
mở, tiếp nhận, và rõ ràng với phe hữu lẫn phe tả, với cái xấu lẫn cái tốt.
SỐNG VỚI TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN
Với tâm chánh niệm, chúng ta có thể
giữ tư thế độc lập với những người chung quanh. Cho dù xã hội chung
quanh có làm gì đi nữa, chúng ta vẫn có thể đứng vững trên đôi chân
và lấy trách nhiệm về hành vi đạo đức của mình.
Tôi có thể tử tế, khoan dung, độ
lượng, và thương yêu bạn, và đó là niềm vui của tôi. Nhưng nếu tôi để
cho hạnh phúc của tôi tùy thuộc vào thái độ tử tế của bạn đối với
tôi, hạnh phúc của tôi sẽ luôn bị đe dọa, vì nếu bạn không làm những gì mà tôi
yêu thích -- ứng xử theo cách mà tôi mong muốn -- tôi sẽ đau
khổ. Do đó, hạnh phúc của tôi sẽ luôn bị đe dọa vì cuộc đời có
thể không xảy ra như ý tôi muốn.
Nếu tôi mong rằng mọi việc sẽ
thay đổi, thì rõ ràng cả đời tôi sẽ thất vọng -- nếu tôi mong
mọi người sẽ sống đạo đức, những cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt, con người
sẽ không còn phung phí tiền của, các nhà nước sẽ trở nên nhân đạo, biết
chia sẻ, và trợ cấp cho nhân dân -- nghĩa là mọi việc sẽ xảy ra đúng như ý
tôi muốn! Thật ra, bản thân cá nhân tôi, tôi không mong sẽ được nhìn
thấy những điều nầy ngay trong kiếp sống nầy, nhưng đau khổ về những vấn
đề này quả thật là không ích lợi cho ai cả; hạnh phúc đến từ việc có được
những gì mình mong đợi quả thật không phải là điều quan trọng lắm.
Niềm vui thật sự không tùy thuộc vào
việc chạy theo những lợi dưỡng vật chất, hay vào việc thế giới đang xảy ra
theo chiều hướng chúng ta chờ đợi, hay vào việc con người đang ứng xử theo
cách mà họ nên ứng xử, hay trên sự kiện là chúng ta đạt được tất cả những
gì chúng ta yêu thích và mong muốn. Niềm hoan hỷ không tùy thuộc vào bất cứ cái
gì hết ngoài chính thái độ sẵn sàng khoan dung, tử tế, và từ ái của chính
chúng ta. Niềm hoan hỷ thật sự chính là cái kinh nghiệm trưởng thành và thuần
thục của sự hiến dâng, chia sẻ và đùm bọc lẫn nhau, và phát huy khoa học
về sự lương thiện. Sống đức hạnh chính là niềm vui chúng ta có thể có được
trong cảnh giới làm người nầy. Do đó, cho dù những gì đang xảy ra
trong xã hội hay những gì người khác đang làm nằm ngoài khả năng kiểm soát
của chúng ta -- tôi không thể đi khắp nơi và làm cho mọi việc xảy ra
như ý tôi muốn -- nhưng tôi vẫn có thể tử tế, khoan dung, kham nhẫn, làm việc
thiện lành, và tăng trưởng đức hạnh. Đó là những gì tôi có thể làm được,
và đó là điều tốt cần làm, và không ai có thể ngăn cản tôi làm việc nầy. Cho dù
xã hội có xấu xa hay thối nát đến đâu đi nữa, điều nầy cũng chẳng có ảnh
hưởng gì hết đến khả năng sống đời đức hạnh và gieo trồng căn lành của
chúng ta.
ĐEM LẠI LỢI ÍCH CHO XÃ HỘI
Hiện tại, thay vì bốc lột, đòi
hỏi và bòn rút không ngừng, phê bình chỉ trích, và miệt thị xã hội, chúng ta có
thể cải thiện xã hội bằng cách giúp đở và khuyến khích xã hội
làm điều thiện. Điều này không những đem lại niềm vui cho riêng chúng
ta mà còn đem lại phúc lợi cho xã hội. Chúng ta có thể cống hiến cho xã hội
bằng cách sẵn sàng tự nguyện sống sao cho bản thân chúng ta không còn sợ hãi và
giúp cho người khác cũng không còn sợ hãi, nói khác đi chúng ta sống với
tinh thần vô úy và bố thí sự vô úy của đạo Phật.
Chúng ta có thể nuôi dưỡng
thái độ này bằng cách sống sao để chúng ta biết tự trọng. Khi có
lòng tự trọng, chúng ta sẽ thấy là người khác cũng kính trọng chúng ta. Và khi
người khác kính trọng chúng ta, họ sẽ lắng nghe, chú ý, ngưỡng mộ và noi gương
chúng ta. Qua đó, ngày càng nhiều người sẽ cảm nhận được niềm vui và
tinh thần tự do sống trách nhiệm với cuộc đời.
Trách nhiệm cá nhân là nền tảng cho
cả xã hội vì xã hội là tập thể gồm những cá nhân. Nền đạo đức chân chính
và tốt đẹp phải đến từ trí tuệ của từng cá nhân. Nếu bạn áp đặt
đạo đức trên con người, đạo đức sẽ thành luật pháp và luật pháp có thể rất
áp bức và nặng nề. Chúng ta có thể lo ngại khi nghe nói đến hai chữ
"đạo đức" vì chúng ta biết đạo đức có thể trở thành độc
đoán nếu người ta áp đặt nó.
Nhưng khi chúng ta hiểu rõ đạo
đức, nó sẽ mang lại niềm vui và lòng tự trọng, và khi chúng ta kính trọng bản
thân mình, chúng ta sẽ tôn trọng quyền sống của những người khác. Đó chính là
niềm an lạc. Vừa biết tự trọng vừa biết quan tâm đến cuộc sống của người
khác sẽ đem lại cho chúng ta cảm giác rất an vui và dễ chịu. Nhưng tình cảm nầy
phải đến từ trí ruệ và sự trưởng thành của nội tâm. Nó phải đến từ
trách nhiệm cá nhân và sự hiểu biết về chính bản thân của con người.
Tôi không bàn về sự tử tế và lương
thiện hào nhoáng bên ngoài -- một loại mặt nạ, một bề mặt đẹp đẽ của sự
thánh thiện -- nhưng chủ yếu về sự thánh thiện sâu thẫm, nằm trong bản
chất nội tại của các pháp. Đức hạnh là cái gì đó rất sâu, tiềm ẩn và xuyên
thấu. Chúng ta phải có trí tuệ, nhạy cảm, khả năng tiếp thu, và thông
minh để trở thành người thật sự đạo đức.
***
------------------------------
Câu hỏi:
* Rõ
ràng đời sống đức hạnh là nền tảng tốt cho sự phát triển của cá nhân con
người, nhưng hình như đạo đức không đủ sức đối phó lại với cái
xấu. Hình như chúng ta đang bất lực trước những thế lực xấu ác trên
thế giới ngày nay.
Trả lời: Chúng ta bất lực trước cái xấu vì
chúng ta thường chống lại nó với tình cảm chống ghét và thành kiến. Làm như thế
chỉ tạo thêm xung đột. Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta
nên chịu thua trước những thế lực xấu ác và để cho chúng tiếp tục thao
túng và chà đạp lên tất cả. Chúng ta cần phải dốc tâm xây dựng nền
tảng đạo đức cho thế giới ngày nay. Nền tảng đạo đức này rất cần
thiết để giải quyết những vấn đề thế giới, vì hiện nay thế giới hoàn toàn
không có nguyên tắc đạo đức nào cả, và vì thế, các quốc gia không tin
tưởng nhau. Làm thế nào để hai chính phủ có thể tin tưởng nhau nếu đứng
phía sau họ là những thế lực xấu ác và gian trá chỉ biết vu khống, phỉ báng và
không ngừng đe dọa lẫn nhau? Làm thế nào bạn có thể nói về hòa bình
thế giới trong khi không ai màng đến những nguyên tắc đạo đức?
Nếu các nhà khoa học có đạo
đức, họ sẽ không chế tạo vũ khí hạt nhân: vì vũ khí là để giết hại
và đe dọa con người. Nếu thật sự muốn có hòa bình thế giới, chúng ta
nên có những hiệp ước đạo đức thay vì những hiệp ước vũ khí hạt nhân. Và
rồi chúng ta sẽ kêu gọi nhân loại đứng lên bảo vệ những giá trị đạo
đức và tinh thần thay vì đe dọa và ép buộc con người phải sống hòa hoãn
với nhau.
Nếu đạo đức và luân
lý được dạy ở trường học, nói khác đi, nếu trẻ con được dạy cách xem xét
và đánh giá hành động và lời nói của chúng, và thấy được những
hậu quả đi kèm theo đó thì có lẽ, những vấn đề xã hội sẽ giảm đi
rất nhiều. Nhưng tôi không nghĩ người ta đang dạy đạo đức và luân lý
ở trường học vì đối với họ, đây không phải là những môn học quan trọng.
Tinh thần trách nhiệm đạo đức của xã hội hiện nay dứt khoát đã
suy đồi và đây là điều đáng sợ, và người ta không khuyến khích
giới trẻ sống với trách nhiệm xã hội.
Nhưng, trong thực tế, khả năng tiếp
thu những bài học đạo đức của trẻ con là rất kỳ diệu. Tâm của chúng ngây
thơ và cởi mở đến độ bạn có thể đưa vào đó bất cứ điều gì.
Nhưng đây cũng là một vấn đề; vì chúng quá ngây thơ nên bạn có thể
dạy chúng những điều xằng bậy lẫn những bài học đạo lý vô cùng
cao đẹp. Nếu được lựa chọn, tôi sẽ tìm cách dạy cho các
em đó những gì tốt đẹp, những gì nuôi dưỡng lòng tự trọng, sự tử tế
và cuộc sống đức hạnh, thay vì đưa vào tâm các em những điều vô
ích, hạ tiện và những quan điểm gây sợ hãi và khuyến khích tinh thần cống
cao và ngã mạn.
Đối với thanh niên ngày nay, chúng
ta nên nhấn mạnh sự hợp tác thay vì tranh đua. Một hệ thống xã hội dựa trên sự
hợp tác sẽ nuôi dưỡng tinh thần tương thân tương ái, trong đó bạn sẽ không
nói, "Đây là điều tốt nhất anh phải đạt cho bằng được, nếu không, anh
là một kẻ bất tài và kém cỏi." Một hệ thống dựa trên sự hợp tác sẽ cho
phép nhiều loại người khác nhau cùng làm việc với nhau: người nhanh, kẻ chậm,
người trẻ, kẻ già, người thông minh, và kẻ kém thông minh, vân vân. Ai cũng có
chỗ đứng của họ.
* Đôi
khi tôi cảm thấy tâm thức bị phân liệt vì cứ suy nghĩ lẩn quẩn về những gì mình
cần làm, cứ xem xét đủ mọi khía cạnh của vấn đề mà không chịu
hành động. Trong trường hợp này, tôi phải áp dụng khoa học về sự
lương thiện như thế nào?
Trả lời: Khi suy nghĩ nhiều quá, tâm chúng
ta có thể điên loạn; tình thần sẽ sa sút hay bị cuốn hút vào dòng xoáy của
những tư tưởng cứ tiếp tục kéo chúng ta đi xuống. Nếu suy nghĩ quá
nhiều, bạn sẽ không làm gì được hết. Phải chấm dứt suy nghĩ mới có
thể bắt tay thực hiện những gì mình suy nghĩ. Chúng ta có thể nghĩ lẩn quẩn,
"Tôi có nên rửa chén hay không? Tôi có thấy thích thú việc nầy không? Rửa
chén có thật sự hợp với tôi không? Có phải đàn ông, chứ không
phải đàn bà nên rửa chén, hay ngược lại, hay cả hai cùng nên rửa
chén?" và bạn sẽ mất thì giờ ngồi thừ ra đó mà không làm được gì
hết.
Nhưng nếu bạn thay đổi cách
nhìn về việc rửa chén, bạn có thể giải quyết tích cực hơn. Bạn có thể nói,
"Rửa chén thật là một vinh dự! Vì kính trọng tôi, họ mới nhờ tôi rửa
chén." Ngâm tay trong nước xà phòng với những chén dĩa sành sứ rất dễ chịu
phải không các bạn? Nếu nhìn vào những mặt tích cực của việc rửa chén, bạn sẽ
không buồn nữa. Và cả đời, bạn sẽ không còn phải lo là mình sẽ bực bội và
chán ngán mỗi lần rửa chén, vì thái độ nầy có thể là hệ quả của việc mẹ
bạn đã từng ép buộc bạn phải làm trong thời niên thiếu.
Những vấn đề nhỏ nhoi như
thế là tồn động của quá khứ. Thỉnh thoảng bạn sẽ thấy điều nầy
trong phản ứng của nam giới đối với nữ giới: "Không bà nào có thể sai
tôi làm điều nầy điều nọ. Không ai có thể làm bà chủ của
tôi được." Đây là những phản ứng tự tôn của phái nam mà bạn đã
được huân tập từ nhỏ khi bạn tìm cách chống lại sự áp đặt của mẹ mình. Và phụ
nữ cũng có thái độ như trên đối với phái nam. Đây là thái độ mà
họ đã được huân tập từ nhỏ khi tìm cách phản kháng lại người
cha độc đoán: "Đó là thái độ kẻ cả của các ông. Các
ông tìm cách đàn áp và dìm chúng tôi xuống. Họ rất độc tài với phụ
nữ." Đôi khi, chúng ta không bao giờ thoát ra được cái tâm lý nổi loạn trẻ
con nầy. Nhiều khi chúng ta mang nó theo cả đời mà không hề hay biết là
mình đang sống với nó.
Khi quán tưởng về các Pháp, tâm chúng ta sẽ thoát ra khỏi những phản ứng trẻ con và chưa thuần thục nầy. Trong cố gắng vươn lên, chúng ta sẽ cảm thấy là mình đã trưởng thành và sẵn sàng tham dự vào cuộc đời. Người đời thường có xu hướng kính nễ những người có quyền lực và địa vị hơn là tôn trọng những người đang tìm cách vượt lên trên những thói quen non nớt nầy. Khi trưởng thành và hiểu giáo pháp, chúng ta có thể sống theo những cách thức đem lại lợi lạc cho người khác, mang lại sự hòa hợp, và phục vụ cho xã hội.
* Đôi khi làm việc thiện chưa chắc được nhiều người ủng hộ. Chúng tôi phải làm gì để có đủ can đảm sống đạo đức giữa một xã hội không tha thiết và ủng hộ nếp sống đạo đức?
Trả lời: Bây giờ tôi thấy rất rõ là chúng
ta thà chết còn hơn là sống mà làm việc xấu ác, vì dù sao cuối cùng, tất cả
chúng ta đều phải chết. Vì tất cả chúng ta đều phải chết nên
thời điểm chết không còn là vấn đề lớn. Nhưng nếu chúng ta làm
việc xấu ác và cho dù chúng ta sống đến trăm tuổi, cái xấu ác sẽ theo đuổi
và ám ảnh chúng ta suốt đời. Nếu chúng ta làm những hành động vô
ý thức và ích kỷ, hồi tưởng về những hành động nầy cũng sẽ ám ảnh và làm
chúng ta khổ sở suốt đời.
Khi thấy rõ thà chết còn hơn là
làm điều xấu ác, cái chết đối với tôi không còn đáng sợ nữa, đó là
một tiến trình tự nhiên mà tất cả chúng ta ai cũng phải trải qua. Nhưng
hành động xấu ác là thật sự nguy hiễm cho chúng ta; đó là cái mà
chúng ta nên quan tâm nhiều nhất.
Khi đã ý thức là tính
chất đạo đức của lời nói và hành động là quan trọng nhất, chúng
ta sẽ dễ dàng can đảm làm những việc thiện lành.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét