2 thg 6, 2022

SUỐI NGUỒN TÂM LINH - LỜI GIỚI THIỆU

Thiền sư Ajahn Chah

Minh Vy dịch Việt ngữ

LỜI GIỚI THIỆU

Đêm xuống nhanh. Khắp rừng văng vẳng tiếng dế cùng với tiếng rên rỉ sởn ốc của loài ve nhiệt đới. Dăm ba ngôi sao lờ mờ rọi xuyên qua ngọn cây. Giữa rừng, một căn nhà chòi được thắp sáng với hai cây đèn dầu, và ở nơi đó khoảng vài chục người đang ngồi quanh một nhà sư có vóc dáng nhỏ nhắn, chắc nịch, ngồi xếp bằng trên một chiếc ghế mây.

Đó là một đám đông đủ hạng người: gần bên Ajahn Chah (hay Luang Por, Đức Cha, lối xưng hô trìu mến của các đệ tử đối với ngài), là một nhóm tỳ kheo và sa di mà đa số là người Thái hay người Lào với vài người da trắng bao gồm một người Canada, hai người Mỹ, một người Úc, và một người Anh. Ngồi ngay trước mặt Ajahn Chah là một cặp vợ chồng độ trung tuần, ăn mặc tươm tất và trang trọng – người chồng là nghị sĩ của một tỉnh lị xa xôi. Nhân cơ hội đang công tác trong vùng này, họ đến để viếng thăm Ajahn Chah và cúng dường tu viện một ít tài vật.

Đằng sau họ và ở hai bên là một số dân cư địa phương. Quần áo của họ sờn hẳn và nước da sẫm đen, nhăn nheo – giống như mặt đất nghèo nàn nơi đó. Trong số họ, có vài người đã từng là bạn thuở ấu thời của Luang Por – cùng bắt cóc và leo cây; có những người từng được ngài giúp đỡ, và đã từng giúp đỡ ngài trước khi ngài là một tỳ kheo. Gần phía cuối là một nữ giáo sư từ Freiburg đến Thái Lan với một đồng đạo để nghiên cứu Phật pháp, và bên cạnh bà là một ni cô người Mỹ từ nhóm nữ tu của tu viện có trách nhiệm hướng dẫn bà và phiên dịch.

Kế đó là ba, bốn ni sư từ nhóm nữ tu, đến để thỉnh ý của Luang Por về một vấn đề liên quan đến cộng đồng phụ nữ và để thỉnh ngài ghé qua khu vực rừng của họ để thuyết giảng – lần cuối cùng ngài viếng thăm họ là cách đây bảy, tám ngày. Họ ngồi ở đó đã mấy tiếng đồng hồ rồi, nên họ lạy chào ngài và rời khỏi đó, cùng với những vị khách khác từ nhóm nữ tu – họ cần trở về trước khi trời tối và họ đã trễ rồi.

Phía cuối ở một bên phòng, nơi ánh sáng lờ mờ, là một người đàn ông độ ba mươi tuổi, vẻ mặt lạnh lùng. Gã ngồi hơi chếch qua một bên, như thể sự có mặt của gã nơi đó không thoải mái cho lắm. Bình thường, gã rất ghét bất cứ thứ gì dính dáng đến tôn giáo, nhưng gã phải miễn cưỡng tôn trọng Luang Por, có lẽ vì Luang Por nổi tiếng là một người cứng cỏi và có khả năng nhẫn nại phi thường. Trong số những người tu hành, có lẽ chỉ có ngài mới là người thứ thiệt – “nhưng ngài có lẽ là người duy nhất đáng để cúi đầu đảnh lễ trong khắp cái tỉnh thành này.”

Gã tức giận và căm hận lắm. Cách đây một tuần, đứa em trai yêu quý của gã – một trong những thành viên của một đảng cướp trong vùng – đã mắc bệnh sốt rét não và chết trong vòng vài ngày. Gã đau lòng vô cùng đến độ không còn thiết đến điều gì nữa. “Nếu hắn bị người ta đâm chết, ít nhất tôi còn có thể trả thù – nhưng tôi phải làm gì bây giờ: đi kiếm con muỗi đã cắn nó để giết sao?” “Tại sao không đến gặp Luang Por Chah?” Một người bạn đề nghị như thế. Và đó là lý do gã có mặt ở đây hôm nay.

Luang Por mỉm cười, nâng cao ly nước để làm rõ ý của ngài. Ngài nhận ra gã thanh niên trong bóng tối đó. Không bao lâu, bằng một cách nào đó, ngài đã dụ được gã nhích gần lên phía trước, như thể ngài đang kéo lưới một con cá tinh khôn và ương ngạnh. Điều xảy ra kế tiếp là, gã thanh niên ngoan cố gục đầu vào tay của Luang Por và khóc thảm thiết như một em bé; sau đó gã cười. Phải, gã cười chính sự kiêu mạng và uất hận của mình. Gã nhận ra rằng gã không phải là người đầu tiên và duy nhất đã từng mất đi người thân yêu – những giọt lệ tức giận và đau khổ trở thành những giọt nước mắt khuây khỏa và hiểu biết.

Tất cả những điều này xảy ra giữa hai mươi người hoàn toàn lạ mặt nơi đó, thế nhưng bầu không khí vẫn bình thản và đầy tin tưởng. Mặc dầu họ đến từ đủ mọi tầng lớp trong xã hội, từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng có lẽ mọi người đều cảm thấy rằng họ có cùng một cảnh ngộ “sinh, lão, bệnh, tử” và vì thế họ giống như anh em một nhà.

Cảnh tượng này đã diễn ra rất nhiều, rất nhiều lần trong suốt thời gian ba mươi năm giảng dạy của Ajahn Chah, và thường thường vào những lúc như thế, có người đã biết trước và mang theo một cái máy thâu âm và nhờ thế họ đã ghi lại được phần nào những buổi thuyết pháp. Đó là những gì được viết xuống trong cuốn sách này.

Cùng với những bài giảng dài như được viết lại nơi đây, người đọc cũng nên biết rằng, thường thì sự dạy dỗ của Ajahn Chah rất tự nhiên. Khi thuyết giảng, ngài giống như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn nhạc và cùng lúc tạo ra những âm thanh hoàn toàn hài hòa với thiên nhiên và tâm trạng của những người chung quanh ngài, phối hợp với lời nói, cảm xúc và những nghi vấn trong lòng họ, và rồi để cho câu trả lời tuôn chảy một cách tự nhiên.

Ngài có thể đang chỉ dẫn cho một nhóm người nào đó cách thức để lột vỏ một trái xoài, và rồi quay sang mô tả bản chất rốt ráo của thực tại - với cùng một phong thái quen thuộc, nhẹ nhàng. Một phút này, ngài lạnh lùng và cộc cằn với một người tự mãn, nhưng phút sau, lại dịu dàng và khôi hài với một người nhút nhát. Ngài có thể đang cười đùa rả rích với một người bạn cũ trong làng, nhưng ngay sau đó, ngài có thể nhìn thẳng vào viên mắt cảnh sát tham nhũng và nói chuyện một cách nghiêm nghị về sự thanh liêm chính trực trên đường tu hành. Vài phút sau đó, ngài có thể la rầy một tỳ kheo ăn mặc luộm thuộm, nhưng rồi lại để cái áo ngoài của mình tụt xuống vai để lộ cái bụng tròn trĩnh của ngài.

Dầu là trong một buổi thuyết giảng chính thức hay trong những buổi họp mặt thông thường, Ajahn Chah không bao giờ hoạch định trước bất cứ điều gì. Không một chữ nào từ những bài giảng của ngài trong cuốn sách này được sắp đặt trước khi ngài bắt đầu nói chuyện. Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng. Ajahn Chah cảm thấy rằng công việc của vị thầy là đứng qua một bên và để Giáo Pháp tự nó phát khởi phù hợp với nhu cầu tức thời - "Nếu nó không sống trong hiện tại, nó không phải là Chánh Pháp", ngài nói.

Có một lần, ngài mời một vị tăng trẻ tên là Ajahn Sumedho (môn đệ người Tây Phương đầu tiên của ngài) lên thuyết giảng trước đám đông tại tu viện chính, Wat Pah Pong. Đây là một khảo nghiệm gay go - không chỉ phải nói chuyện tới vài trăm người đã từng quen với lối thuyết giảng khôn ngoan và tinh xảo của Ajahn Chah, mà còn phải giảng bằng tiếng Thái, một ngôn ngữ mà anh chỉ mới học ba, bốn năm trước. Anh sợ hãi, lo nghĩ đủ thứ. Anh từng đọc về Sáu Cảnh Giới trong vũ trụ quan của đạo Phật và sự tương quan giữa chúng và những tâm thái khác nhau (sự tức giận và các cảnh giới địa ngục, sự khoái lạc và các cảnh trời, v.v... ). Anh quyết định rằng đây là một đề tài hấp dẫn và anh sắp đặt những ý tưởng của mình cho khúc chiết. Vào cái đêm quan trọng đó, Ajahn Sumedho đã diễn thuyết một cách trôi chảy và được rất nhiều người trong tăng đoàn khen tặng. Anh ta cảm thấy nhẹ nhõm và rất hài lòng với chính mình. Nhưng vài hôm sau, trong một phút giây im lặng ngắn ngủi, anh bắt gặp ánh mắt của Ajahn Chah, và ngài nói nhẹ nhàng, "Đừng bao giờ làm như thế nữa".


CÁC VỊ ĐỆ TỬ TÂY PHƯƠNG

Ngay trước khi vị tăng trẻ tuổi người Tây Phương Ajanh Sumedho, đến để xin xuất gia dưới sự giảng dạy của Ajahn Chah vào năm 1967, Ajahn Chah khởi động việc xây cất một nhà chòi mới trong rừng. Khi những cây gỗ dùng làm cột chòi được dựng lên, một dân làng trong nhóm thi công mới hỏi, “Luang Por à, tại sao xây cái nhà này cao thế? Đâu cần thiết chứ!” Anh ta ngạc nhiên bởi thường thì những cái chòi chỉ được xây cất vừa đủ cho một người ở một cách thoải mái - khoảng 2,5 mét chiều ngang, 3 mét chiều dài và mái cao nhất là 2,1 mét.

“Đừng lo. Không lãng phí đâu”, Ajahn Chah trả lời. “Không bao lâu, sẽ có vài vị tăng tới đây. Họ cao hơn chúng ta rất nhiều”.

Vài năm sau khi Ajahn Sumedho đến Wat Pah Pong, thì tu viện bắt đầu tiếp nhận nhiều người nữa từ Phương Tây đến với Ajahn Chah. Và rồi vào năm 1976, Ajahn Sumedho được một nhóm người tại Luân Đôn mời đến để thiết lập một tu viện ở đây. Năm sau đó, Ajahn Chah ghé thăm tu viện này và để Ajahn Sumedho với một nhóm tăng nhỏ ở lại Hampstead Buddhist Vihar, một căn nhà trên một đường phố đông đúc tại bắc Luân Đôn. Vài năm sau, họ dời đến vùng thôn quê và thiết lập thêm nhiều chi nhánh khác.

Từ đó, nhiều đệ tử thâm niên của Ajahn Chah được tham gia vào công tác thiết lập những tu viện mới và truyền bá giáo pháp ở nhiều lục địa khác nhau. Nhiều tu viện đã mọc lên tại Pháp, Úc, New Zealand, Thụy Sĩ, Ý, Canada, và Hoa Kỳ. Ajahn Chah cũng từng đi tới Châu Âu và Bắc Mỹ hai lần, vào năm 1977 và 1979, hết lòng ủng hộ những chi nhánh mới này. Có lần, ngài nói rằng Phật pháp tại Thái Lan giống như một thân cây từng khỏe mạnh và sai trái, nhưng giờ đây nó đã già, chỉ có thể sinh ra trái nhỏ và chát. Còn Phật pháp ở Phương Tây thì ngược lại, nó giống như cây nhỏ đang tràn đầy sức sống và triển vọng, nhưng cần được chăm sóc đúng cách để có thể phát triển mạnh mẽ.

Trong chuyến viến thăm Hoa Kỳ vào năm 1979, ngài nói, “Anh quốc là một địa điểm thuận lợi để phát triển Phật pháp ở Phương Tây, nhưng nền văn hóa nơi đó cũng đã xưa. Tuy nhiên, Hoa Kỳ có năng lượng và sự linh động  của một quốc gia trẻ trung - mọi thứ ở đây đều mới mẻ - chính nơi đây, Chánh pháp mới có thể thực sự hưng thịnh. Khi nói chuyện với một nhóm người Mỹ trẻ tuổi, những người mới thành lập một trung tâm thiền, ngài khuyến cáo, “Các bạn chỉ có thể thành công trong công cuộc truyền bá Phật Pháp nơi đây nếu các bạn không ngại thách thức những ước muốn và định kiến của các thiền sinh. Nếu các bạn làm thế, bạn sẽ thành công; Nếu không, các bạn thay đổi lối giảng dạy và tu tập cho phù hợp với những thói quen và định kiến của con người vì muốn làm vừa lòng họ, bạn sẽ thất bại trong sứ mệnh phụng sự của mình”.


TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHÁNH KIẾN VÀ ĐỨC HẠNH

Khi được hỏi điều gì là yếu tố quan trọng nhất trong sự giảng dạy của ngài, Ajahn Chah thường trả lời rằng kinh nghiệm cho thấy tất cả mọi tiến bộ về tâm linh phụ thuộc vào Chánh Kiến và Đức Hạnh. Nói về Chánh Kiến, Đức Phật có nói, “Cũng như sự ửng đỏ trên bầu trời cho biết mặt trời sắp mọc, Chánh Kiến là điềm báo trước những trạng thái toàn thiện”. Để thiết lập Chánh Kiến có nghĩa là, trước hết, một người phải có bản đồ rất đáng tin cậy về địa hình của tâm và thế giới - đặc biệt là sự hiểu biết về luật nhân quả - thứ hai, một người nhìn thấy mọi kinh nghiệm dưới ánh sáng của Tứ Diệu Đế và vì thế đang chuyển mọi ý tưởng, mọi cảm nhận và tâm trạng thành nhiên liệu cho sự chứng ngộ. Bốn chân lý đó trở thành những phương hướng trên kim chỉ nam, dựa vào đó chúng ta có thể phát triển sự hiểu biết của mình và từ đó hướng dẫn mọi hành động và ý muốn của chúng ta.

Ajahn Chah xem đức hạnh như là sự bảo vệ vĩ đại của tâm và khuyến khích mọi người nghiêm trì giới luật nếu họ thành tâm mong cầu một đời sống trí tuệ và hạnh phúc - bất kể đó là Ngũ Giới của người tại gia hay Tám, Mười hay 227 giới của người xuất gia. Hành động và lời nói có đạo đức khiến cho tâm hòa hợp với Chánh pháp và do đó trở thành nền tảng cho sự thiền định, chứng ngộ, và giải thoát.

Trong nhiều cách khác nhau, đức hạnh là kết quả tất yếu của Chánh Kiến và chúng liên quan mật thiết với nhau: nếu chúng ta hiểu lý nhân quả và nhìn thấy mối quan hệ giữa sự tham muốn và đau khổ, lẽ dĩ nhiên hành động của chúng ta sẽ hài hòa và kiềm thúc hơn. Cũng thế ấy, nếu hành động và lời nói của chúng ta chân thật, khiêm tốn, thanh nhã, và bất bạo động, chúng ta sẽ tạo ra nhân duyên hòa bình trong tâm và chúng ta sẽ dễ nhìn thấy những quy luật vận hành của tâm, cũng như động thái của nó, và Chánh Kiến sẽ phát triển dễ dàng hơn.

Một kết quả đặc thù của mối quan hệ này, điều mà Ajahn Chah đề cập trong bài pháp “Quy Ước và Sự Giải Thoát”, là thực chất trống rỗng của tất cả mọi quy ước (tiền bạc, quy chế tu hành, tục lệ xã hội, v.v...) và cùng lúc là sự cần thiết phải tôn trọng chúng hoàn toàn. Điều này nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng Ajahn Chah nhìn thấy Trung Đạo như là giải pháp duy nhất cho vấn đề rắc rối này. Nếu chúng ta bám vào những quy ước, chúng ta sẽ bị đè nặng và giới hạn bởi chúng, nhưng nếu chúng ta cố chống lại hay phủ nhận chúng, chúng ta sẽ cảm thấy bối rối và mâu thuẫn. Ajahn Chah nhìn thấy điều đó, với thái độ đúng đắn, cả hai khía cạnh có thể được tôn trọng một cách tự nhiên và thoải mái, thay vì cưỡng ép hoặc thỏa hiệp.

Với sự hiểu biết sâu sắc, Ajahn Chah có thể vừa rất kỷ cương và nghiêm khắc như một nhà sư Phật giáo, nhưng đồng thời cũng rất thư thái ung dung, không bị trói buộc bởi những giới luật quy định. Với nhiều người đã từng gặp ngài, ngài là người đàn ông hạnh phúc nhất thế gian - một sự thật có vẻ mỉa mai đối với một người không hề biết đến tình yêu nam nữ trong đời, không có tiền, không bao giờ nghe nhạc, và thường phải tiếp khách thập phương từ 18 đến 20 giờ mỗi ngày, ngủ trên một chiếc chiếu mỏng, mắc bệnh tiểu đường và nhiều chứng sốt rét khác nhau, và có lẽ là người duy nhất cảm thấy vui thích khi có người gọi Wat Pah Pong là nơi có “thức ăn dở nhất thế giới”.

 

PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

Ajahn Chah dùng vô số phương thức khác nhau để huấn luyện các đệ tử của mình. Ngoài những chỉ thị bằng miệng qua những buổi thuyết giảng, phần lớn tiến trình dạy dỗ xảy ra tại chỗ. Ngài nhận ra rằng, để có tâm thật sự học hỏi bất cứ khía cạnh nào của giáo lý và thay đổi, bài học cần được lãnh hội qua kinh nghiệm, chứ không chỉ trên lý thuyết. Vì thế, Ajahn Chah tận dụng cả 10.000 sự kiện và khía cạnh của đời sống tăng đoàn để dạy dỗ và rèn luyện các đệ tử của mình: các dự án cộng đồng, việc tụng đọc các quy luật, việc giúp đỡ công việc hằng ngày, những thay đổi bất thường trong thời biểu sinh hoạt - tất cả những thứ này và nhiều hơn nữa đã được các thiền sinh sử dụng như một khán đài để khảo sát sự phát sinh khổ đau và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau.

Ajahn Chah khuyến khích thái độ sẵn sàng học hỏi từ mọi thứ, như ngài nói trong bài pháp “Bản Chất của Pháp”. Ngài nhấn mạnh rất nhiều lần rằng chúng ta là thầy của chính mình: nếu chúng ta khôn ngoan, mọi vấn đề cá nhân của đời sống, mọi sự kiện và khía cạnh của thiên nhiên sẽ dạy chúng ta; nếu chúng ta ngu si, dầu Đức Phật có đứng ngay trước mặt mà giải thích mọi thứ cũng chẳng có tác dụng gì. Cách Ajahn Chah trả lời những câu hỏi của mọi người đã phản ánh quan điểm này - ngài ứng xử tùy thuộc vào tình huống của một người nhiều hơn là trả lời câu hỏi của họ theo kiểu họ muốn. Thường thì khi người ta hỏi một điều gì, ngài tiếp nhận câu hỏi, rồi nhẹ nhàng mổ xẻ nó ra thành từng mảnh, và trao lại cho người hỏi. Họ sẽ tự mình biết sắp đặt chúng trở lại và họ thật sự ngạc nhiên là ngài đã hướng dẫn họ trả lời cho câu hỏi của chính mình. Khi người ta hỏi làm sao ngài có thể thường xuyên làm thế, ngài trả lời: “Nếu người ta không sẵn đã biết câu trả lời, họ đã chẳng thể đặt ra câu hỏi”.

Những thái độ tu học quan trọng khác mà Ajahn Chah khích lệ bao gồm, trước nhất, thiền sinh phải tập nhìn thấy sự cấp bách của việc hành thiền, và thứ hai, phải sử dụng môi trường tu học để phát triển tính nhẫn nại.

Khi Đức Phật nói bài pháp đầu tiên của Ngài về kỷ luật xuất gia cho 1.250 đệ tử khai ngộ của Ngài trong vườn Trúc Lâm, những lời mở đầu: “Sự nhẫn nại là pháp tu tối thượng để giải thoát tâm khỏi những sự bất thiện”. Cho nên khi có người đến gặp Ajahn Chah, than vãn về người chồng say sưa hay vụ lúa mất mùa của họ, phản ứng đầu tiên của ngài thường là: “Bạn có thể nhẫn nại điều đó không?”. Ngài muốn họ nhận ra rằng cách thoát khổ không phải trốn chạy nó, chìm đắm trong nó, hay cắn răng chịu đựng nó - không phải vậy - nhẫn nại là bình thản giữa sự khó khăn, thật sự hiểu biết và suy ngẫm về kinh nghiệm khổ, hiểu biết nguyên nhân của sự khổ và buông bỏ chúng.

 

DẠY DỖ NGƯỜI THẾ TỤC VÀ NGƯỜI XUẤT GIA

Có những lúc sự giảng dạy của Ajahn Chah áp dụng cho cả người thế tục lẫn người xuất gia, nhưng có những lúc chỉ áp dụng riêng cho người xuất gia hay người thế tục thôi. Bạn đọc nên lưu ý đến điều này khi đi qua những bài pháp trong sách này, bởi nếu không biết sự khác biệt đó, có thể gây nên hoang mang. Chẳng hạn, bài pháp “Tâm Thiện Lành” đặc biệt nhắm vào người tại gia đến Wat Pah Pong hôm đó để cúng dường, trong khi những bài pháp như “Cơn Lũ Dục Lạc” chỉ dành cho người xuất gia.

Sự khác biệt này không phải vì có những giáo lý bí truyền hay cao thâm hơn về một phương diện nào đó, nhưng bởi vì người tại gia và xuất gia có những nhu cầu và lối sống khác nhau, chẳng hạn như người tại gia có những vấn đề mà người xuất gia không có; tìm thời gian để ngồi thiền, lo lắng sinh kế, chung sống với người phối ngẫu. Một đệ tử tại gia trung bình của Ajahn Chah chỉ cần giữ Năm giới, trong khi người xuất gia phải giữ Tám, Mười, hay 227 giới luật tùy vào trình độ thọ pháp khác nhau.

Những buổi nói chuyện với người xuất gia thường mạnh mẽ hơn những buổi giảng thuyết tới người tại gia, chẳng hạn bài “Pháp Chiến”. Lối nói chuyện “không nhận tù binh” này là phẩm chất đặc thù của những vị thầy trong phái Thái Forest Tradition (Phái thiền trong rừng của Thái Lan), với mục đích khơi dậy “dũng khí”, khiến thiền sinh sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ và trở nên khôn ngoan, nhẫn nại, kiên định trong bất kỳ tình huống nào.

Như Ajahn Chah từng nói: “Tất cả những ai thành khẩn trong việc tu hành nên chuẩn bị tinh thần để chịu đựng rất nhiều chướng ngại và khảo nghiệm”. Tâm bị buộc phải đi ngược lại những thói quen cũ, cho nên lẽ tất nhiên nó sẽ vật vã, đấm đá lung tung.

Một điều quan trọng nữa là, Ajahn Chah không hề giữ lại một điều gì riêng cho người xuất gia. Nếu ngài cảm thấy một nhóm người nào đó đã sẵn sàng tiếp nhận những giáo lý cao thâm hơn, ngài sẽ truyền đạt chúng một cách cởi mở và tự nhiên bất kể thính giả là người tại gia hay xuất gia, chẳng hạn như bài “Cảnh Giới Vô Duyên Khởi” hay bài “Hãy Tĩnh Lặng, Dòng Nước Chảy”, mà trong đó ngài phát biểu: “Con người thời nay nghiên cứu học hỏi, tìm kiếm điều thiện, ác, nhưng họ chẳng biết gì về cái vượt lên trên sự thiện, ác”. Giống như Đức Phật, Ajahn Chah chỉ nói những gì ngài biết là hữu ích đối với người nghe, chứ không dựa vào số lượng giới luật của họ hay tôn giáo của họ.

 

TÍNH KHÔI HÀI

Tính khôi hài là một phẩm chất đặc biệt trong lối giảng dạy của Ajahn Chah. Ngài là một người vô cùng nhạy bén và là một kịch sĩ tài ba. Mặc dầu ngài có thể dửng dưng và lạnh nhạt, hoặc mẫn cảm và dịu dàng trong cách diễn đạt, nhưng ngài cũng rất khôi hài trong sự giảng dạy của mình. Phong cách dí dỏm của ngài không chỉ làm cho người nghe vui thích mà còn giúp ngài truyền đạt những chân lý mà lẽ ra rất khô khan và khó tiếp nhận bởi một người trung bình.

Tính khôi hài và cặp mắt tinh đời của ngài giúp cho người ta nhận thấy sự vô lý và ngớ ngẩn trong cuộc sống hay trong vấn đề của họ, khiến cho họ có thể cười chính mình và có một cái nhìn hiểu biết hơn. Chẳng hạn có lần Ajahn Chah đưa cho mọi người xem một bức tranh biếm họa diễn tả một nhà sư mang túi xách của mình: vác trên lưng, cột quanh cổ, ghì trong tay, kéo lết trên đất... Hay nó có thể là về một sự phấn đấu cực khổ nào đó. Một bửa nọ, có một tỳ kheo trẻ đến gặp ngài với vẻ chán đời. Anh ta đã chứng kiến những khổ đau của thế gian và ghê sợ sự sinh tử luân hồi bất tận. Anh nhận xét, “Con không thể nào cười nổi nữa - đời sống chỉ toàn là đau khổ và phiền não”. Trong vòng 45 phút, qua một câu chuyện sinh động về một con sóc nhỏ học trèo cây - cứ leo lên rồi tụt xuống, nhà sư trẻ ôm bụng cười lăn ra đất, cười đến chảy nước mắt mà không dừng được.

 

NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI CÙNG

Trong kỳ kiết hạ năm 1981, Ajahn Chah ngã bệnh nặng. Những năm tháng cuối đời, sức khỏe ngài yếu hẳn - với chứng chóng mặt và bệnh tiểu đường - và bây giờ là một sự sụp đổ thình lình. Trong vòng vài tháng sau đó, ngài được chữa trị bằng nhiều cách, nhưng tình trạng không thuyên giảm. Sức khỏe ngài tiếp tục suy sụp, cho đến giữa năm sau thì ngài bị tê liệt hoàn toàn, ngoại trừ đôi chút cử động ở bàn tay. Ngài không còn nói chuyện được nữa, nhưng vẫn có thể nháy mắt.

Ngài ở lại trong tình trạng này suốt mười năm sau đó, và vài vùng cơ thể còn điều khiển được cũng từ từ yếu dần, cuối cùng thì ngài không còn cử động gì được nữa. Trong thời gian này, ngài vẫn tiếp tục dạy dỗ đệ tử của mình: không phải ngài đã từng nhắc đi nhắc lại rằng bản chất thật sự của thân thể là bệnh hoạn và mục nát hay sao? Đây là một bài học quan trọng - dầu là một vị chân sư vĩ đại hay ngay cả Đức Phật cũng không thể trốn tránh những quy luật của tự nhiên. Cho nên công việc của chúng ta là tìm kiếm sự bình an và giải thoát bằng cách không đồng hóa mình với những hình tướng luôn thay đổi này.

Trong thời gian này, ngoài việc làm một thí dụ điển hình cho sự bất ổn của thân và tạm bợ của đời sống, cũng để cho chư tăng cơ hội chăm sóc ngài, đôi lúc Ajahn Chah vẫn tìm cách dạy dỗ trong những phương thức khác, dầu với tình trạng vô cùng giới hạn của mình. Các tỳ kheo thay phiên nhau chăm sóc cho những nhu cầu thể chất của ngài 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Trong một ca trực nọ, hai tỳ kheo gây gỗ nhau, quên mất rằng người thứ ba trong phòng có thể hiểu rõ tất cả những gì đang xảy ra. Nếu Ajahn Chah còn khỏe mạnh, họ sẽ chẳng dám cãi vả như thế trước mặt ngài.

Lời qua tiếng lại càng lúc càng gay gắt, thì có tiếng động phát ra từ cái giường trong phòng. Thình lình Ajahn Chah ho thật mạnh và, theo lời kể, văng một cục đờm lớn bay ngang phòng, xuyên qua khoảng không giữa hai người đang cãi nhau và đập vào bức tường ngay bên cạnh họ. Sự dạy dỗ được tiếp nhận đúng lúc, và cuộc cãi vả đứt ngang một cách sượng sùng.

Trong suốt thời gian Ajahn Chah nằm trên giường bệnh, sinh hoạt của tu viện vẫn tiếp diễn như trước. Vị thầy vẫn còn đó mà không ở đó, nhưng tình huống này đã giúp một cách kỳ diệu cho chư tăng tập làm những quyết định chung và thích nghi với lối sống thiếu vắng sự hướng dẫn của vị thầy kính yêu. Từ thời gian Ajahn Chah ngã bệnh cho đến lúc ngài qua đời, hoạt động của tăng đoàn vẫn diễn ra suông sẽ, số tu viện và chi nhánh vẫn không ngừng tăng lên trên khắp thế giới. Đây là minh chứng cho sự huấn luyện đệ tử khéo léo của Ajahn Chah.

Sau khi ngài qua đời, cách đây hơn mười năm (tính từ thời điểm cuốn sách này ra đời), đoàn thể xuất gia của Ajahn Chah đã tổ chức tang lễ theo tinh thần sống và giảng dạy của ngài. Tang lễ, vì thế, không chỉ là một nghi lễ truyền thống, mà còn là thời gian để lắng nghe và tu hành. Nghi lễ diễn ra suốt mười ngày với những thời thiền nhóm và khóa thuyết giảng mỗi ngày bởi nhiều vị thầy nổi tiếng trong nước. Có khoảng 6.000 chư tăng, 1.000 ni sư, và trên 10.000 người tại gia cắm trại trong rừng trong suốt thời gian này. Ngoài ra, còn có khoảng 1.000.000 quan khách viếng thăm, và 400.000 người, kể cả đức vua, hoàng hậu và thủ tướng của Thái Lan đã đến dự lễ hỏa táng.

Trong mười ngày này, tất cả sự chuẩn bị được huy động từ các tu viện chi nhánh, các công ty địa phương, hãng xe tải vận chuyển, thức ăn nước uống và kinh sách để phân phát miễn phí cho khách thập phương. Đó thật là một buổi lễ long trọng và xứng đáng để chia tay với một bậc minh triết.

Nguyện mong những sự giảng dạy của ngài có thể bồi dưỡng tâm của người tầm Đạo và kiên định tâm những ai đã thức tỉnh, thuần khiết và bình an.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***