Thích Nhất Hạnh
Phần 7
Con đường hoằng hóa.
Chương 38
Ôi! Hạnh phúc!
Bụt
đã rời khỏi vương quốc Sakya, nhưng Người vẫn đi hoằng hóa ở miền Bắc vương
quốc Kosala. Người và khoảng một trăm hai mươi vị khất sĩ đang cư trú
ở một công viên gần thành phố Anuplya của bộ tộc Malla. Đại
đức Sariputta vẫn ở bên Người. Kaludayi, Nanda và chú
tiểu Rahula cũng vẫn ở bên Người. Trong thời gian Bụt ở ngoại
thành Kapilavatthu, nhiều thanh niên trong hoàng tộc đã đến
xin xuất gia, phần lớn là xuất thân từ những gia
đình có từ ba người con trai trở lên. Sau khi Bụt rời Kapilavatthu được
nửa tháng, có hai anh em ruột thuộc giòng họ Sakya cũng muốn
đi xuất gia. Nhà của họ giàu lắm. Gia đình có tới ba cơ sở cư trú,
một cho mùa Hè, một cho mùa Mưa, và một cho mùa Đông. Hai anh em tên là
Mahanama và Anuruddha. Thấy nhiều bạn hữu của mình trong hoàng gia đã
đi xuất gia với Bụt, Mahanama cũng muốn được đi xuất gia.
Mahanama nghĩ trong gia đình có hai người con trai thì nên
đi xuất gia một người thôi, chàng nhường quyền xuất gia cho
em. Anuruddha đi tìm mẹ để xin phép. Bà mẹ nói:
-
Mẹ chỉ có hai con là niềm an ủi của mẹ thôi. Nếu một đứa trong các
con xuất gia thì mẹ buồn lắm.
Anuruddha
thưa với mẹ là đã có nhiều thanh niên trong hoàng tộc xuất gia,
và nếp sống xuất gia sẽ đem lại lợi lạc không phải chỉ
cho người xuất gia mà cho cả gia đình và xã hội. Chàng
đã được nghe Bụt giảng tại tu viện Nigrodha nhiều lần nên
chàng giảng thuyết về đạo pháp rất hay. Cuối
cùng bà mẹ nói:
-
Nếu bạn của con là Baddhiya mà xuất gia, thì mẹ cũng cho con đi xuất
gia.
Bà
nói vậy vì bà nghĩ rằng Baddhiya chẳng bao giờ xuất gia đâu. Baddhiya
là người trong hoàng gia, và chàng có chức vị rất cao, quyền hành
và danh vọng rất lớn, khó có thể bỏ được tất cả để mà đi tu.
Anuruddh
nghe mẹ nói liền tìm tới Baddhiya. Baddhiya là quan trấn thủ các tỉnh
miền Bắc vương quốc. Dưới quyền chàng có nhiều đội binh. Dinh thự của
chàng có lính gác bốn phía. Kẻ hầu người hạ tấp nập. Baddhiya tiếp Anuruddha
như một thượng khách. Anuruddha bảo bạn:
-
Tôi muốn đi xuất gia theo học với Bụt, nhưng tôi không xuất
gia được, đó là tại vì anh.
Baddhiya
cười:
-
Tại sao vì tôi mà anh không đi xuất gia được? Tôi cấm anh xuất
gia hồi nào? Tôi sẽ làm đủ mọi cách để anh được xuất gia.
Anuruddha
kể lại đầu đuôi câu chuyện, rồi chàng nói:
-
Anh vừa hứa với tôi là anh sẽ làm đủ mọi cách để tôi có thể đi xuất gia,
mà cách duy nhất là anh cùng đi xuất gia với tôi.
Baddhiya
thấy mình kẹt quá, không phải là chàng không hâm mộ Bụt và đạo
lý tỉnh thức. Chàng cũng đã có ý định sau này sẽ đi xuất
gia, nhưng không phải bây giờ. Chàng nói:
-
Bảy năm nữa tôi sẽ đi xuất gia. Anh cứ đợi tôi.
-
Bảy năm nữa thì lâu quá. Biết tôi có còn sống đến lúc ấy hay không?
Baddhiya
cười:
-
Sao anh bi quan quá vậy? Nhưng thôi, nếu anh nóng lòng xuất
gia thì anh đợi ba năm nữa vậy.
-
Ba năm cũng còn lâu quá. Anuruddha nói.
-
Thôi thì bảy tháng. Tôi còn phải sắp đặt công việc nhà cửa và trao
trả quyền hành.
-
Đã xuất gia thì cần gì phải sắp đặt lâu như thế. Xuất
gia là từ bỏ hết để đi theo con đường xuất
thế siêu thoát. Đợi anh lâu như thế lỡ ra anh đổi ý thì sao.
-
Anh đã nói vậy thì bảy hôm nữa tôi sẽ đi với anh. Thôi anh về đi.
Anurudha
mừng rỡ về báo mẹ và anh biết tin này. Bà mẹ không ngờ quan tổng trấn Baddhiya
lại chịu bỏ chức tước và danh vọng một cách dễ dàng như vậy. Bà chợt
thấy tầm cao siêu của đạo lý giải thoát, và bà bằng lòng cho con
đi xuất gia.
Anuruddha
rủ thêm một số các bạn hữu nữa cùng đi xuất gia. Đó là Bhagu,
Kimbila, Devadatta và Ananda. Cả thảy là sáu người, tất cả đều là các vương
tử quyền quý. Đúng ngày hẹn, họ gặp nhau tại nhà Devadatta
rồi lên đường. Tất cả đều đã là những chàng trai tuấn tú, trừ
Ananda ra, Ananda mới có mười tám tuổi, nhưng chàng đã được phép cha là thân
vương Dronodanaraja cho phép đi theo anh. Sáu vị vương tử đi
bằng xe tứ mã cho đến khi họ tới một thị trấn nhỏ nằm
sát biên giới Kosala. Họ cho xe trở về và cùng nhau đi bộ qua biên
giới. Họ biết Bụt và các vị khất sĩ tùy tùng đang cư trú ở
Anupiya, cách biên giới không xa, Anurauddha đề nghị mọi
người cởi bỏ hết những trang sức trên người và ăn
mặc thật đơn giản trước khi vượt biên. Mọi người tán
thành. Họ cởi những xâu chuỗi ngọc và những chiếc vòng bằng vàng, bằng
bạc ra và gói lại trong một cái áo. Họ định đi tìm một người nghèo để tặng tất
cả những châu báu đó rồi sẽ tìm đường ra biên
giới sau. Vừa định đi vào trong thôn để kiếm một người nghèo thì
họ thấy có một quán hớt tóc bên đường. Cái quán khá tồi tàn, người thợ hớt
tóc là một chàng thanh niên trạc tuổi họ, mặt mày cũng khôi ngô, nhưng ăn
mặc rách rưới nghèo nàn. Anuruddha ghé vào quán. Chàng hỏi tên người
thợ hớt tóc. Anh ta nói anh tên là Upali. Chàng nói các vị vương tử muốn nhờ
anh ta chỉ đường ra biên giới. Upali bằng lòng.
Upali
đưa các vương tử đến biên giới nước Kosala xong, anh ta chào các vị
vương tử để trở về. Anuruddha cảm ơn Upali và trao cho Upali một chiếc áo
cuốn tròn trong đó có đầy đồ trang sức châu báu. Chàng nói:
-
Upali, chúng tôi muốn theo Bụt xuất gia. Chúng
tôi không cần những thứ trang sức châu báu này. Chúng
tôi tặng lại cho anh. Từng ấy châu báu vàng bạc đủ để anh
sống sung sướng cả đời.
Các
vương tử chào Upali, và lên đường. Người thợ hớt tóc mở chiếc áo ra. Vàng
ngọc làm anh ta lóe mắt. Anh ta không tin đây là sự thật. Anh thuộc
về giai cấp hạ tiện trong xã hội. Cha ông của anh đời này sang
đời khác đã sống cần cù lam lũ và chưa bao giờ có được một
lạng vàng hay một chiếc nhẫn ngọc. Bây giờ đây, anh có cả bọc châu
báu trong tay. Bỗng nhiên anh cảm thấy lo sợ. Ôm một
bọc châu báu trong người, anh cảm thấy mình mất đi sự an
ổn và thảnh thơi. Anh có thể mất mạng bất cứ lúc nào nếu có người
biết anh đang ôm cả mớ châu báu trong tay.
Upali suy
nghĩ. Anh thấy các vương tử giàu sang đến thế, quyền hành nhiều như
thế mà vẫn bỏ hết để đi xuất gia. Chắc chắn những người này
đã nhận thấy sự nặng nề và nguy hiểm của giàu sang và danh
vọng. Anh chợt có ý liệng bỏ gói châu báu để đi theo các vị
vương tử, tìm cầu an lạc và giải thoát. Nghĩ như thế, anh làm
ngay. Anh treo gói áo trên một cành cây gần đó, thầm nhũ rằng ai là người đầu
tiên thấy được gói châu báu này thì gói châu báu này sẽ
thuộc về người ấy. Treo gói áo lên cây xong, anh vượt biên và chạy
theo các vị vương tử.
Chỉ
một giờ sau, Upali bắt kịp họ. Các vị vương tử ngạc nhiên thấy
Upali chạy theo mình. Devadatta hỏi:
-
Upali, anh chạy theo chúng tôi làm chi? Gói châu
báu anh để đâu?
Upali
thở hổn hển một hồi, rồi kể lại câu chuyện. Chàng nói chàng đã
treo gói áo lên một cành cây và nguyện tặng lại châu báu ấy cho người
đầu tiên bắt gặp. Chàng nói chàng cảm thấy bất an với gói châu báu đó
và xin được cùng các vị vương tử tìm tới Bụt để xuất gia.
Devadatta
cười ha hả:
-
Anh mà cũng muốn xuất gia như chúng tôi? Anh chỉ là ...
Anuruddha
ngắt lời Devadatta:
-
Hay lắm, hay lắm! Chúng tôi rất hân hạnh được anh cùng đi
với chúng tôi. Bụt có dạy rằng: tăng đoàn như là biển cả, và
người xuất gia như những con sông nhỏ, sông nào cũng chảy ra biển và
cũng thành biển. Chúng ta tuy xuất thân từ những giai
cấp khác nhau, nhưng khi đã gia nhập tăng
đoàn thì chúng ta sẽ là đồng tu không còn phân biệt giai
cấp nữa.
Baddhiya
tán thành ý kiến của Anuruddha. Chàng đưa tay nắm tay người thợ cạo
Upali. Chàng giới thiệu chàng là quan tổng trấn từng tri nhậm các
tỉnh miền Bắc của vương quốc, và chàng giới thiệu các vị vương tử
khác với Upali. Upali cúi chào từng vị với một dáng
điệu kính cẩn. Sau đó bảy người lại tiếp tục lên đường.
Ngày
hôm sau họ tới Anupiya. Họ hỏi thăm nơi cư trú của Bụt và tăng
đoàn. Họ được biết Bụt và tăng đoàn hiện cư trú ở một khu rừng về
phía Đông Nam cách thành phố chừng hai dặm. Bảy người tìm tới nơi này
và được gặp Bụt.
Baddhiya
thay mặt cả nhóm trình lên Bụt ý nguyện của họ được theo
Bụt xuất gia. Bụt lặng yên ưng thuận. Baddhiya nói:
-
Chúng con xin Bụt cho Upali được xuất gia trước. Chúng con sẽ lạy
Upali như là một vị sư huynh. Như vậy chúng con có thể trừ khử ý
niệm phân biệt và kỳ thị có thể còn sót lại nơi chúng con.
Bụt
khen ngợi cả bảy người. Bụt cho Upali làm lễ xuất gia trước, và sau
đó làm lễ xuất gia cho sáu người: Baddhiya, Anuruddha, Bhagu,
Kimbala, Devadatta và Ananda. Tuy mới có mười tám tuổi, Ananda cũng
được xuất gia, nhưng chàng chỉ được thọ giới sa di và học
theo hạnh khất sĩ. Đúng hai mươi tuổi chàng mới được thọ
giới khất sĩ. Chàng là người trẻ nhất trong tăng đoàn, trừ Rahula.
Được gặp lại chú Ananda, Rahula mừng lắm. Ba hôm sau lễ thọ giới của
bảy chàng trai, Bụt và các vị khất sĩ rời Anupiya, hướng về Vesali. Tại
Vesali, Bụt nghỉ ở rừng Mahavana, Bụt lưu lại ba hôm ở đây. Trong thời
gian ấy, Bụt đã thuyết pháp cho dân chúng, rồi Bụt lại lên
đường. Đi khoảng trên mười hôm nữa, Bụt và tăng đoàn về tới tu
viện Trúc Lâm ở Rajagaha.
Các đại
đức Kassapa, Moggallana, và Kondanna thấy Bụt về rất hoan
hỷ. Đại chúng trong tu viện đông gần sáu trăm vị, ai cũng
tỏ vẻ vui mừng. Vua Bimbisara nghe Bụt đã về, lập tức tìm tới
thăm Bụt. Không khí ở Trúc Lâm rất sống động và vui
tươi. Mùa mưa đã gần tới, và các đại đức Kondanna và Kassapa đã chuẩn
bị đầy đủ về mặt tổ chức để đại chúng có thể an cư tu học.
Đây là mùa an cư thứ ba từ ngày Bụt thành đạo. Mùa thứ nhất, Bụt
ở vườn Nai, mùa thứ hai và mùa thứ ba, Bụt ở tại Trúc Lâm.
Đại
đức Baddhiya, trước kia làm quan tổng trấn miền Bắc vương quốc Sakka, và
là người trong hoàng tộc Sakya, tu học rất tinh tấn.
Tại tu viện Trúc Lâm, ông học theo đại đức Kassapa, chỉ cư
trú dưới gốc cây mà không ngủ trong am thất. Ông học tập
rất chuyên cần và sử dụng phần lớn thì giờ của
ông vào việc thực tập thiền định và thiền quán.
Một
đêm kia, trong lúc thực tập thiền tọa dưới một gốc cây, ông bỗng
cảm nhận một niềm vui sướng mà chưa bao giờ ông từng biết
tới trong thời gian còn ở nhà. Ông thốt lên:
-
Ôi, hạnh phúc! Ôi, hạnh phúc!
Lúc
ấy trời đã về khuya. Có một vị khất sĩ ngồi thiền tọa cách
ông không xa nghe được những tiếng ấy. Sáng hôm sau, vị này tới gặp
Bụt. Ông thưa với Bụt:
- Thế
Tôn, hồi khuya trong lúc thiền tập, con có nghe khất sĩ Baddhiya
thốt lên hai tiếng “Ôi, hạnh phúc!”, con nghĩ chắc là thầy Baddhiya
không cảm thấy thoải mái với đời sống xuất gia. Có lẽ
thầy ấy đã tiếc nuối những giàu sang và danh vọng khi còn
là quan chức triều đình. Con xin trình bày để Thế Tôn biết, và
để người định liệu.
Bụt mỉm
cười gật đầu.
Trưa
hôm ấy sau khi tăng đoàn đã thọ trai, Bụt thuyết
pháp cho đại chúng. Sau thời thuyết pháp, Bụt gọi đại
đức Baddhiya ra trình diện. Đại chúng có mặt đầy đủ trong
giờ này, không những các vị khất sĩ mà còn có những người đệ
tử cư sĩ đã đến cúng dường và nghe pháp. Bụt hỏi:
-
Baddhiya, hồi khuya trong lúc thiền tọa, thầy có thốt lên “Ôi, hạnh phúc!
Ôi, hạnh phúc", có đúng như thế không?
Đại
đức Baddhiya chắp tay trả lời:
- Thế
Tôn, hồi đêm quả thật con có thốt lên những tiếng đó.
-
Xin thầy hãy trình bày niềm hoan hỷ ấy cho đại chúng cùng nghe.
- Thế
Tôn, ngày trước làm tổng trấn, con sống trong giàu sang, phú quý và có
nhiều quyền lực. Đi đâu con cũng có một đội binh theo hầu cận và bảo
vệ. Dinh phủ của con luôn luôn có binh lính cánh gác ngày đêm, bên trong cũng
như bên ngoài. Vậy mà lúc nào con cũng lo lắng, bất an, cảm
thấy thiếu an ninh. Bây giờ đây, khi đi một mình trong rừng,
ngồi một mình dưới cội cây trong đêm vắng, vậy mà con không
hề có cảm giác nghi ngại và lo lắng. Con cảm
thấy có một niềm an lạc tự do dâng trào chưa bao giờ từng
có. Thế Tôn, đời sống xuất gia thật là hạnh
phúc đối với con, con không phải lo lắng điều gì, con không sợ mất mác thứ
gì, con không có gì để lo nghĩ, và con sống thật an vui hòa quyện với mọi thứ
trong rừng. Trong thiền định, đêm qua con thấy được rất rõ niềm phúc
lạc đó, cho nên con đã lỡ buột miệng kêu lên: “Ôi, hạnh phúc!, Ôi, hạnh
phúc!" làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn đồng tu. Con
xin thành tâm sám hối.
Bụt ngợi
khen Baddhiya trước mặt đại chúng. Người nói:
-
Hay lắm, khất sĩ Baddhiya. Thầy đang đi những bước vững chải
trên con đường tự tại và vô úy. Niềm an lạc của
thầy, cả chư thiên cũng biết ước ao, huống nữa là người đời.
Giữa mùa
an cư năm ấy, Bụt đã độ cho nhiều người xuất gia, trong số đó
một nhân tài lỗi lạc: đó là Mahakassapa. Chàng trai của một thương
gia giàu có vào bậc nhất ở vương quốc Magadha. Tên khác của
chàng là Pippali. Gia tài của vị thương gia này chỉ thua
công khố quốc gia mà thôi, trong nước không ai giàu có bằng
ông ta. Mahakassapa đã thành hôn với một thiếu nữ xinh đẹp ở
Vesali. Nàng tên là Bhadra Kapilani. Hai người đã sống với nhau được
mười hai năm, nhưng cả hai đều có chí hướng xuất trần, cả hai đều muốn tìm
thầy học đạo. Một buổi sáng nọ khi thức giấc, Mahakassapa thấy vợ
mình đang ngủ say và một cánh tay nàng buông thỏng từ trên giường
xuống tới gần mặt đất. Trong khi đó có một con rắn độc đang
trườn tới dưới gầm giường. Mahakassapa nín thở, không dám động dậy. Khi con rắn
đã bò ra khỏi nhà, chàng tức tốc chỗi dậy đánh thức nàng. Cả hai
người cùng ngồi chiêm nghiệm về tính cách vô
thường của cuộc đời. Vợ chàng khuyên chàng nên tức tốc đi tìm
thầy học đạo. Nghe nói có Bụt hiện đang hướng dẫn đại chúng tu
học tại Trúc Lâm gần thành Vương Xá, Mahakassapa liền vội
vã đi tìm. Ngay khi mới trông thấy Bụt, chàng biết ngay đây là thầy của mình.
Nói chuyện với Mahakassapa, Bụt nhận thấy đây là một con
người lỗi lạc, hiếm có trên đời, Bụt nhận chàng xuất gia. Mahakassapa
có trình bày với Bụt về trường hợp người bạn trăm năm của mình. Bụt
bảo chàng cơ duyên chưa thuận lợi để có thể chấp
nhận phụ nữ vào giáo đoàn. Người nói cần đợi thêm ít lâu nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét