Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 2
THIỀN ĐỊNH
CHƯƠNG 21
CHÁNH ĐỊNH TU HÀNH VỚI SỰ XẢ BỎ
Mọi thứ phát sinh trong tâm đều là những cảm
thọ.
Chúng đều tạm bợ. Chúng sinh khởi, tồn tại và
tan biến.
Chỉ bấy nhiêu thôi. Chúng không có tự ngã.
Chúng không đáng để chúng ta nắm giữ và dính
mắc.
Hãy xem Đức Phật. Trong
sự tu hành cũng như sự giảng dạy, Ngài đều làm gương. Đức Phật dạy chúng ta
cách tu hành để dứt trừ tâm kiêu mạn. Ngài không thể tu hành cho chúng ta. Sau
khi nghe sự giảng dạy này, chúng ta sẽ phải giảng dạy chính mình, tu hành cho
chính mình. Kết quả sẽ phát sinh nơi đây, không phải nơi lời dạy.
Sự giảng dạy của Đức
Phật có thể cho chúng ta sự hiểu biết về Đạo Pháp, nhưng Đạo đó vẫn chưa ở
trong tâm chúng ta. Tại sao không? Bởi vì chúng ta chưa tu hành, chúng ta chưa
dạy dỗ chính mình. Đạo đến từ sự tu hành. Bạn biết Đạo qua sự tu hành. Nếu bạn
nghi ngờ nó, bạn sẽ nghi ngờ nó khi tu hành. Sự giảng dạy của các chân sư có
thể là đúng, nhưng chúng chỉ cho chúng ta thấy con đường. Để ngộ Đạo, chúng ta
phải mang giáo lý đó vào trong tâm. Phần nào thuộc về thân thể, chúng ta áp
dụng vào thân thể; phần nào thuộc về lời nói, chúng ta áp dụng vào lời nói;
phần nào thuộc về tâm, chúng ta áp dụng vào tâm. Điều này có nghĩa là, sau khi
nghe pháp, chúng ta phải dạy dỗ chính mình thêm nữa để hiểu rõ Đạo, để hợp nhất
với Đạo.
Đức Phật nói rằng
những ai dễ tin vào người khác không phải là kẻ trí. Người khôn tu hành cho đến
khi họ hợp nhất với Đạo, cho đến khi họ hoàn toàn tin tưởng vào chính mình, mặc
kệ người khác nghĩ gì. Sự kiến giải có thể mang hình thức khác nhau. Có thứ
kiến giải hợp với Đạo, cũng có thứ kiến giải nghịch với Đạo. Kiến giải thứ hai
là sự thiếu xót, dại dột và vô ích – gọi là tà kiến hay quan niệm sai lầm.
Hãy lấy ví dụ về vị
phạm thiên Dighanakha. Vị phạm thiên này chỉ tin vào chính mình. Có một lần,
khi Đức Phật ngự tại Vương Xá, Dighanakha đến nghe thuyết pháp. Nói đúng ra ông
đến để dạy dỗ Đức Phật, bởi vì ông ta muốn trình bày kiến giải của mình.
“Theo tôi hiểu thì không có gì thỏa mãn ta cả”, Dighanakha
nói.
Đức Phật nói,
“Brahmin, thế thì cả quan điểm này cũng không thỏa mãn ông phải không?”
Câu trả lời của Đức
Phật làm cho Dighanakha bí lối. Ông không biết nên nói gì. Sau đó, Đức Phật
giải thích bằng nhiều cách khác nhau, cho đến khi Brahmin hiểu rõ, “Hừm, quan
điểm này của mình không đúng”.
Sau khi nghe sự giảng
giải của Đức Phật, ông buông bỏ những quan điểm kiêu hãnh của mình và lập tức
nhận ra chân lý. Ông thay đổi ngay tại đó và ngay lúc đó, ông thay đổi hoàn
toàn, như trở bàn tay. Ông ca ngợi sự giảng dạy của Đức Phật như sau:
“Nghe lời dạy của Đấng
Giác Ngộ, tâm tôi sáng tỏ, như kẻ sống trong bóng tối vừa thấy ánh sáng. Tâm
tôi giống như một cái chậu lật sấp vừa được lật đứng trở lại, như một người lạc
lối vừa tìm thấy hướng đi”.
Lúc đó, một kiến giải
mới được phát sinh trong cái tâm mới vừa lật đứng lại. Tà kiến biến mất và
Chánh Kiến thay vào đó. Bóng tối tan biến và ánh sáng hiển bày.
Đức Phật tuyên bố rằng
Brahmin Dighanakha là người đã mở Mắt Huệ. Trước đó, Dighanakha bám chặt vào sự
kiến giải của mình và không có ý định thay đổi nó. Nhưng khi ông nghe Đức Phật
giảng dạy, tâm ông nhìn thấy chân lý, ông thấy rằng sự bám víu vào những quan
điểm này của ông là sai lầm.
Chúng ta cũng phải thay
đổi như thế. Trước khi chúng ta có thể dứt tận phiền não, chúng ta phải thay
đổi quan điểm của mình. Chúng ta tu hành chưa tốt, mặc dầu chúng ta cho là tốt.
Ngay khi chúng ta hiểu thấu sự việc, chúng ta thay đổi hoàn toàn, cứ như trở
bàn tay. Điều này có nghĩa là Phật, “người biết”, hay trí huệ, phát sinh trong
tâm và nhìn thấy sự việc một cách khác hẳn.
Lúc ban đầu, “cái tâm
thức hiểu biết” không có ở đó. Cái biết của chúng ta không rõ ràng, không hoàn
toàn, không đúng. Sự hiểu biết này quá non nớt để có thể huấn luyện tâm. Nhưng
rồi tâm thay đổi, hay đảo ngược xuyên qua sự tỉnh giác mới, gọi là trí huệ, và
sự tỉnh giác này trội hơn sự tỉnh giác trước kia của chúng ta.
Vì thế Đức Phật dạy
chúng ta nhìn vào bên trong. Đừng nhìn ra bên ngoài. Hoặc, nếu bạn nhìn ra
ngoài thì sau đó hãy nhìn vào trong, để thấy rõ tiến trình nhân quả của sự
việc. Hãy xem xét chân lý của mọi thứ, bởi vì những thứ bên trong và bên ngoài
luôn ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta tu hành là để làm cho sự tỉnh giác của mình
mạnh mẽ hơn. Điều này khiến cho trí huệ và sự khai ngộ phát sinh, khiến cho
chúng ta biết sự việc của tâm, ngôn ngữ của tâm, và đường lối của mọi phiền
não.
Khi Đức Phật rời khỏi
cung điện tìm đường thoát khổ, có lẽ Ngài cũng không rõ là Ngài nên làm gì,
cũng như phần lớn chúng ta. Ngài thử rất nhiều pháp môn để phát triển trí huệ
của mình. Ngài tìm đến vài vị thầy nổi tiếng, và học thiền với họ… chân phải để
lên chân trái, bàn tay phải để lên bàn tay trái… lưng thẳng… mắt nhắm… buông bỏ
mọi thứ, cho đến khi Ngài đạt đến một mức độ thiền định rất sâu. Nhưng khi Ngài
ra khỏi định, những suy nghĩ củ lại xuất hiện và Ngài dính mắc vào nó như
trước. Lúc ấy, Ngài mới biết là trí huệ của mình chưa phát sinh. Sự hiểu biết
của Ngài chưa rốt ráo, chưa hoàn mỹ, và còn thiếu sót. Tuy thế, Ngài đã hiểu
được đôi chút – Ngài hiểu rằng, đây chưa phải là cứu cánh của sự tu hành – cho
nên Ngài rời khỏi họ và tự mình tìm đường giải thoát. Ngài không ngừng xem xét
kết quả tu hành của chính mình.
Sau khi thử phương
pháp tu hành xác, Ngài nhận ra rằng nhịn đói cho đến khi cơ thể thành một bộ
xương vẫn chỉ là vấn đề của thân thể. Thân thể không hiểu biết điều gì cả.
Phương pháp hành xác cũng giống như hành hình một người vô tội và bỏ sót kẻ
cướp thật sự. Tu hành, Ngài nhận thấy, không phải là vấn đề của thân thể, mà là
vấn đề của tâm – tam thế chư Phật đều giác ngộ tại tâm.
Thân và tâm đều vô thường, khổ, và vô ngã. Chúng chỉ là tình
trạng của tự nhiên. Chúng phát sinh dựa vào những yếu tố hỗ trợ, tồn tại một
thời gian, và rồi tan biến. Tất cả chúng sinh, kể cả con người, cho rằng sự phát sinh là
họ, sự tồn tại là họ, và sự hoại diệt là họ. Vì thế họ bám giữ mọi thứ. Khi
hạnh phúc, họ không muốn đau khổ. Nếu đau khổ phát sinh, họ muốn đi khỏi càng
nhanh càng tốt. Đó là bởi vì họ cho rằng thân và tâm này là của họ, thuộc về
họ, và vì thế họ luôn muốn sự việc xảy ra theo ý họ. Đức Phật nhận thấy rằng
lối suy nghĩ đó là nguyên nhân của khổ, cho nên Ngài đã buông bỏ nó.
Chúng ta tu hành là để
biết sự việc như thế đó. Chúng ta không thể điều khiển những thứ này, bởi chúng
ta không phải là chủ nhân của chúng. Cố điều khiển chúng chỉ dẫn đến khổ đau.
Nếu chúng ta biết bản chất của những thứ này, chúng ta sẽ thấy rõ. Chúng ta
thấy chân lý, chúng ta trở thành một với chúng. Giống như một cục sắt nóng đỏ
vừa lấy ra khỏi lò, phía nào chúng ta chạm vào cũng nóng. Bạn phải nhìn thấy sự
việc như thế đó.
Thường thì khi mới bắt
đầu tu hành, chúng ta muốn thấy, muốn biết ngay, nhưng chúng ta không biết là
chúng ta sẽ thấy hay biết điều gì. Có một đệ tử của tôi, một người rối rắm, và
nghi ngờ đủ thứ. Nhưng anh ta kiên trì tu hành, và tôi tiếp tục chỉ dạy anh ta
cho đến khi anh ta bắt đầu tìm được một chút bình an. Nhưng khi đạt được một
chút bình an, anh ta lại nghi ngờ nữa. “Tôi phải làm gì kế tiếp đây?” Anh ta
hỏi tôi. Lại nữa! Sự rối rắm lại phát sinh. Anh ta nói anh ta muốn được bình
an, nhưng khi anh ta có nó, anh không muốn nó. Anh muốn biết phải làm gì sau
đó!
Cho nên, trong sự tu
hành, chúng ta phải làm mọi thứ với sự xả bỏ. Chúng ta xả bỏ bằng cách nhìn
thấy sự việc rõ ràng. Hãy biết những phẩm chất đích thực của thân và tâm.
Khi tu tập thiền định,
chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào hơi thở ra và hơi thở vào tại chóp mũi
hay môi trên. Sự chú tâm này gọi là vitakka,
hay “sự nhấc lên”. Khi chúng ta “nhấc” tâm lên và tập trung vào một đối tượng,
đây gọi là vicàra, sự quán chiếu hơi
thở tại chóp mũi. Phẩm chất này của vicàra sẽ tự động hòa lẫn cùng những cảm
thọ khác, và chúng ta có thể nghĩ rằng tâm của mình không tĩnh lặng, không bình
an, nhưng thât ra đây chỉ là sự làm việc của vicàra khi nó hòa lẫn với các cảm
thọ. Nhưng nếu điều này đi lạc hướng quá xa, tâm sẽ đánh mất sự điềm tĩnh, cho
nên chúng ta phải kéo tâm lại, nhấc nó lên tới đối tượng cần tập trung. Ngay
khi chúng ta tái lập sự chú ý của mình, vicàra tiếp quản, hòa lẫn vào những cảm
thọ khác nhau.
Nhìn thấy điều này,
nếu thiếu hiểu biết, chúng ta có thể nghĩ, “Tại sao tâm mình cứ đi lang thang?
Mình muốn nó đứng yên, nhưng tại sao nó không yên?” Đây là tu hành với sự dính
mắc.
Thật ra tâm chỉ chạy
theo tính chất tự nhiên của nó. Vấn đề là chúng ta cộng thêm vào đó cái ý muốn
đứng yên, và cái ý nghĩ tại sao tâm không đứng yên. Sự ghét phát sinh và chúng
ta cộng luôn cái ghét đó vào, làm tăng thêm sự hoài nghi, tăng thêm đau khổ, và
tăng thêm sự rối rắm của chúng ta. Thế nên nếu có vicàra đang phản ánh về những
sự kiện trong tâm như thế này, chúng ta nên khéo léo suy nghĩ như sau: “À, tâm
là thế mà”. Đó là “người biết” đang nói chuyện, đang bảo bạn nhìn thấy thực
chất của sự việc. Tâm là thế đó. Chúng ta xả bỏ ngay đó, và tâm trở nên bình
an. Cứ thế, mỗi khi tâm mất tập trung, chúng ta lại mang vitakka lên, và không
bao lâu sự bình an sẽ trở lại. Vitakka và vicàra làm việc với nhau như thế đó.
Chúng ta dùng vicàra để quán chiếu những cảm thọ phát sinh. Khi vicàra trở nên
rời rạc dần, chúng ta lại nhấc sự chú ý của chúng ta lên với vitakka.
Điều quan trọng là ở
giai đoạn này, chúng ta phải tu hành với sự xả bỏ. Nhìn thấy vicàra tương tác
với các cảm thọ, chúng ta có thể nghĩ rằng tâm rối loạn, và chúng ta khởi niệm
ghét. Chính nơi đây, chúng ta khiến cho mình đau khổ. Chúng ta không vui bởi vì
chúng ta muốn tâm mình yên lặng. Đây là tà kiến. Nếu chúng ta sửa chữa quan
điểm của mình một chút để thấy rằng động thái này chỉ là bản chất của tâm, chỉ
vậy thôi là đủ để khuất phục sự rối loạn. Đây gọi là xả bỏ.
Và rồi, nếu chúng ta
không dính mắc, nếu chúng ta tu hạnh xả bỏ trong hành động – và hành động với
sự xả bỏ - thì vicàra sẽ tự nhiên làm việc ít hơn. Nếu tâm chúng ta không còn
bị quấy nhiễu, vicàra sẽ muốn quán tưởng Pháp. Bởi nếu tâm chúng ta không quán
tưởng Pháp, nó sẽ lại phóng ra bên ngoài.
Cho nên, có vitakka
rồi có vicàra, vitakka rồi vicàra… và cứ thế, cho đến khi vicàra dần dần trở
nên vi tế hơn. Lúc đầu vicàra đi khắp nơi, giống như nước chảy. Nếu chúng ta
bực bội điều này và muốn ngừng dòng nước chảy, chúng ta sẽ khổ. Nếu chúng ta
hiểu rằng nước chảy là việc tự nhiên, chúng ta không đau khổ. Vicàra là thế đó.
Có vitakka rồi có vicàra tương tác với các cảm thọ. Chúng ta có thể dùng cảm
thọ này làm đối tượng để thiền của mình, lắng dịu tâm bằng cách nhận biết những
cảm thọ này.
Nếu chúng ta biết bản
chất của tâm là thế, chúng ta sẽ xả bỏ, giống như việc để nước chảy tự nhiên. Vicàra
càng lúc càng vi tế hơn. Có lẽ tâm muốn quán tưởng cơ thể hay sự chết, hay những
đề mục khác. Khi đề mục quán tưởng thích hợp với chúng ta, một cảm giác khoan
khoái sẽ phát sinh. Sự khoan khoái đó là gì vậy? Nó là trạng thái hỉ lạc (pìti), có thể trong hình thức mát mẻ,
nhẹ nhõm, hay sởn ốc. Tâm mê mẩn. Sự hỉ lạc này đi kèm với sự hạnh phúc (sukha), sự phát sinh và tan biến của
nhiều thứ cảm xúc, và trạng thái nhất tâm (ekaggatà).
Trong giai đoạn đầu
của sự tập trung, chúng ta có vitakka, vicàra, pìti, sukha, và ekaggatà. Vậy
thì giai đoạn thứ hai sẽ ra sao? Khi tâm trở nên thanh nhẹ hơn, vitakka và vicàra
trở nên thô tạp, nên chúng bị loại bỏ, chỉ còn lại pìti, sukha và ekaggatà. Tâm
tự nó làm điều này. Chúng ta không phải suy đoán gì cả, chúng ta chỉ biết sự
việc là thế.
Khi tâm trở nên thanh
nhẹ hơn, ngay cả pìti cũng bị thải bỏ, chỉ còn lại sukha và ekaggatà, và rồi
chúng ta nhận biết điều này. Pìti đi đâu vậy? Nó không đi đâu cả, chỉ là tâm
càng lúc càng trở nên tinh vi hơn nên nó phải thải bỏ những phẩm chất quá thô
tạp đối với nó. Bất cứ thứ gì quá thô tạp, nó thải bỏ, và nó tiếp tục thải bỏ
như thế mãi cho đến khi nó đạt đến tột đỉnh của sự tinh vi, đây gọi là tứ
thiền, hay cảnh giới thiền định cao nhất. Tâm lúc này chỉ còn lại ekaggatà và upekkhà, hay sự bình thản. Không còn gì
hơn thế nữa.
Khi tâm đi ngang qua
các cảnh giới thiền định, nó phải tiến triển theo cách này. Chúng ta muốn làm
cho tâm yên lặng, nhưng nó không yên lặng. Đây là tu hành với lòng ham muốn sự
bình an. Tâm như thế đã bị khuấy động rồi. Chúng ta càng khuấy động thêm bằng
ước muốn cho nó được bình an. Chính sự ham muốn này là nguyên nhân. Chúng ta không nhìn thấy rằng cái muốn cho
tâm bình an chính là sự tham ái (tanhà). Chúng ta càng muốn bình an, tâm càng
bị khuấy động. Và rồi cuối cùng chúng ta đấu tranh với chính mình, cho đến
khi chúng ta bỏ cuộc.
Nếu chúng ta thấy
rằng, tâm chỉ đi theo bản chất tự nhiên của nó, và nếu chúng ta không quá dính
mắc đến nó, chúng ta có thể hiểu cách làm việc của nó, như cách cha mẹ hiểu con
cái của mình. Trẻ con có thể sẽ nói đủ thứ chuyện. Nếu chúng ta hiểu chúng,
chúng ta cứ để chúng nói. Trẻ con nói chuyện như thế bởi vì chúng không biết gì
hơn thế. Khi chúng ta xả bỏ, chúng ta không bực bội với đứa trẻ, chúng ta có
thể nói chuyện với bạn bè của mình mà không cảm thấy bị quấy nhiễu, trong lúc
đứa trẻ vẫn tiếp tục nói huyên thuyên và chơi đùa. Tâm giống như thế. Nó không
có hại gì cả trừ khi chúng ta nắm bắt nó và dính mắc đến nó. Khi đó mới là
phiền phức.
Khi pìti phát sinh,
hành giả cảm giác một niềm an lạc khó tả, điều mà chỉ ai kinh nghiệm mới hiểu
được. Sukha phát sinh, và sự nhất tâm cũng hiện diện. Vitakka, vicàra, pìti,
sukha, và ekaggatà đều hiện diện. Năm phẩm chất này đều hợp nhất tại một điểm.
Mặc dầu chúng là những phẩm chất khác nhau, chúng đều quy tụ tại một nơi, và
chúng ta có thể nhìn thấy tất cả ở đó, giống như nhìn thấy nhiều thứ trái cây
khác nhau trong một cái giỏ. Cũng như vậy, vitakka, vicàra, pìti, sukha, và
ekaggatà – chúng ta có thể nhìn thấy tất cả trong một cái tâm. Chúng quy tụ
trong tâm, chúng ta sẽ tự mình nhận thấy.
Sự tu hành của chúng ta
vào lúc này sẽ có sự khác biệt. Chúng ta phải có chánh niệm và sự nhận biết,
không đánh mất chính mình. Biết bản chất đích thực của sự việc. Đây là những
giai đoạn của thiền. Đừng nghi ngờ điều gì liên quan đến sự tu hành. Dầu bạn có
lún xuống đất hay bay lên trên không, hay có “chết” trong khi ngồi thiền, cũng
đừng để cho sự nghi ngờ phát sinh. Bất kể những phẩm chất của tâm lúc đó là gì,
cứ việc nhận biết chúng. Đây là nguyên
tắc của chúng ta: có chánh niệm, có sự nhận biết rõ ràng trong mọi hành động đi,
đứng, nằm, ngồi. Bất kỳ thứ gì phát sinh, cứ để nó ở đó, đừng dính mắc.
Thích hay không thích, hạnh phúc hay khổ đau, nghi ngờ hay chắc chắn – hãy quán
tưởng với vicàra và đo lường kết quả của những phẩm chất đó. Đừng cố đặt tên
cho mọi thứ, chỉ nhận biết nó. Hãy biết
rằng mọi thứ phát sinh trong tâm đều là những cảm thọ. Chúng đều tạm bợ. Chúng
sinh khởi, tồn tại, và hoại diệt. Chỉ bấy nhiêu thôi. Chúng không có tự ngã.
Chúng không đáng để chúng ta nắm giữ và quan tâm.
Khi chúng ta nhìn thấy
mọi vật thể và tâm thái theo cách này với trí huệ, chúng ta nhìn thấy sự vô
thường của tâm, của thân, của sự hạnh phúc và đau khổ, của sự thương và ghét.
Tất cả đều vô thường. Nhận ra điều này, tâm trở nên mệt mỏi, chán nản và buông
bỏ với thân và tâm, với những thứ sinh diệt và tam bợ. Tâm không còn muốn dính
mắc vào những thứ này, nó nhìn thấy sự bất toàn của thế gian và bất toàn của sự
sinh khởi.
Khi tâm nhìn thấy như
thế, thì bất kỳ ở đâu, chúng ta cũng nhìn thấy sự vô thường, khổ và vô ngã.
Không có gì để nắm giữ. Dầu chúng ta có ngồi ở gốc cây hay trên đỉnh núi, chúng
ta đều nghe sự giảng dạy của Đức Phật. Mọi thứ sinh khởi, tồn tại một thời
gian, và rồi hủy diệt, tất cả đều là vậy. Nếu chúng ta nhìn thấy thân và tâm
đều là thế, sẽ không có sự khổ nào tồn tại, bởi vì chúng ta không bám chặt vào
chúng. Dầu ở đâu, chúng ta cũng có trí huệ. Ngay cả khi nhìn một cái cây, chúng
ta vẫn có thể nghĩ về nó với trí huệ. Nhìn cỏ hay nhìn côn trùng, đây đều là
những đề mục cho sự quán tưởng.
Nói cho cùng, chúng
đều là Pháp. Không hơn, không kém. Nếu chúng ta có thể nhìn thấy điều này, hành
trình tâm linh của chúng ta kể như hoàn tất. Đây gọi là sự giác ngộ - nhận thức
thế gian rõ ràng như nó là. Tâm biết chính nó hoàn toàn và đoạn trừ nguyên nhân
của khổ đau. Khi không còn nhân nữa, quả sẽ không thể phát sinh.
Những điều căn bản mà chúng ta cần phát triển là: thứ nhất, phải
thẳng thắn và thành thật; thứ hai, tránh xa mọi điều ác, luôn khiêm tốn, hài
lòng với hiện tại. Nếu chúng ta nói ít, mãn nguyện với một ít, chúng ta sẽ nhìn
thấy chính mình, chúng ta sẽ không mất sự chú tâm. Tâm sẽ có nền tảng của giới,
định, và huệ.
Cho nên, người tu hành
không nên giải đãi. Ngay cả khi bạn đúng, cũng đừng dễ dãi. Tại sao tôi nói
“đừng dễ dãi”? Bởi vì mọi thứ đều không chắc chắn. Hãy biết chúng là như thế.
Nếu bạn được bình an, cứ để sự bình an ở đó. Bạn có thể rất muốn buông thả
trong đó, nhưng bạn chỉ nên nhận biết bản chất của nó. Đối với sự khổ cũng vậy.
Sự tu hành này tùy
thuộc nơi bạn. Không ai khác biết rõ tâm của bạn bằng chính bạn. Bạn phải thành
thật với chính mình. Tu hành chân chính, không tu nửa vời, cũng không làm cho
mình kiệt sức. Chỉ cần bạn có chánh niệm
và sự tự nhận biết, bạn sẽ có thể phân biệt đâu là sai, đâu là đúng bên trong
bạn. Bạn chỉ cần bấy nhiêu thôi. Không cần nhiều hơn nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét