Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 1
GIỚI LUẬT
ĐỨC HẠNH VÀ THẾ GIỚI CỦA LỤC CĂN
CHƯƠNG 3
SỐNG TRONG ĐẠO PHÁP
Giá trị Phật pháp không nằm trong
sách vở.
Sách vở chỉ là hình tướng của Phật
pháp.
Chúng không phải là sự chứng ngộ
của Phật pháp
mà một
người đạt được qua sự tu hành.
Nhiều người vẫn không hiểu cốt tủy của sự tu hành.
Họ nghĩ rằng khi kinh hành, ngồi thiền và nghe pháp là tu hành. Điều đó cũng
đúng, nhưng đây chỉ là hình thức bên ngoài của sự tu hành. Sự tu hành thật sự xảy ra khi tâm tiếp xúc với đối tượng của sáu giác
quan. Đó là khi chúng ta thật tâm tu hành, là khi các giác quan tiếp xúc với
thế giới bên ngoài. Khi có ai nói điều gì chúng ta không thích, chúng ta
tức giận; nếu họ nói điều gì chúng ta thích, chúng ta cảm thấy khoan khoái. Đây
là nơi để tu tập. Chúng ta tu tập với việc này như thế nào? Đây là điều quan
trọng. Nếu chúng ta chạy quanh quẩn, đuổi theo hạnh phúc và chạy trốn khổ đau,
chúng ta có thể tu hành cho đến ngày chúng ta lìa đời mà vẫn không biết gì về
Phật pháp cả. Khi sự khoái lạc và đau khổ phát sinh, chúng ta phải biết sử dụng
Phật pháp để thoát khỏi chúng. Đấy là cốt
tủy của sự tu hành.
Thường thì khi ai gặp chuyện gì không hài lòng, họ
không tiếp nhận nó. Khi bị chỉ trích, chẳng hạn, họ có thể sẽ đáp trả với câu,
“Đừng làm phiền tôi! Tại sao lại đổ lỗi cho tôi?”. Đây là cách ứng xử của một
người đóng chặt chính họ lại. Thế nhưng trong lúc này chính là lúc để tu tập.
Khi người ta chỉ trích chúng ta, chúng ta nên lắng nghe. Họ có nói đúng sự thật
không? Chúng ta nên cởi mở và xem xét những gì họ nói. Có lẽ có một điều gì đó
đáng trách bên trong chúng ta. Họ có thể đúng, nhưng chúng ta vội vàng thủ thế.
Khi người ta chỉ ra khuyết điểm của chúng ta , chúng ta nên cảm thấy biết ơn,
và cố gắn cải thiện mình. Đây là cách tu hành của kẻ trí huệ.
Nơi nào có sự rối loạn, nơi đó sự bình an có thể
phát sinh. Khi sự rối loạn được hiểu biết thấu đáo, những gì còn lại là sự bình
an. Có người không thể chấp nhận bị phê phán, bởi họ quá kiêu hãnh. Thay vì
lắng nghe, họ cãi lại. Đây là điều thường xảy ra khi người lớn đối với người
trẻ hơn. Thật ra, đôi lúc trẻ con có thể nói đúng, nhưng nếu bạn là cha mẹ,
chẳng hạn, bạn không chịu thua chúng. Nếu bạn là thầy giáo, học trò của bạn đôi
lúc nói bạn một điều gì đó mà bạn không biết. Nhưng bởi vì bạn là thầy, nên bạn
sẽ không thể nghe lời chúng, thậm chí còn bực tức chúng. Đây không phải là
Chánh Tư Duy.
Đức Xá-lợi-phất, một trong các đại đệ tử của Đức
Phật, là một người rất khôn ngoan. Có một lần, khi Đức Phật đang thuyết pháp,
Ngài quay sang Xá-lợi-phất và hỏi, “Xá-lợi-phất, ông có tin điều này không?”,
Xá-lợi-phất trả lời, “Không, tôi vẫn chưa tin được”. Đức Phật khen ngợi ông.
“Hay lắm, Xá-lợi-phất, ông là người có trí huệ. Kẻ trí huệ không tin ngay, họ lắng nghe với một đầu óc cởi mở và rồi
xem xét chân lý của sự việc trước khi tiếp nhận hay bác bỏ nó”.
Ở đây Đức Phật đã
nêu một tấm gương tốt cho các vị thầy. Điều mà Xá-lợi-phất nói là sự thật. Ông
chỉ trình bày cảm xúc thật sự của mình. Thế nhưng có nhiều người không dám bày
tỏ nghi ngờ của họ đối với một điều gì đó vì sợ rằng làm thế là nghi ngờ sự
hiểu biết của người thầy. Nhưng Đức Phật không cảm thấy bị xúc phạm. Ngài nói
rằng bạn không cần cảm thấy xấu hổ về những việc không xấu hay không có ác ý.
Không có gì xấu khi nói rằng mình không tin một điều gì đó, nếu mình thật sự
không tin. Đôi lúc bạn có thể học hỏi ngay từ những đứa trẻ. Đừng dính mắc một
cách mù quáng vào địa vị hay uy tín của mình.
Dầu bạn đang đứng,
đang ngồi hay đang đi, bạn đều có thể xem xét những việc chung quanh bạn. Xem xét một cách tự nhiên. Hãy quán xét mọi
thứ: cảnh sắc, âm thanh, mùi vị, cảm xúc hay ý niệm. Kẻ trí huệ quán xét tất
cả. Trên con đường tu hành, chúng ta sẽ đạt đến một điểm nơi không còn điều gì
có thể đè nặng tâm trí chúng ta.
Nếu chúng ta vẫn
chưa nhận biết những cái thích và cái không thích của chúng ta khi chúng phát
sinh, chúng ta vẫn còn lo âu. Nhưng khi chung ta biết sự thật về những thứ này,
chúng ta sẽ suy ngẫm như vầy, “Ồ, cái cảm giác ưa thích này chẳng là gì cả. Nó
chỉ là cảm xúc đến rồi đi mà thôi. Cùng thế ấy, sự không thích cũng chỉ là cảm
xúc đến rồi đi. Vậy tại sao chúng ta phải vướn vào vấn đề với chúng?” Nếu chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc và đau khổ
là những tài sản cá nhân thì chúng ta sẽ gặp phiền phức. Và những thứ này nối
tiếp nhau thành một chuỗi vô tận. Đây là những gì xảy ra với đa số chúng
ta.
Nhưng thời nay, các
vị thầy không thường nói về tâm khi họ thuyết giảng. Họ không nói chân lý.
Nhưng con người nên lắng nghe chân lý. Một vị thầy chân chánh không chỉ nói bằng
trí nhớ, mà nói chân lý. Một tu sĩ chân chánh chỉ nói chân lý - thực chất của
sự việc.
Nếu bạn hiểu Phật
pháp, bạn nên tu hành y theo đó. Bạn không cần phải trở thành một người xuất
gia, mặc dầu đời sống xuất gia là một đời sống lý tưởng, thích hợp nhất cho sự
tu hành. Để thật sự tu hành, bạn cần phải buông bỏ sự rối ren của thế gian,
buông bỏ gia đình, tài sản, và đi vào rừng. Đó là cách tốt nhất để tu hành.
Nhưng nếu chúng ta đã có một gia đình và trách nhiệm, chúng ta làm sao để tu
hành? Có người nói rằng người tại gia khó có thể tu hành. Nhưng bạn nghĩ xem,
nhóm người nào đông đảo hơn, tại gia hay xuất gia? Có quá nhiều người tại gia
hơn người xuất gia. Rồi bây giờ, nếu chỉ có người xuất gia tu hành thôi, thì sẽ
có rất nhiều sự lầm lẫn hay vô minh trong xã hội. Cho nên xuất gia không hẳn là
một giải pháp cho tất cả. Là tăng sĩ mà
không tu hành sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Nếu bạn hiểu biết Phật pháp, thì bất kể
bạn đang làm nghề gì hay giữ chức vụ gì trong xã hội, bạn vẫn có thể tu hành
trong từng phút giây hiện tại.
Cho rằng bạn không
thể tu hành khi sống tại gia là không hiểu Đạo. Tại sao người ta có thể tìm
được sự khích lệ để làm những việc khác? Nếu họ cảm thấy mình thiếu thốn một
điều gì, họ cố gắn đạt cho được điều đó. Con người có thể làm bất cứ điều gì,
nếu họ có đủ lòng ham muốn. Có người nói, “Tôi không có thời giờ để tu hành”.
Tôi nói, “Bạn có thời giờ để thở không vậy?” Sự tu hành đâu phải là điều làm
cho bạn kiệt sức. Bạn chỉ việc quan sát những cảm xúc phát sinh trong đầu. Điều
gì xảy ra khi đầu óc bạn tiếp nhận hình sắc, âm thanh, mùi vị... từ các giác
quan? Nếu chúng ta thích điều đó, chúng ta cảm thấy khoan khoái, nếu chúng ta
không thích điều đó, chúng ta cảm thấy khó chịu. Chỉ vậy thôi.
Cho nên, bạn đi đâu để tìm hạnh phúc trong thế giới này? Đâu phải lúc nào mọi người cũng đều nói với bạn những điều dễ nghe trong suốt cuộc đời của bạn? Có chuyện đó không? Nếu không thì bạn đi đâu bây giờ? Thế giới là vậy, ta phải hiểu rõ bản chất của thế giới này. Đức Phật sống trong thế giới này, Ngài đã kinh nghiêm đời sống gia đình, nhưng Ngài nhìn thấy giới hạn của nó và buông bỏ nó. Vậy thì các bạn. những người tại gia làm sao để tu hành? Nếu bạn muốn tu hành, bạn phải đi theo chánh đạo. Nếu bạn kiên trì tu tập, Bạn sẽ nhìn thấy sự giới hạn của thế giới này và sẽ có thể buông bỏ.
Những
người nghiện rượu đôi lúc nói. “Tôi không làm sao bỏ rượu được”. Tại sao họ
không thể bỏ rượu? Bởi vì họ chưa thật sự thấy cái giá của nó. Nếu bạn không nhìn thấy cái giá phải trả cho
một điều gì đó, bạn không thể nhìn thấy sự lợi ích của việc buông bỏ nó. Sự tu
hành của bạn sẽ không có kết quả. Bạn chỉ tu hành cho vui mà thôi. Nhưng
nếu bạn thấy được hậu quả và lợi ích của một điều gì đó, bạn sẽ không đợi người
khác khuyên bảo bạn.
Hãy
nghe câu chuyện sau về một người thuyền chài vừa tìm thấy một thứ gì đó trong
cái bẫy cá của ông. Ông biết có cái gì ở đó. Ông nghe có thứ gì đang nhảy lạch
bạch bên trong. Cho rằng đó là một con cá, ông thò tay vào lưới thì mới biết đó
là một con vật khác. Ông chưa nhìn thấy nó, nên ông lưỡng lự. Có thể nó là một
con lươn, nhưng biết đâu nó cũng có thể là một con rắn. Nếu ông ném nó đi, ông
sẽ phải hối tiếc vì nó có thể là một con lươn. Mặt khác, nếu ông nắm chặt lấy
nó, mà nó là một con rắn, thì ông có thể bị cắn. Ông nghi ngờ, nhưng vì quá ham
muốn, ông giữ chặt lấy bẫy cá. Thế nhưng, khi ông vừa lôi nó ra và nhìn thấy bộ
dạng vằn vện của nó, ông quăng nó ngay lập tức, ông không cần đợi ai kêu lên,
“Con rắn, thả nó đi”. Nhìn thấy con rắn là ông biết phải làm gì ngay, mà không
cần đợi ai chỉ bảo. Tại sao vây? Bởi vì ông nhìn thấy sự nguy hiểm - rắn có thể
cắn - và ông có thể chết. Cũng thế ấy, nếu
chúng ta tu hành cho đến khi chúng ta thấy rõ bản chất của sự việc, chúng ta sẽ
không còn dính dáng với những điều có hại.
Nhưng
thường người ta ít khi thực hành điều này. Họ không suy nghĩ về sự nguy hại, sự
già cả, bệnh tật và cái chết. Cho nên họ không bao giờ cảm thấy muốn tu hành.
Họ đi nghe thuyết pháp nhưng họ không thật sự lắng nghe. Đôi lúc tôi được mời
đi thuyết giảng cho những đoàn thể quan trọng, nhưng họ chỉ khiến tôi cảm thấy
khó chịu. Khi nhìn những người có mặt ở đó, tôi có thể nhận thấy rằng họ đến
không phải để nghe pháp. Có người nồng nặc mùi rượu, có người hút thuốc, có
người tán ngẫu. Họ không giống những người có niềm tin vào Phật pháp chút nào.
Giảng pháp ở nơi như thế không có lợi ích nhiều. Những người không chú ý lắng
nghe sẽ nghĩ, “Khi nào ông ấy mới ngừng nói đây? ‘Không thể làm điều này, không
được làm điều kia’...” và đầu óc của họ nghĩ ngợi lung tung.
Có
lúc họ còn mời tôi thuyết giảng cho có hình thức. “Xin ngài cho chúng tôi một
bài pháp ngắn”. Họ không muốn tôi nói nhiều - sợ sẽ rầy rà cho họ! Khi tôi vừa
nghe có ai nói kiểu này, tôi biết họ đang nghĩ gì. Những người này không thích
nghe pháp. Giáo pháp quấy rầy họ. Nếu tôi chỉ nói một bài pháp ngắn, họ sẽ
chẳng hiểu gì cả. Nếu bạn chỉ ăn một chút, bạn có no được không?
Có
lúc tôi đang nói chuyện để khởi đầu cho một đề tài nào đó, thì một gã say rượu
la lên, “Ê, tránh đường, tránh đường, Đại Đức sắp ra đến rồi!” - hắn muốn đuổi
tôi đi! Nếu tôi gặp những loại người này, tôi phải suy ngẫm rất nhiều, và tôi
hiểu rõ thêm về bản chất của con người. Nó giống như một người có một bình nước
đầy, mà vẫn muốn rót nước vào thêm. Đâu còn chỗ để chứa nữa. Châm thêm nước vào
bình đó, chỉ khiến nước chảy tràn một cách phí phạm. Dạy dỗ những người như vậy
chỉ lãng phí thời gian và sức lực, bởi vì đầu óc họ đã đầy ắp rác rưởi. Tôi
không thể cố gắn cho đi, khi không ai cố gắn nhận. Nếu bình nước của họ còn có
chỗ trống, người cho và người nhận mới được lợi ích.
Vào
thời nay, việc thuyết pháp thường là như vậy, và ngày càng tệ hại hơn. Người ta
không còn tìm kiếm chân lý. Họ nghiên cứu giáo lý chỉ để tìm thấy những kiến
thức cần thiết cho việc sinh nhai, phụng dưỡng gia đình và chăm sóc cho bản
thân họ. Họ không thật sự nghiên cứu Phật pháp. Tăng sĩ thời nay có nhiều kiến
thức hơn những thế hệ trước rất nhiều. Họ có tất cả những thứ họ cần. Họ có đủ
thứ tiện nghi. Nhưng họ cũng đau khổ và
hoang mang nhiều hơn. Tại sao vậy? Bởi vì họ chỉ tìm tòi những kiến thức mà họ
có thể dùng để kiếm sống.
Ngay
cả các tăng sĩ cũng làm thế. Đôi lúc tôi nghe họ nói, “Tôi đâu phải xuất gia để
tu hành! Tôi ở đây để nghiên cứu Phật pháp”. Đây là lời của những người không
biết tu hành là gì. Họ đang ở ngõ cụt. Khi những tăng sĩ này giảng dạy, họ chỉ
nói xuất phát từ trí nhớ của họ. Họ có thể giảng dạy, nhưng tâm của họ thì ở
nơi khác. Sự giảng dạy như thế không phải là Chánh pháp.
Thế
giới là như vậy đó. Nếu bạn muốn sống bình dị, an ổn để tu hành, họ nói bạn là
kỳ quặc và lập dị. Họ nói rằng bạn cản trở sự phát triển của xã hội. Họ còn hù
dọa khiến cho bạn sợ hãi. Bạn có thể sẽ tin những gì họ nói và quay lại với lối
sống của thế gian, để rồi càng chìm đắm cho đến khi bạn không thể đứng lên nổi
nữa. Có người nói. “Tôi không thể thoát ra được. Tôi đã lún quá sâu rồi”. Xã
hội thường là như vậy đó. Ít ai hiểu giá trị của Phật pháp.
Giá trị của Phật pháp không nằm ở sách vở. Sách
vở chỉ là ngoại hình của Phật pháp. Chúng không phải là sự chứng ngộ của Phật
pháp mà một người kinh nghiệm đạt được qua sự tu hành. Nếu
bạn chứng ngộ, bạn nhận biết tâm của mình. Bạn nhìn thấy chân lý ở đó. Khi chân
lý trở nên rõ ràng, nó phá tan mọi ảo giác.
Giáo
lý của Đức Phật là một chân lý bất di bất dịch, Ngài chứng ngộ chân lý này đã
hơn 2.500 năm trước và nó vẫn là chân lý cho đến ngày nay. Giáo lý này không
thêm hay bớt. Đức Phật nói, “Những gì Như
Lai nói ra không được cắt bỏ, và những gì Như Lai không nói thì không được thêm
vào”. Tại sao Đức Phật làm thế? Bởi vì sự giảng dạy này là lời nói của sự
chân thật, lời nói của người chứng ngộ đã dứt trừ phiền não. Dầu cho thế giới
thay đổi, giáo lý này sẽ không thay đổi.
Nếu
có điều gì đó là sai, chúng ta nói rằng nó đúng, liệu có làm cho nó ít sai hơn
không? Nếu điều gì đó là đúng mà người ta nói là không đúng, thì điều đó có
thay đổi gì không? Nhiều thế hệ đã đi qua, những sự giảng dạy này vẫn không
thay đổi, bởi nó là chân lý.
Vậy
thì ai là người tạo ra chân lý này? Chính chân lý nó tự tạo ra chân lý! Có phải
Đức Phật sáng tạo ra nó không? Không, không phải Ngài. Đức Phật chỉ khám phá ra
chân lý, bản chất của sự việc, và rồi Ngài đã công bố nó. Chân lý luôn luôn
đúng, dầu có Đức Phật xuất hiện ở thế gian này hay không. Đức Phật chỉ thừa
nhận Phật pháp mà thôi. Phật pháp luôn có ở đó. Chỉ là trước kia, chưa ai tìm
thấy nó. Đức Phật là người đã tìm kiếm và tìm thấy cái chân lý bất tử mà chúng
ta gọi nó là Phật pháp và rồi truyền đạt nó, Ngài không sáng tạo ra nó.
Tại
một thời điểm nào đó, chân lý được tìm thấy, và sự tu hành theo chánh pháp bắt
đầu. Theo thời gian, sự tu hành ấy suy đồi cho đến khi sự giảng dạy này phai mờ
hoàn toàn. Sự hỗn loạn lại thống trị thế gian. Sau một thời gian tiếp theo,
chánh pháp lại được khám phá ra và hưng thịnh trở lại. Chân lý lại được tái
thiết lập. Và cứ vậy - hưng thịnh rồi suy vong, nhưng chân lý thật sự không đi
đâu cả. Khi các vị Phật ra đời và nhập diệt, chánh pháp không biến mất theo họ.
Thế
gian cứ xoay vần mãi. Nó giống như một cây xoài. Khi cây lớn lên, nó đơm hoa
kết trái, rồi trái chín. Những trái xoài hư thối rơi xuống và hạt xoài trở lại
đất để trở thành một cây xoài mới. Nó vẫn là cây xoài, không phải thành một cây
khác. Thế gian cũng vậy, chân lý cũng vậy. Nó chẳng thay đổi, nó chẳng đi đâu
cả, mà chỉ xoay vần chung quanh những sự việc củ.
Đời
sống của chúng ta cũng vậy. Hôm nay chúng ta cũng chỉ làm những việc chúng ta
đã từng làm. Người ta suy nghĩ quá nhiều. Có quá nhiều việc lôi cuốn sự chú ý
của họ, nhưng không có thứ gì đi đến đâu cả. Có những môn khoa học như toán
học, vật lý học, tâm lý học, v.v... Bạn có thể nghiên cứu bất kỳ môn học nào,
nhưng bạn chỉ có thể thấu hiểu nó qua sự chứng ngộ chân lý mà thôi.
Hãy
hình dung một cái xe bò. Khi con bò đi, chiếc xe để lại dấu xe phía sau nó.
Bánh xe có thể không lớn lắm, nhưng dấu xe có thể sẽ rất dài. Nhìn chiếc xe bò
khi nó đứng yên, bạn thấy nó chỉ có bấy nhiêu thôi, nhưng khi một con bò bắt
đầu chuyển động, bạn thấy dấu xe kéo dài phía sau bạn. Chừng nào con bò còn
bước đi, bánh xe vẫn còn quay và dấu xe vẫn dài mãi. Nhưng một ngày nào đó, con
bò mệt mỏi và không thể kéo nữa, con bò rời bỏ chiếc xe, bánh xe không còn quay
nữa. Sau một thời gian, chiếc xe hư hỏng, các bộ phận của nó rã rời và trở về
tứ đại - đất, nước, gió và lửa.
Khi
bạn tìm thấy sự bình an trong thế gian, bánh xe chánh pháp quay liên tục, và
dấu xe kéo dài vô tận ở phía sau bạn. Chừng nào bạn còn chạy theo chân lý,
chiếc xe sẽ không ngừng nghỉ. Nhưng nếu bạn chỉ việc dừng lại, bánh xe sẽ không
quay nữa. Đối với ác nghiệp phát sinh cũng theo như thế đó. Chừng nào bạn còn
ảo tưởng chạy theo thói củ, nghiệp quả sẽ sinh khởi mãi. Nếu bạn dừng lại, nó
sẽ ngừng sinh khởi. Đây là sự tu hành của chúng ta.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét