Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 2
THIỀN ĐỊNH
CHƯƠNG 20
TU HÀNH ĐÚNG TU HÀNH KIÊN ĐỊNH
Tu hành kiên định là duy trì thái độ tu hành
trong cả bốn tư thế.
Khi rời khỏi tư thế ngồi thiền,
đừng nghĩ rằng bạn đang rời khỏi thiền.
Bạn chỉ thay đổi tư thế mà thôi.
Hãy nhớ rằng phương
pháp tu hành này không phải dễ. Tâm rất quan trọng, và huấn luyện tâm là một
việc khó khăn. Mọi thứ bên trong cái thân và tâm này đều xoay về tâm. Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, tất cả đều tiếp nhận đối tượng cảm xúc và gởi nó tới tâm – tâm
là cái giám sát tất cả những giác quan khác. Nếu tâm được huấn luyện tốt, mọi
vấn đề kết thúc. Nếu còn có vấn đề, đó là vì tâm vẫn còn nghi ngờ, tâm chưa
hiểu biết sự việc đúng với chân lý.
Hãy hiểu rằng bạn đến
đây hoàn toàn vì việc tu hành và hoàn toàn chuẩn bị tinh thần. Bất kể đi, đứng,
nằm, ngồi, những công cụ bạn cần để tu hành đều được cung cấp đầy đủ. Chúng ở
đó, cũng như Đạo vậy. Đạo là một thứ hiện diện ở khắp mọi nơi. Ngay nơi đây,
trên đất liền hay trong nước, bất cứ nơi đâu, Đạo luôn hiện diện, Đạo thì hoàn
mỹ, nhưng sự tu hành của chúng ta chưa đủ hoàn mỹ.
Đức Phật, Đấng Toàn
Giác, dạy chúng ta một pháp môn để tu hành và chứng Đạo. Điều này không có gì
là lớn lao, nhưng nó là chân lý. Ví dụ, hãy nhìn sợi tóc. Nếu chúng ta chỉ biết
sợi tóc của mình thôi, chúng ta sẽ biết cả tóc của những người khác. Chúng ta
biết rằng những sợi tóc chỉ là “tóc”. Biết một sợi tóc là chúng ta biết tất cả
sợi tóc khác.
Lấy ví dụ về con
người. Nếu chúng ta nhìn thấy thực chất của những tình trạng bên trong chúng
ta, chúng ta biết tất cả những người khác, bởi vì mọi người đều có cấu tạo
giống nhau. Đạo cũng vậy. Nó là một thứ nhỏ mà lớn. Một khi nhìn thấy chân lý
của một tình trạng, chúng ta sẽ nhìn thấy chân lý của tất cả mọi tình trạng.
Tuy nhiên, sự huấn
luyện tâm là một công việc khó khăn. Nó khó khăn bởi vì sự ham muốn. Nếu bạn không ham muốn, bạn sẽ không tu hành. Nhưng nếu
sự tu hành của bạn xuất phát từ lòng ham muốn, bạn sẽ không thể chứng Đạo. Thử
nghĩ xem. Nếu bạn không muốn tu hành, bạn sẽ không thể tu hành. Trước hết bạn
phải muốn tu hành rồi mới có thể thật sự làm thế. Bất kể là đi tới hay đi lui,
bạn đều đụng độ sự ham muốn. Đây là
lý do tại sao các thiền giả trong quá khứ nói rằng sự tu hành này là một công
việc vô cùng khó khăn. Bạn không giác ngộ bởi vì lòng ham muốn. Đôi lúc sự ham
muốn quá mãnh liệt, bạn muốn giác ngộ ngay lập tức, nhưng Đạo không phù hợp với
ý muốn của bạn – tâm của bạn chưa phải là Đạo.
Cho nên con đường tu
hành vừa khó khăn, vừa gian truân bởi vì những ham muốn. Ngay lúc chúng ta ngồi
xuống thiền, chúng ta muốn được bình an. Nếu chúng ta không muốn tìm kiếm sự
bình an, chúng ta chẳng ngồi thiền làm gì. Vừa ngồi xuống thiền là chúng ta
muốn được bình an. Nhưng muốn cho tâm bình an cũng chỉ tạo ra sự rối rắm, và
chúng ta cảm thấy bất an. Sự việc là như vậy. Cho nên, Đức Phật nói, “Đừng nói với sự ham muốn, đừng ngồi với sự
ham muốn, đừng đi với sự ham muốn, bất kể bạn làm gì, đừng làm thế với sự ham
muốn”. Nếu bạn không muốn làm một điều gì, bạn sẽ không làm điều đó. Nếu sự
tu hành của chúng ta đạt đến điểm này, chúng ta rất có thể cảm thấy chán nản. Làm
sao chúng ta có thể tu hành? Ngay khi chúng ta muốn ngồi xuống, sự ham muốn đã
nảy sinh trong tâm.
Thật ra, cái tâm này
của chúng ta chỉ là một tình trạnh của tự nhiên, giống như một cái cây trong
rừng. Nếu bạn muốn một tấm bảng gỗ, nó phải đến từ cây, nhưng cây là cây – chưa
phải là một tấm bảng. Để cây thật sự có giá trị, chúng ta phải cưa nó xuống và
cắt thành những tấm bảng. Bản chất của nó vẫn là cây, một tình trạng của thiên
nhiên. Tâm của chúng ta cũng vậy. Nó là một tình trạng của thiên nhiên. Nó nhận
biết những ý tưởng; nó phân loại ý tưởng thành xấu và tốt, thiện và ác, v.v…
Cái tâm này của chúng
ta phải được huấn luyện thêm nữa. Chúng ta không thể cứ để nó như vậy. Nó là
một tình trạng tự nhiên, nhưng chúng ta phải huấn luyện nó để có thể nhận ra nó
là một tình trạng tự nhiên. Chúng ta phải cải thiện thiên nhiên để nó phù hợp
với nhu cầu của chúng ta, tức là Đạo. Đạo là một thứ cần được thực hành và mang
vào trong.
Nếu bạn không tu hành,
bạn không thể hiểu Đạo. Bạn cũng không thể hiểu Đạo chỉ bằng cách đọc sách và
nghiên cứu kinh điển. Dầu bạn có hiểu đi chăng nữa, kiến thức của bạn sẽ thiên
lệch. Ví dụ, có cái ống bô ở đây. Ai cũng biết rằng nó là một cái ống bô, nhưng
họ không hoàn toàn biết cái ông bô.
Tại sao họ không hoàn toàn biết nó? Nếu tôi gọi cái ống bô này là cái xoong,
thì bạn nghĩ sao? Giả sử mỗi lần đề cập đến nó, tôi đều nói, “Làm ơn mang cái
xoong đó qua đây”, bạn sẽ cảm thấy hoang mang. Tại sao? Bởi vì bạn không hoàn
toàn biết cái ống bô. Nếu bạn thật sự biết, thì không có vấn đề gì cả. Bạn chỉ
việc cầm nó lên, và đưa cho tôi, bởi vì thật sự thì đâu có gì là ống bô. Có
hiểu không? Nó là cái ống bô theo
cách gọi quy ước. Quy ước này được chấp nhận bởi tất cả mọi người, cho nên nó
là một cái ống bô. Nhưng không hề có một cái “ống bô” thật sự. Nếu có người
muốn gọi nó là cái xoong, nó có thể là cái xoong. Nó có thể là bất cứ thứ gì
bạn gọi nó. Những quy ước này là những quan niệm. Nếu chúng ta hoàn toàn biết
cái ống bô, thì dầu người khác có gọi nó là cái xoong, chúng ta không cảm thấy
có vấn đề. Bất kể người ta gọi nó là gì, chúng ta cũng không xao động bởi vì
chúng ta thấy rõ bản chất thực của nó. Kẻ nhìn thấy điều này là kẻ hiểu Đạo.
Bây giờ, hãy trở lại
với chính mình. Giả sử có người nói bạn là điên hay ngu ngốc. Có thể điều đó
không đúng, nhưng ta vẫn cảm thấy khó chịu. Mọi thứ trở nên phiền toái vì sự
ham muốn – chúng ta muốn có và muốn được. Bởi vì những ham muốn này, và bởi vì
chúng ta không hiểu biết phù hợp với chân lý, chúng ta không thỏa mãn. Nếu
chúng ta hiểu Đạo, tham, sân, si sẽ biến mất. Khi chúng ta biết rõ bản chất của
sự việc, chúng không còn chỗ để đứng nữa.
Nếu thân và tâm không
phải là ta và không thuộc về ta, vậy thì chúng thuộc về ai? Những thứ này không
dễ gì đối phó. Chúng ta phải dựa vào trí huệ. Đức Phật nói rằng chúng ta phải
tu hành bằng cách xả bỏ. Lối tu hành này có vẻ khó hiểu phải không? Nếu chúng
ta buông bỏ thì chúng ta không cần tu. Bởi vì chúng ta đã buông bỏ.
Giả sử bạn ra chợ mua
vài trái dừa, và trên đường về nhà, có người hỏi bạn tại sao mua dừa.
“Tôi mua chúng để ăn”,
bạn trả lời. “Bạn ăn luôn cả vỏ dừa sao? Không? Tôi không tin! Nếu bạn không ăn
vỏ dừa, thì bạn mua luôn cả vỏ làm gì?”
Bạn trả lời thế nào
đây? Chúng ta tu hành với sự ham muốn. Nếu không có sự ham muốn chúng ta chẳng
đi tu. Quán chiếu như thế mãi có thể phát sinh trí huệ. Về phần mấy trái dừa,
dĩ nhiên bạn sẽ không ăn vỏ dừa. Thế thì tại sao bạn mang chúng về? Bởi vì vẫn
chưa đến lúc phải quăng nó đi. Chúng vẫn hữu ích trong lúc này – chúng che chở
cho những thứ bên trong trái dừa. Nếu sau khi ăn dừa xong mà bạn quăng cái vỏ
đi, thì không có vấn đề gì.
Sự tu hành của chúng
ta cũng vậy. Khi Đức Phật bảo chúng ta đừng hành động từ sự ham muốn, đừng nói
từ sự ham muốn, đừng đi, đứng, ngồi, hay ăn từ sự ham muốn, ý Ngài là chúng ta
nên làm những điều này với sự xả bỏ. Việc mang cả vỏ dừa về nhà cũng vậy. Chúng
ta không ăn vỏ dừa, nhưng vì chưa đến lúc để quăng nó đi. Nước dừa, cơm dừa và
vỏ dừa đi chung với nhau một bộ. Khi chúng ta mua một trái dừa, chúng ta mua
trọn gói. Nếu có người chê cười chúng ta ăn cả vỏ dừa, đó là việc của họ. Chúng
ta biết mình đang làm gì. Tu hành là như thế đó. Thế gian pháp và Phật Pháp đồng
hiện hữu, giống như trường hợp trái dừa.
Trí huệ là một thứ mà
chúng ta phải tự mình tìm thấy. Để có trí huệ, chúng ta không hấp tấp, và cũng
không giải đãi. Nhưng thật ra chúng ta ai cũng hối hả. Vừa mới bắt đầu, chúng
ta đã muốn đi tới đích. Chúng ta không muốn bị bỏ lại phía sau, chúng ta muốn
thành công. Về việc chuẩn bị tâm để hành thiền, có người đi quá xa. Họ thắp
hương, cúi lạy tượng Phật và phát thệ. “Chừng nào cây hương này chưa tàn, tôi
sẽ không đứng dậy, dầu tôi có ngã lăn ra chết cũng mặc kệ. Tôi thà là chết
ngồi!” Rồi họ bắt đầu ngồi thiền, nhưng không bao lâu, thì bè đảng của Ma chạy
đến vây bủa họ tứ phía. Mới ngồi được một chút, họ lại nghĩ là cây hương tàn
hết rồi. Và họ mở mắt hi hí nhìn. “Ôi, còn nhiều thế sao!”
Họ nghiến răng và ráng
ngồi thêm, cảm thấy nóng bức, xao động, và hoang mang. Khi hết chịu nổi, họ suy
nghĩ, “Chắc cây hương tàn hết rồi”. Và họ lại len lén nhìn, nhưng cây hương vẫn
còn rất dài. Họ đành bỏ cuộc, và cảm thấy bực bội với chính mình. “Mình ngốc
quá, thật hết thuốc chữa!” Đây gọi là trở lực của ác ý. Họ không thể trách người
nào khác, nên họ tự trách mình. Tại sao vậy? Tất cả đều do bởi tâm ham muốn.
Thật ra bạn không cần
phải làm điều này. Tập trung tâm ý có nghĩa là tập trung với sự xả bỏ, chứ
không phải là cột chặt mình thêm.
Nhưng có lẽ chúng ta
từng đọc qua kinh điển về cuộc đời của Đức phật, cách Ngài ngồi dưới cây bồ đề
và phát thệ, “Chừng nào chưa chứng Đạo vô thượng, ta sẽ không đứng dậy khỏi nơi
này, dầu cho máu khô hết”. Thấy thế, bạn cũng muốn thử, bạn muốn làm giống như
Đức Phật vậy. Nhưng bạn không xét lại cái xe của mình – nó chỉ là một cái xe
rất nhỏ. Cái xe của Đức Phật rất lớn, cho nên Ngài có thể đi xuyên suốt tới
cùng. Với một cái xe nhỏ tí tẹo như của bạn, làm sao bạn có thể đi một hơi tới
đích? Hai trường hợp này khác nhau hoàn toàn.
Tại sao chúng ta suy
nghĩ như thế? Bởi vì chúng ta quá cực đoan. Có lúc chúng ta đi quá thấp, có khi
thì trèo quá cao. Thật khó tìm thấy điểm thăng bằng. Những gì tôi vừa nói là từ
kinh nghiệm. Trong quá khứ, sự tu hành của tôi cũng giống như thế. Tu hành để
có thể vượt lên trên sự ham muốn… Nếu chúng ta không muốn, chúng ta có thể tu
không? Nhưng tu hành với lòng ham muốn thì rất khổ sở. Tôi bị kẹt và bối rối.
Rồi tôi nhận ra rằng tu hành kiên định trong tất cả các tư thế đi, đứng, nằm và
ngồi. Cứ tiếp tục tu hành, nhưng đừng để nó trở thành một tai họa. Người ta
thường làm cho sự tu hành trở thành tai họa. Khi họ biếng nhác, họ không thèm
tu hành, họ chỉ tu hành khi họ cảm thấy sảng khoái.
Tu hành kiểu đó có hợp
với Đạo không? Có phù hợp với Giáo pháp không? Bất kể bạn thấy thích hay không,
bạn cũng phải tiếp tục: đây là lời dạy của Phật. Đa số con người đợi đến khi họ
thấy thích mới tu, nếu không thấy thích, họ không màng đến. Đây gọi là tai họa,
không phải là tu hành. Tu hành chân chánh là bất kể bạn vui hay buồn, khó hay dễ,
siêng hay lười, nóng hay lạnh, bạn đều tu. Đi, đứng, nằm, ngồi, bạn đều tu,
liên tục duy trì sự chánh niệm trong tất cả các tư thế.
Bạn có thể làm thế: có
chánh niệm, có sự nhận biết chính mình, và có trí huệ. Đây là điều đáng cho
chúng ta tập luyện. Lúc đứng, chúng ta có chánh niệm, lúc ngồi chúng ta có
chánh niệm, lúc đi chúng ta có chánh niệm, và khi nằm chúng ta có chánh niệm –
không ngừng ngớt. Điều này có thể thực hiện được. Chúng ta đặt sự tỉnh giác vào
việc đi, đứng, nằm, ngồi của mình.
Khi tâm được huấn
luyện theo cách này, nó sẽ luôn nhớ tới Phật,
Phật, Phật – đó là cái biết. Biết cái gì? Biết đâu là đúng, đâu là sai
trong tất cả thời gian. Phải, điều này có thể xảy ra. Đây mới thật là tu hành,
bất kể đi, đứng, nằm, ngồi đều có chánh niệm liên tục.
Kế đó, bạn nên hiểu
những tình trạng cần được buông bỏ hay rèn luyện. Bạn biết hạnh phúc, biết đau
khổ. Khi bạn biết hạnh phúc và đau khổ, tâm của bạn sẽ trụ lại một điểm hoàn toàn
tách rời hai thứ này. Hạnh phúc là con đường buông thả theo dục lạc. Khổ là con
đường hành xác. Nếu chúng ta biết cả hai thái cực này, thì khi tâm nghiêng về
một trong hai hướng, chúng ta sẽ kéo nó lại, chúng ta không cho phép nó sa ngã.
Chúng ta giữ vững chánh niệm, không cho phép tâm chạy theo khuynh hướng của nó.
Đi theo những khuynh
hướng của mình thì dễ chịu hơn, phải không? Nhưng đây là sự thoải mái dẫn tới
khổ đau. Cũng như một nông dân không màng canh tác ruộng lúa của mình. Ông
không lo lắng, rồi đến lúc bụng đói, thì không có gì để ăn cả. Sự việc là như
vậy. Có nhiều điều trong giáo lý của Phật mà lúc trước tôi không chấp nhận,
nhưng rồi tôi đã chịu thua. Cho nên tôi dùng sự giảng dạy này để huấn luyện
chính mình và những người khác.
Bây giờ, hãy bàn đến
việc huấn luyện tâm: trong ngày hôm nay, có bao nhiêu lần bạn cảm thấy chán
nản? Bao nhiêu lần bạn cảm thấy phấn chấn? Có cảm xúc nào đặc biệt không? Chúng
ta phải biết chính mình như thế. Sau khi nhìn thấy những cảm xúc này, chúng ta
có thể buông bỏ không? Bất cứ điều gì chúng ta chưa thể buông bỏ, chúng ta phải
làm việc với nó. Khi nhận thấy chúng ta chưa thể buông bỏ một cảm xúc nào đó,
chúng ta phải khảo sát nó với trí huệ. Làm việc với nó. Đây là tu hành. Khi bạn
cảm thấy hăng hái, cứ tu hành. Khi bạn cảm thấy biếng nhác, cứ tiếp tục tu
hành. Nếu bạn không thể tiếp tục tu hành một cách toàn tâm toàn ý, thì ít nhất
cũng ráng được một nửa. Đừng lãng phí thời gian vì sự biếng nhác. Đó không phải
là phong độ của người tu hành.
Có người nói, “Ồ, năm
nay tôi xui quá. Đau bệnh liên miên. Tôi chẳng tu hành được gì”.
Thế à? Nếu họ không tu
hành khi cái chết gần kề, thì khi nào họ mới tu? Khi họ khỏe mạnh, bạn cho rằng
họ sẽ tu sao? Không đâu, họ chìm đắm trong sự sảng khoái. Nhưng khi đau khổ, họ
vẫn không tu, họ chìm đắm trong đó. Tôi không biết khi nào họ mới tu. Họ chỉ
thấy họ bệnh, họ đau nhức, họ gần chết vì sốt nóng… đúng thế, nhưng đó là lúc
để tu hành. Khi người ta sung sướng, sự khoan khoái đi lên đầu và họ trở nên tự
mãn và kiêu hãnh.
Có một lúc, sau khi tu
hành được 5 năm, tôi cảm thấy sống với những người khác là một sự chướng ngại.
Tôi ngồi trong chòi của mình và cố gắn thiền, nhưng người ta cứ tìm tới để trò
chuyện và quấy nhiễu tôi. Tôi chán quá, mới tìm đến một cái chùa bỏ hoang trong
rừng. Tôi ở đó một mình, không nói với ai cả - bởi vì đâu có ai khác để nói.
Ở đó khoảng 15 ngày,
tôi bỗng có ý tưởng, “Hừm, phải chi có một sa di ở với mình. Hắn có thể giúp
mình làm những việc lặt vặt”. Tôi biết ý tưởng này sẽ xuất hiện, và nó xảy ra
thật!
“Ê, ngươi có lập
trường thật!” tôi nói với chính mình. “Ngươi nói ngươi chán ngán bạn bè, chán
ngán tăng đoàn, rồi bây giờ ngươi lại muốn có một sa di. Như thế là nghĩa gì?”
“Không”, câu trả lời
đến ngay, “Ta muốn một sa di tốt”.
“Được lắm! Những người
tốt đi đâu hết rồi? Ngươi có thể tìm được một người như thế không? Ngươi đi đâu
để tìm hắn chứ? Cả tu viện chỉ toàn là những người không tốt. Ngươi hẳn là
người tốt duy nhất nên mới chạy trốn đến đây chứ gì!”
“Phải rồi. Đi đâu để
tìm người tốt đây? Nếu không có ai tốt cả, bạn phải tìm cái người tốt ở bên
trong chính mình”.
Bạn không thể tìm thấy
sự thiện lành nào khác hơn là ở bên trong chính bạn. Nếu bạn tốt, bất cứ bạn ở
đâu cũng sẽ tốt. Bất kể ai khen hay chê, bạn vẫn là tốt. Nếu bạn không tốt, thì
khi bị chỉ trích, bạn sẽ tức giận, và khi được khen, bạn sẽ thấy vui thích.
Sự thiện lành phải
được tìm thấy ở bên trong. Một khi tôi nhận ra điều này, cái cảm giác muốn trốn
chạy đó tan biến. Sau này, mỗi khi cảm giác đó trỗi dậy, tôi nhận biết và buông
bỏ nó. Bất cứ tôi ở đâu, mỗi khi bị chỉ trích hay được khen tặng, tôi đều quán
xét rằng điều quan trọng không phải là những gì họ nói là tốt hay xấu. Thiện
hay ác phải được nhìn thấy ở bên trong chúng ta. Người khác cảm thấy như thế
nào, đó là chuyện của họ.
Đừng ở đó suy nghĩ,
“Hôm nay trời nóng quá”, “Trời lạnh quá”, “Trời…”. Bất kể hôm nay là như thế
nào đi nữa, nó chỉ là vậy mà thôi. Bạn đổ lỗi cho thời tiết chỉ để bào chữa cho
sự biếng nhác của mình. Chúng ta phải nhìn thấy Pháp bên trong chính mình, rồi
một thứ bình an và vững chắc hơn sẽ phát sinh.
Khi bạn kinh nghiệm
cảm giác bình an trong lúc thiền, đừng vội mừng. Cùng thế ấy, nếu có sự rối
rắm, cũng đừng trách cứ mình. Nếu sự việc có vẻ tốt đẹp, đừng chìm đắm trong
đó, và nếu nó không tốt, cũng đừng bực bội. Chỉ việc xem xét tất cả những gì
bạn có. Đừng phê phán. Nếu nó tốt, đừng dính mắc vào đó; nếu nó xấu, đừng xô
đẩy nó đi. Tốt và xấu đều có thể phát sinh phiền phức, cho nên đừng bắm chặt
vào chúng.
Tu hành là chỉ việc
ngồi đó và quan sát tất cả. Cảm thọ xấu và cảm thọ tốt đến và đi theo tự nhiên.
Đừng luôn tán dương tâm, hay luôn chê trách nó. Khi cần khen thì khen, nhưng
chỉ một chút thôi, đừng làm quá. Giống như khi dạy dỗ một đứa trẻ, có lúc bạn
cũng cần phải kỷ luật nó một chút. Có lúc bạn cần phải trừng phạt mình, nhưng
đừng lúc nào cũng trừng phạt. Nếu bạn làm thế, bạn sẽ bỏ tu mất.
Đừng nghĩ rằng ngồi
nhắm mắt là cách duy nhất để tu hành. Tu
hành kiên định là duy trì sự tu hành trong cả bốn tư thế. Khi rời khỏi tư thế
ngồi thiền, đừng nghĩ rằng bạn đang rời khỏi thiền. Bạn chỉ thay đổi tư thế
mà thôi! Nếu bạn suy nghĩ như thế, bạn sẽ được bình an. Dầu ở đâu, bạn cũng có
sự tỉnh giác bên trong.
Nếu bạn chạy theo
những cảm thọ của mình, suốt ngày để tâm chạy nhảy lung tung, thì lần tới khi
bạn ngồi xuống thiền, tất cả những gì bạn có là kết quả của những suy nghĩ vô
định trong ngày. Sự bình an không tìm thấy cơ sở để phát triển bởi bạn bỏ bê nó
suốt ngày. Và cứ thế, tâm sẽ dần dần rời khỏi sự tu hành. Đôi lúc, tôi hỏi các
đệ tử của mình họ tu hành ra sao, thì họ nói, “Ồ, chẳng làm gì nữa”. Thấy
không? Họ có thể kiên trì một vài tháng, nhưng một vài năm thì họ không chịu
nổi.
Tại sao vậy? Bởi vì họ
không nhận ra điểm quan trọng này. Khi họ rời khỏi chổ thiền, họ buông bỏ sự
thiền định của họ luôn. Họ ngồi thiền ít dần và ngắn dần, cho đến khi họ vừa ngồi
xuống là muốn đứng dậy. Cuối cùng thì họ không ngồi nữa. Việc lạy Phật cũng
vậy. Lúc đầu, họ cố gắng quỳ lạy mỗi đêm trước khi đi ngủ, nhưng sau một hồi,
họ phóng tâm ra ngoài. Không bao lâu thì họ không màng lạy Phật nữa. Họ chỉ cúi
đầu lấy lệ. Và rồi cái gì cũng không còn cả. Họ bỏ tu hoàn toàn.
Cho nên, hãy hiểu sự
quan trọng của chánh niệm – hãy tu hành liên tục. Tu hành đúng là tu hành kiên định. Bất kể là đi, đứng, nằm, ngồi, sự tu
hành phải tiếp diễn. Điều này có nghĩa là sự tu hành, hay thiền, phải xảy
ra trong tâm, chứ không phải trên thân thể. Nếu tâm bạn thành khẩn và kiên
cường, sự tỉnh giác sẽ phát sinh.
Khi chúng ta hiểu biết
đúng, chúng ta tu hành đúng. Khi chúng ta tu hành đúng, chúng ta không lầm lạc.
Dầu chúng ta tu hành chút ít, cũng vẫn được. Ví dụ, Khi bạn ngồi thiền xong,
hãy tự nhắc nhở mình rằng bạn không thật sự ngồi thiền xong, mà chỉ thay đổi tư
thế thôi. Tâm vẫn bình lặng. Bất kể là đi, đứng, nằm, hay ngồi, bạn đều có
chánh niệm với mình. Nếu bạn có được sự tỉnh giác này, bạn có thể duy trì sự tu
hành của mình ở bên trong. Buổi tối, khi bạn ngồi thiền trở lại, sự tu hành vẫn
tiếp diễn, không đứt quãng. Nổ lực của bạn không hề bị gián đoạn, và nhờ vậy
tâm dễ dàng đạt được sự bình an.
Có những người, khi
không đạt được những gì họ kỳ vọng, họ bỏ cuộc, viện lẽ họ không có đủ phước
báu để tu hành. Con người là vậy đó. Họ thà ở lại với phiền não của mình.
Bất kể điều gì xảy ra
cũng đừng phóng tâm. Hãy nhìn vào bên trong và bạn sẽ nhìn thấy rõ ràng. Tôi
nhận thấy, tốt nhất bạn không nên đọc quá nhiều sách. Đem tất cả sách vở bỏ vào
tủ và khóa lại. Chỉ đọc tâm của bạn. Bạn đã chôn mình trong đống sách vở từ lúc
bạn bước vào trường. Đủ rồi. Chỉ cần đọc tâm của mình. Mỗi khi có điều gì nảy sinh trong tâm, bất kể bạn thích điều đó hay
không, bất kể nó có vẻ đúng hay sai, cứ dẹp bỏ nó với câu, “Không có gì chắc
chắn cả”. Bất cứ điều gì nảy sinh, cứ cắt bỏ nó: “Không chắc, không chắc”.
Với cái rìu này thôi, bạn có thể cắt bỏ tất cả. “Không chắc” thực sự là một bài
tập quan trọng. Nó phát sinh trí huệ. Càng nghĩ kỹ, bạn càng nhìn thấy sự không
chắc chắn. Sau khi bạn cắt bỏ một thứ gì với câu “không chắc”, nó có thể trở
lại nữa, nhưng dầu có trở lại bao nhiêu lần, nó cũng thật sự là “không chắc”.
Bất cứ điều gì nảy sinh, hãy dán nhãn hiệu này lên nó. Bạn sẽ nhìn thấy cùng
một người này, đó là cái tâm ham muốn, kẻ từng đánh lừa bạn, hết năm này đến
năm khác, từ ngày bạn sinh ra cho đến giờ. Hãy nhìn thấy điều này và nhận biết
bản chất của sự việc.
Khi sự tu hành của bạn
đạt đến điểm này, Bạn sẽ không còn dính mắc vào các cảm thọ, bởi vì chúng đều
không chắc chắn. Bạn có để ý không? Có thể bạn nhìn thấy cái đồng hồ và suy
nghĩ, “Xinh xắn quá”. Cứ mua nó về đi và xem điều gì xảy ra: chỉ vài ngày sau
là bạn chán nó rồi. “Cây viết này đẹp quá” – vậy thì mua nó đi. Vài tháng sau,
bạn lại chán. Có thứ gì mà bền vững và chắc chắn không?
Nếu bạn nhìn thấy tất
cả những thứ này là không chắc chắn, cái giá trị giả mạo của chúng sẽ phai mờ
dần. Tất cả mọi việc trở nên vô nghĩa. Chúng ta bám chặt vào những thứ không có
giá trị đó để làm gì? Chúng ta chỉ giữ chúng như cách chúng ta giữ một miếng
giẻ rách để chùi chân. Chúng ta nhìn thấy mọi cảm xúc với cùng một giá trị bởi
vì chúng đều có cùng một bản chất.
Khi chúng ta hiểu các
cảm xúc, chúng ta hiểu thế gian. Nếu chúng ta không bị các cảm xúc đánh lừa,
chúng ta không bị thế gian đánh lừa. Cái tâm nhìn thấy điều này sẽ có trí huệ
vững vàng. Tâm như thế sẽ không có nhiều vấn đề. Bất cứ vấn đề nào nó có, nó
đều có thể giải quyết. Khi không còn vấn đề, thì không còn nghi ngờ. Sự bình an
phát sinh. Nếu chúng ta thật sự tu hành, nó phải như thế đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét