Thích Nhất Hạnh
Chương 33
Cái đẹp không tàn hoại.
Một
hôm nọ, khi mùa an cư chỉ còn nửa tháng nữa thì được hoàn mãn, có một
người thiếu phụ rất đẹp đến viếng thăm Bụt. Người thiếu phụ này đi xe song mã.
Hai con ngựa đều trắng và xe cũng sơn màu trắng. Thiếu phụ bước
xuống xe cùng với một người con trai khoảng mười lăm tuổi. Thiếu phụ trang
sức cực kỳ lộng lẫy và dáng đi rất quý phái. Tại cổng tu viện, bà
gặp một vị khất sĩ trẻ tuổi và hỏi thăm về Bụt.
Vị khất sĩ này hướng dẫn bà và cậu thanh niên vào đến tận túp lều của
Bụt. Bụt không có đó. Người đang đi thiền hành. Vị khất sĩ mời
thiếu phụ và cậu con trai ngồi xuống trên hai chiếc ghế tre đặt trước
sân tịnh xá. Chiếc ghế thứ ba là để Bụt ngồi.
Một
lát sau Bụt về tới, cùng với Kaludayi, Sariputta và thầy thị giả. Thiếu
phụ và cậu con trai cùng đứng dậy vái chào Người. Bụt mời hai mẹ
con an tọa. Người cùng ngồi xuống chiếc ghế đã đặt sẵn. Bụt biết đây là
công nương Ambapati và cậu con trai là Jivaka.
Kaludayi chưa
bao giờ thấy một người đàn bà đẹp như thế và duyên dáng như thế.
Thầy chỉ mới đi tu được có một tháng nên thầy bỡ ngỡ, không biết nhìn ngắm một
người đàn bà đẹp như vậy thì có đúng phép không. Nghĩ như vậy, thầy
nhìn xuống đất. Thầy thị giả Nagsamala cũng có phản
ứng giống hệt như vậy. Cả hai thầy đều nhìn xuống đất. Duy chỉ có Bụt
và Sariputta là vẫn nhìn thẳng vào mặt người thiếu phụ mà thôi.
Sariputta
nhìn người thiếu phụ và người con trai rồi xoay sang nhìn Bụt. Thấy sắc diện của
Bụt không khác gì sắc diện một ánh trăng rằm, tự
nhiên, hiền lành, trong sáng. Phút chốc, thầy cảm
thấy cái tự tại và an lạc của Bụt thấm vào lòng thầy.
Thiếu
phụ có tên là Ambapati cũng đang nhìn Bụt. Bà chưa thấy ai nhìn bà như vậy bao
giờ. Từ xưa tới nay mỗi khi có một người đàn ông hay một thanh niên nhìn bà, bà
đều thấy trong ánh mắt người đó hoặc một thoáng bối rối, hoặc một
thoáng ao ước, hoặc một dự tính chiếm hữu. Bụt đang nhìn bà như
đang nhìn một đám mây, một dòng sông hay một bông hoa. Hình như Người thấy
được tận trong chiều sâu thẳm của tâm hồn bà.
Ambapali chắp
tay bạch Bụt:
-
Con là Ambapali, và đây là con trai của con, Jivaka, năm nay mười lăm tuổi.
Cháu nó đang học nghề y, con đã được nghe nói về thầy và con
rất ao ước cháu sẽ được có duyên tới học hỏi cùng thầy.
Bụt hỏi
thăm Jivaka về chuyện học vấn và đời sống của chàng,
Jivaka trả lời rất lễ phép. Đây là một chàng trai đôn
hậu, hiền lành và thông minh. Cùng cha khác mẹ với thái
tử Ajatasattu, nhưng chàng trông có đức độ hơn và cũng có vẻ thông
minh hơn. Sau một vài câu chuyện với Bụt, Jivaka bỗng thấy trào
dâng trong lòng một mối cảm tình sâu đậm đối với ông thầy tu này.
Chàng tự hẹn là sau khi học xong nghề thuốc chàng sẽ xin ở gần bên Bụt.
Ambapali đã tưởng rằng Bụt chỉ là một ông thầy tu nổi tiếng như những
ông thầy tu nổi tiếng khác mà bà đã gặp, nhưng không, bà chưa từng
gặp một người nào như Bụt. Bà chưa từng thấy ai có cái nhân cách như Bụt. Cái nhìn
của Bụt hiền dịu làm sao. Bà có cảm tưởng là bà không cần than
thở gì với Bụt mà Bụt vẫn thấy và hiểu được những niềm khổ đau sâu kín
trong tâm bà. Được nhìn Bụt và được Bụt nhìn như thế, bà đã thấy vơi bớt rất
nhiều nỗi khổ. Một giọt nước mắt ứa ra trên khóe mi bà. Bà nói:
-
Lạy thầy, đời con khổ lắm. Tuy rằng con không thiếu thốn gì
trên phương diện tiền của và vật chất nhưng
con chưa bao giờ có được một niềm tin. Hôm nay là ngày sung
sướng nhất của đời con.
Ambapali
là ca nhi, nhưng nàng không hát cho bất cứ ai muốn nghe nàng hát. Những người
mà nàng không ưa hoặc nàng nhận thấy thiếu phong
độ và tư cách thì dù có đem đến cả trăm vạn đồng vàng, nàng cũng
từ chối. Từ năm mười sáu tuổi, nàng đã gặp một cuộc tình trắc trở. Sau đó,
nàng đã gặp vua Bimbisara khi vua còn là thái tử. Có những người trong
triều đã không muốn hoàng gia công nhận Jivaka là con trai của thái
tử Bimbisara. Họ nói Jivaka là con hoang mà thái tử bắt gặp ở trong
một cái thúng để ở bên vệ đường. Điều này cũng đã làm cho Ambapali đau
khổ. Nàng đã gánh chịu rất nhiều khổ đau vì sự ghen ghét và vì thù
hận. Nàng trân quý tự do như bảo vật duy nhất còn
lại trong đời, cho nên từ ấy đến nay không ai và chưa
ai trói buộc được nàng.
Bụt
dạy:
- Nhan
sắc và cơ thể con người luôn bị chi phối của quy luật sinh
diệt và cũng sẽ tàn phai như bao nhiêu hiện tượng khác. Địa
vị, của cải và sự giàu sang cũng vậy. Chỉ có niềm an
lạc và sự tự do từ công phu tu tập thiền định và quán
chiếu mới mang tới niềm vui chân thật mà thôi. Này Ambapali, đã
đến lúc con phải tập đời sống tỉnh thức an lạc. Phải trân quý
từng giây phút còn lại của đời mình, đừng lãng phí chúng trong
sự đau thương và tức giận. Điều này rất quan trọng cho con và cho Jivaka.
Rồi
Bụt dạy cho Ambapali cách tổ chức lại đời sống hàng ngày,
cách hành trì năm giới, cách thở, cách ngồi, cách sử
dụng thì giờ, cách cúng dường và làm việc phúc thiện. Ambapali sung
sướng ngồi nghe những lời dạy quý báu của Bụt. Cuối
cùng trước khi từ giã Bụt, bà nói:
-
Tại ngoại ô thành Vesali, con có một vườn xoài rất mát và rất thanh tịnh.
Con mong có ngày đi hoằng hóa ngang đó, Bụt và chư vị khất sĩ sẽ ghé
nơi ấy để nghỉ ngơi. Đây sẽ là một vinh hạnh lớn cho con và cho
Jivaka. Kính xin đức Từ Bi hoan hỷ nhận lời.
Bụt mỉm
cười nhận lời.
Ambapali
đi rồi, thầy Kaludayi xin phép được ngồi xuống bên Bụt. Thầy thị
giả cũng mời đại đức Sariputta ngồi xuống trên chiếc ghế còn lại,
còn thầy thị giả thì vòng tay đứng hầu sau lưng Bụt. Một số các vị khất
sĩ đang đi thiền hành gần đấy, thấy khung cảnh ấm
cúng cũng ghé vào. Đại đức Sariputta mỉm cười nhìn
Kaludayi, rồi nhìn thầy thị giả Nagasamala. Cuối cùng thầy
hỏi Bụt:
-
Lạy đức Thế Tôn, người tu hành nên có thái độ như thế nào
đối với nữ sắc? Cái đẹp, nhất là nữ sắc, có phải là một trở ngại
cho công phu tu tập không?
Bụt mỉm
cười. Người biết Sariputta hỏi câu hỏi này không phải là để cho bản
thân thầy mà là cho các thầy khác. Người nói:
-
Này các vị khất sĩ, tự tính của vạn pháp vượt ra
ngoài ý niệm đẹp và xấu. Đẹp và xấu là những ý niệm tạo ra
do tri giác và nhận thức tầm thường. Nếu đứng về tục mà
nói, ta thấy có đẹp và có xấu. Đẹp và xấu tùy thuộc rất nhiều vào cơ
cấu của năm uẩn.
Đối
với con mắt của người nghệ sĩ, cái gì cũng có thể đẹp và cái gì cũng có thể
xấu, một dòng sông, một đám mây, một chiếc lá, một bông hoa, một tia nắng
sớm hay một buổi chiều vàng đều có thể có cái đẹp riêng của nó. Những bụi tre
vàng xung quanh đây cũng có những vẻ đẹp riêng của chúng. Nhưng chưa
có cái đẹp nào có thể trói buộc và làm tiêu tan chí khí của
người đàn ông bằng nữ sắc. Tham đắm vào nữ sắc rồi thì chí
nguyện có lớn lao đến mấy và sự nghiệp có lẫy lừng đến mấy cũng
có thể bị tàn hại. Vì vậy tôi muốn căn dặn quý vị hãy rất cẩn
thận đối với nữ sắc.
Đối
với những người đã quán chiếu và đạt đạo, cái đẹp vẫn là cái đẹp,
những vị đã đạt tới giải thoát và tự do, họ không còn bị cái đẹp
hay cái xấu khống chế nữa. Không phải là họ dửng dưng không thấy cái
đẹp; sự thực là họ không bị ám ảnh và làm nô lệ cho cái đẹp. Nhìn vào
cái đẹp, họ thấy được những cái không đẹp đã góp phần làm ra cái đẹp. Nhìn vào
cái xấu, họ thấy được những cái không xấu đã góp phần làm ra cái xấu. Họ thấy
được tính cách vô thường của vạn pháp, đẹp cũng như
xấu, vì vậy họ không bị cái xấu làm cho chán nản cũng không bị cái
đẹp làm cho đam mê. Đối với những người tu hành chưa
đủ công phu quán chiếu, chưa có được bản lĩnh nhận thức, tôi
muốn khuyên họ đừng gần gũi nữ sắc. Những vị này phải để hết thì
giờ vào việc học hỏi và thiền tập.
Chỉ
có một cái đẹp không bao giờ tàn hoại và không gây khổ đau: đó là lòng
từ bi và tâm giải thoát. Từ bi là thứ tình
thương không có điều kiện và không cần sự đền trả. Tâm giải
thoát cũng là thứ tâm không thối chuyển, tâm tự do tự tại, như
con gà con một khi ra khỏi vỏ trứng rồi thì không còn chun trở
lại nằm trong vỏ trứng nữa. Đã không còn lệ thuộc vào điều
kiện gì cho nên cái đẹp của lòng từ bi và tâm giải
thoát là cái đẹp chân thực, và niềm an lạc do cái đẹp
ấy mang lại cũng là an lạc chân thực. Này các vị khất
sĩ, các vị hãy tinh tấn mà thực hiện cho được cái đẹp ấy.
Kaludayi
và các vị khất sĩ có mặt đều rất sung sướng được nghe
lời Bụt dạy. Mùa an cư đã được hoàn mãn. Bụt cho gọi Kaludayi và
Channa, và đề nghị hai người về Kapilavatthu trước một tháng để báo tin Bụt sẽ
về. Kaludayi lĩnh mệnh. Ngay ngày hôm đó thầy và Channa chuẩn bị cho
chuyến hồi kinh, Kaludayi đã trở thành một người xuất gia, có
đủ uy nghi của một vị khất sĩ rồi. Ông nghĩ thế nào khi về
tới quê nhà, ông cũng sẽ làm cho mọi người ngạc nhiên.
Ông vui mừng vì được giao trọng trách về báo tin mừng, nhưng ông
cũng tiếc là thời gian được học hỏi với Bụt tại Trúc
Lâm còn quá ngắn ngủi.
----- Hết Phần 5 -----
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét