Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 2
THIỀN ĐỊNH
CHƯƠNG 12
SỰ QUÂN BÌNH NỘI TÂM.
Điềm tĩnh, tự chủ, đây là giới hạnh.
Tâm an trụ vững vàng là định.
Hiểu biết rõ ràng những gì chúng ta đang làm
là trí huệ.
Tu hành chỉ là giới, định và huệ, hay nói cách
khác là Đạo.
Không có con đường nào khác.
Để an định tâm có nghĩa là tìm thấy sự quân bình nội tâm. Nếu
bạn cố ép tâm quá nhiều, nó sẽ khiến bức bối. Nếu bạn cố gắn không đủ, nó đánh
mất sự thăng bằng.
Thường thì tâm không yên lặng. Nó luôn chuyển động. Chúng ta
phải huấn luyện nó. Làm cho tâm vững vàng không giống như việc làm cho thân thể
khỏe mạnh. Để cho thân thể khỏe mạnh, chúng ta cần tập thể dục, phải thúc ép
nó. Để cho tâm vững vàng, chúng ta phải làm cho nó bình an, không nghĩ ngợi
lung tung. Đối với đa số chúng ta, tâm chưa bao giờ bình an, nó chưa bao giờ có
định lực, cho nên chúng ta phải thiết lập ranh giới cho nó. Chúng ta ngồi
thiền, trụ lại với “người biết” hay “tâm thức nhận biết”.
Nếu chúng ta cố ép để hơi thở của mình dài thêm hay ngắn đi,
chúng ta mất thăng bằng. Tâm sẽ bất an. Cũng giống như khi chúng ta mới bắt đầu
sử dụng bàn đạp của cái máy may. Trước khi học may, chúng ta phải tập sử dụng
bàn đạp cho quen. Đi theo hơi thở cũng vậy. Chúng ta không lo lắng là hơi thở
của mình dài hay ngắn, mạnh hay yếu, mà chỉ nhận biết nó. Chúng ta để cho nó tự
nhiên.
Khi hơi thở đã quân bình, chúng ta dùng hơi thở làm đối tượng để
thiền quán. Khi chúng ta hít vào, phần đầu của hơi thở là ở chót mũi, phần giữa
ở ngực, và phần cuối ở bụng. Khi chúng ta thở ra, thì đi ngược lại. Chỉ việc
nhận biết hơi thở ở chót mũi, ở ngực và ở bụng. Chúng ta chỉ nhận biết ba điểm
này để giữ vững tâm, hạn chế bớt những hoạt động tâm trí để chánh niệm có thể
phát sinh dễ dàng. Sau một thời gian luyện tập, khi sự chú ý của chúng ta đã ổn
định tại ba điểm này rồi, chúng ta chỉ cần tập trung tại một điểm duy nhất -
tại chót mũi hay môi trên, nơi không khí đi vào và đi ra. Chúng ta không chạy
theo hơi thở nữa, chỉ thiết lập chánh niệm ngay chót mũi, nhận biết hơi thở tại
một điểm này thôi - đi vào, đi ra.
Không cần phải suy tư về một điều gì đặc biệt, chỉ tập trung vào
công việc giản dị này trong hiện tại, đó là nhận biết sự hiện diện của tâm.
Không bao lâu, tâm trở nên bình an, hơi thở trở nên vi tế, thân tâm trở nên nhẹ
nhàng. Đây là kết quả của công phu hành thiền.
Khi ngồi thiền, tâm trở nên thanh tịnh nhẹ nhàng, nhưng bất cứ
trạng thái tâm là gì, chúng ta nên cố nhận biết nó. Những hoạt động tâm trí xảy
ra cùng với sự tĩnh lặng. Vitakka (1)
hiện diện. Vitakka là sự kéo tâm lại với đối tượng quán tưởng. Nếu không đủ
chánh niệm, thì không có nhiều Vitakka. Theo sau đó là Vicara. Vicara là khi tâm bám chặt vào đối tượng quán tưởng, Những
ấn tượng mờ nhạt có thể nảy sinh đây đó, nhưng điều quan trọng là bất cứ gì xảy
ra, chúng ta liên tục nhận biết nó. Khi chúng ta thiền sâu hơn, chúng ta luôn ý
thức trạng thái thiền định của mình, biết rõ tâm có an trụ vững vàng hay không.
Do đó, cả hai, sự tập trung và sự nhận biết đều hiện diện.
Có được tâm bình an và tĩnh lặng không có nghĩa là không có gì
xảy ra. Các cảm thọ vẫn phát sinh. Chẳng hạn, khi chúng ta nói về cảnh giới
định sơ thiền(1), chúng ta nói rằng nó có năm yếu tố. Cùng với vitakka và vicara, piti (hỷ) phát
sinh với đối tượng của thiền quán, rồi đến sukha
(lạc). Bốn thứ này ở cùng với nhau trong cái tâm đã tĩnh lặng.
Yếu tố thứ năm là ekaggata,
hay sự nhất tâm. Bạn có thể bâng khuâng rằng làm thế nào có được sự nhất tâm
cùng một lúc với sự hiện diện của những yếu tố khác trong tâm. Đó là bởi vì
chúng trở nên hợp nhất khi tâm đã an định. Cả năm yếu tố hợp lại một trạng thái
gọi là thiền định. Chúng không phải là trạng thái bình thường của tâm. Chúng là
yếu tố của định. Cả năm tính chất này, không thứ nào quấy nhiễu trạng thái an
định căn bản. Vitakka hiện diện, nhưng nó không quấy nhiễu tâm; vicara, hỷ, và
lạc phát sinh, nhưng chúng cũng không khuấy động tâm. Tâm vì thế mà đồng nhất
với những yếu tố này. Đây là cảnh giới định sơ thiền.
Chúng ta cũng không cần gọi nó là jhana (2) - định sơ thiền, định nhị thiền, v.v... Chỉ việc
gọi nó là “tâm an định”. Khi tâm an định dần, nó sẽ không cần đến vitakka và
vicara, mà chỉ còn lại khoái lạc và hạnh phúc. Tại sao tâm buông bỏ vitakka và
vicara? Nó làm thế bởi vì, khi tâm thanh tịnh dần, những hoạt động của vitakka
và vicara trở nên quá thô tạp với nó. Ở giai đoạn này, khi tâm đã xa lìa
vitakka và vicara, những cảm giác khoái lạc tột độ có thể nảy sinh, nước mắt có
thể tuôn trào. Nhưng khi thiền định vào
sâu hơn, ngay cả những khoái lạc cũng bị thải bỏ, chỉ còn lại hạnh phúc và nhất
tâm, cho đến cuối cùng, ngay cả sự hạnh phúc cũng ra đi và tâm đạt đến trạng
thái thanh tịnh tối thượng. Lúc đó chỉ còn lại sự tĩnh lặng và nhất tâm.
Tất cả những thứ khác đều đã bị bỏ lại phía sau. Tâm đứng yên bất động.
Một khi tâm đã an định, điều này có thể xảy ra. Bạn không cần
phải suy nghĩ nhiều về nó; nó tự động xảy ra khi nhân duyên chín muồi. Đây gọi
là định lực hay năng lực của định tâm. Trong trạng thái này, tâm không hôn
trầm; cả năm chướng ngại - tham, sân, trạo cử, hôn trầm, và nghi hoặc - đều tan
biến.
Nhưng nếu định lực vẫn chưa đủ mạnh và chánh niệm còn yếu, những
ấn tượng tâm trí đôi lúc sẽ xâm nhập. Tâm an định, nhưng dường như vẫn còn một
chút ít mây mù bên trong sự an định. Tuy nhiên, đó không phải là trạng thái hôn
trầm bình thường. Vài cảm thọ hiện lên trong tâm - có lẽ chúng ta sẽ nghe thấy
âm thanh nào đó hay nhìn thấy một con vật hay cái gì đó. Nó không rõ ràng lắm,
nhưng cũng không phải là nằm mơ. Đây là do năm yếu tố này đã mất cân bằng và
yếu ớt.
Trong những trạng thái định này, tâm thường giở trò bịp bợm. Đôi
lúc, tâm ảnh xuất hiện, xuyên qua các giác quan, và thiền giả không biết chắc
là điều gì đang xảy ra. “Mình đang ngủ à? Không, mình đang mơ sao? Không, nó
đâu phải giấc mơ...”. Có những cảm thọ phát sinh, nhưng nếu tâm thực sự thấu
suốt và tĩnh lặng, chúng ta sẽ không nghi ngờ những hình ảnh hay ấn tượng xuất
hiện trong đầu. Những câu hỏi, lời nói trong đầu không còn nảy sinh nữa, bởi
chúng ta biết rõ bản chất của tâm là tĩnh lặng. Nếu tâm bị lạc hướng trong
những cảm thọ của nó, nó giống như mặt trăng lặn ở phía sau một đám mây, và khi
tỉnh thức, nó như mặt trăng trong sáng vừa xuất hiện từ phía sau đám mây vậy.
Khi tâm bình an và trụ trong chánh niệm vững vàng, chúng ta
không còn những nghi ngờ về những hiện tượng trong tâm. Tâm như vậy mới thật sự
vượt lên trên mọi chướng ngại. Chúng ta biết rõ thực chất của mọi thứ xuất hiện
trong tâm. Chúng ta không nghi ngờ bởi vì tâm đã thanh tịnh. Định tâm là như
thế đấy.
Có người thấy khó nhập
định bởi vì họ không có những khuynh hướng thích hợp. Có chút ít định lực,
nhưng không vững vàng. Những người như thế có thể đạt được bình an qua trí huệ,
qua sự thiền quán và nhìn thấy chân lý của sự việc, và hóa giải những vấn đề
của họ bằng cách đó. Đây là sử dụng trí huệ thay vì thiền định. Để đạt được sự trầm
tĩnh, bạn không nhất thiết phải ngồi thiền thật lâu. Chỉ việc tự hỏi mình, “Nè,
cái gì đó?” và vấn đề được giải quyết ngay tại đó! Một người có trí huệ có thể
làm như thế. Có lẽ họ không thể thật sự đạt đến cảnh giới thiền định cao, nhưng
họ đạt đủ để phát huy trí huệ. Nó giống như sự khác biệt của việc trồng lúa và
trồng bắp vậy. Người ta có thể sống nhờ vào gạo nhiều hơn bắp. Sự tu hành của
chúng ta có thể giống như vậy. Chúng ta nương tựa nhiều vào trí huệ để giải
quyết vấn đề. Khi chúng ta thấy được chân lý, sự bình an sẽ phát sinh.
Con đường của trí huệ
và thiền định không giống nhau. Có người khai ngộ và có trí huệ vững chắc,
nhưng không có nhiều định lực. Khi họ ngồi thiền, họ không thấy bình an cho mấy. Họ thường
nghĩ ngợi nhiều, suy ngẫm về điều này, điều nọ, cho đến một ngày họ quyết định
quán xét sự hạnh phúc và đau khổ, nhìn thấy chân tướng của chúng. Dầu lúc đi,
đứng, nằm, hay ngồi sự chứng ngộ đều có thể xảy ra. Họ đạt được bình an xuyên
qua sự nhìn thấy, sự xả bỏ, qua sự hiểu biết chân lý và vượt lên trên mọi nghi
hoặc, bởi vì họ đã tự mình nhìn thấy nó.
Cũng có người chỉ có chút ít trí huệ nhưng định lực của họ rất
mạnh. Họ có thể nhập định nhanh chóng, nhưng vì không có nhiều trí huệ, họ
không thể nhận ra những phiền não của mình, họ không biết chúng. Và vì thế, họ
không thể giải quyết vấn đề của mình.
Nhưng bất kể là bằng phương pháp nào, chúng ta đều phải đoạn trừ
những lối suy nghĩ sai lầm, để chỉ còn lại Chánh Kiến mà thôi. Chúng ta phải
vứt bỏ sự rối rắm, để chỉ còn lại sự bình an.
Với phương pháp nào, chúng ta cũng sẽ tới cùng một mục đích. Hai
khía cạnh trong tu hành - sự bình an và hiểu biết - đi đôi với nhau. Chúng ta
không thể loại bỏ một trong hai thứ đó.
Cái “xem xét” những yếu tố khác nhau phát sinh trong thiền định
là sự chánh niệm. Chánh niệm là một điều kiện tất yếu, xuyên qua sự tu hành, có
thể giúp các yếu tố khác nảy sinh. Chánh
niệm là sự sống. Mỗi khi chúng ta không có chánh niệm, chúng ta buông lung,
chúng ta sống mà như chết. Lời nói và hành động của chúng ta trở nên vô nghĩa.
Chánh niệm là nguyên nhân phát sinh sự nhận biết chính mình và trí huệ. Bất
cứ phẩm hạnh nào mà chúng ta trau dồi cũng đều sẽ bất toàn nếu chúng ta thiếu
sự chánh niệm. Chánh niệm là cái xem xét khi chúng ta đi, đứng, nằm, và ngồi.
Chánh niệm nên hiện diện xuyên suốt, ngay cả khi chúng ta xuất định.
Bất kể chúng ta làm gì, chúng ta chịu trách nhiệm. Cảm giác xấu
hổ phát sinh. Chúng ta cảm thấy xấu hổ những việc không đúng của mình, càng xấu
hổ, chúng ta càng trầm tĩnh. Khi sự trầm tĩnh gia tăng, sự phóng dật sẽ biến
mất. Ngay cả khi chúng ta không ngồi thiền, những yếu tố này cũng hiện diện
trong tâm.
Và điều này nảy sinh là do chúng ta phát huy chánh niệm. Hãy
phát triển chánh niệm! Nó có giá trị thật. Đây là phẩm chất canh chừng, xem xét
những việc làm của chúng ta trong hiện tại. Nếu chúng ta nhận biết chính mình
như thế này, điều thiện sẽ phát triển, Đạo sẽ sáng tỏ, và nguồn gốc của tất cả
đau khổ sẽ tan biến. Trí huệ sẽ phát sinh.
Nói tóm lại, sự tu hành bao gồm: giới, định, và huệ. Điềm tĩnh, tự chủ, đây là giới hạnh. Tâm an
trụ vững vàng là định. Hiểu biết hoàn toàn những gì chúng ta đang làm là trí
huệ. Tu hành chỉ là giới, định, huệ, hay nói cách khác, là Đạo. Không có con
đường nào khác.
----------------------------------------
Ghi chú:
(1) Ở sơ thiền có năm
thiền chi: 1. Giác (Vitakka, tâm theo dõi đối tượng quán tưởng); 2. Quá
(Vicara, tâm bám chặt vào đối tượng quán tưởng); 3. Hỉ (Piti, nỗi vui mừng, tâm
xao động); 4. Lạc (tình trạng gom tâm vào một điểm trên đối tượng; tức là nhập
định).
(2) Jhana: Thiền na,
các trạng thái tâm lần lượt đi qua để nhập vào Định. Thường được gọi tắt là
Thiền. Có bốn cấp Thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Bốn cấp
này thuộc về Sắc thiền, vì hành giả nhờ quán tưởng các đối tượng có hình sắc
trong cõi dục giới mà nhập vào Định.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét