Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 2
THIỀN ĐỊNH
CHƯƠNG 15
NHẬN BIẾT TÂM.
Nếu chúng ta hiểu biết,
và thấy rõ bản chất của thân tâm mình,
mọi nghi ngờ về người khác sẽ tan biến.
Đây là bởi vì thân tâm của mọi người đều như nhau.
Đường lối tu hành của chúng ta đòi
hỏi việc xem xét và làm sáng tỏ sự việc. Chúng ta kiên trì, nhưng không vội vã,
và cũng không chậm chạp. Chúng ta chỉ tự nhiên nhận biết và thấu suốt dần dần.
Tuy nhiên, tất cả những điều này dẫn tới một điều gì đó. Sự tu hành của chúng
ta có một mục tiêu.
Đối với đa số chúng ta, sự tu hành
xuất phát từ sự ham muốn. Ở giai đoạn này, sự ham muốn của chúng ta là sự ham
muốn lệch lạc.
Nếu sự ham muốn không đi chung với
hiểu biết lệch lạc, thì chúng ta nói rằng nó là sự ham muốn trí huệ. Nó không
hư ảo. Nó là sự ham muốn với Chánh Kiến. Trong trường hợp này, chúng ta nói
rằng người có đạo hạnh sâu dày (phẩm hạnh tâm linh tích lũy từ tiền kiếp).
Nhưng không phải ai cũng vậy.
Có người không muốn có bất cứ ham
muốn nào bởi vì họ nghĩ rằng mục đích tu hành của chúng ta là dứt trừ mọi ham
muốn. Nhưng nếu không có ham muốn, thì không ai tu hành cả.
Đức Phật và môn đệ của Ngài tu hành
để chấm dứt phiền não. Chúng ta phải có ham muốn tu hành và muốn chấm dứt phiền
não. Chúng ta muốn có sự bình an nội tâm và muốn không còn rối rắm. Tuy nhiên,
nếu cái mong muốn này đi chung với cái hiểu biết sai lạc, nó sẽ gây thêm phiền
phức cho chúng ta. Thành thật mà nói, chúng ta không biết cái gì cả. Hoặc là,
những gì chúng ta biết không giúp ích được gì cả, bởi chúng ta không biết cách
sử dụng nó.
Mọi
người, kể cả Đức Phật, đều khởi đầu như thế, với ước muốn tu hành - muốn giải
thoát, muốn được bình an nội tâm và muốn dứt trừ sự rối rắm và đau khổ. Hai loại ham muốn này giống như
nhau. Nếu không hiểu, thì cả hai điều này - cái muốn thoát khỏi sự rối rắm và
cái muốn không đau khổ - đều là phiền não. Chúng là sự ham muốn không có trí
huệ.
Trong sự tu hành ở đây, chúng ta
không xem xét sự ham muốn này là phóng dật hay ép xác. Chính Đức Phật, vị thầy
của chúng ta, đã từng rơi vào tình huống mâu thuẫn, tiến thoái lưỡng nan này.
Những pháp môn tu hành mà Ngài theo đuổi trong thời gian đầu chỉ đẩy Ngài vào
một trong hai thái cực. Và bây giờ cũng vậy. Chúng ta cũng vẫn bị kẹt vào đó,
và vì thế chúng ta cứ đi lạc khỏi Đạo (con đường trung Đạo).
Tuy nhiên, mới đầu ai cũng vậy.
Chúng ta bắt đầu là những phàm phu, là những chúng sinh đầy rối rắm và phiền
não, với những ước vọng không có trí huệ, với những ham muốn không có Chánh
Kiến. Nếu chúng ta thiếu sự hiểu biết thích đáng, thì cả hai loại ham muốn này chống
lại chúng ta. Bất kể đó là muốn hay không muốn, nó vẫn là sự ham muốn vô minh.
Nếu chúng ta không hiểu hai thứ này, chúng ta sẽ không biết cách đối phó với
chúng khi chúng phát sinh. Chúng ta sẽ có cảm tưởng như đi tới cũng sai và đi
lui cũng sai, chúng ta không làm sao dừng được. Có làm gì đi nữa, chúng ta vẫn
cứ muốn có thêm mãi. Đây là do sự ham muốn thiếu trí huệ.
Ngay tại đây, với cái muốn và không
muốn này, mà chúng ta có thể hiểu Đạo. Cái Đạo mà chúng ta tìm kiếm hiện hữu
ngay đây, nhưng chúng ta không nhìn thấy nó. Thay vì thế, chúng ta cố gắn kiềm
thúc lòng ham muốn lại. Chúng ta thường ham muốn chúng thế này mà không phải
thế kia. Hoặc chúng ta ham muốn sự việc diễn ra thế kia chứ không phải như thế
này. Thật ra, cả hai thứ này đều như nhau. Chúng là một phần của thể nhị
nguyên.
Có lẽ chúng ta không nhận ra rằng Đức Phật và các môn đệ của Ngài cũng từng có sự ham muốn này. Tuy nhiên, Đức Phật thấu suốt cái muốn và cái không muốn. Ngài hiểu rằng chúng chỉ là những động thái của tâm, rằng những thứ này chỉ xuất hiện trong chớp nhoáng rồi biến mất. Khi có trí huệ, chúng ta không đồng hóa mình với chúng - chúng ta không dính mắc vào đó. Bất kể đó là sự ham muốn hay không muốn, chúng ta nhận biết nó là như thế - chỉ là những động thái của tâm tự nhiên.
TRÍ HUỆ TRONG ĐỜI SỐNG
Chính từ đây mà pháp
thiền quán dẫn chúng ta tới sự hiểu biết. Thử suy ngẫm một ví dụ về một ngư dân
đang kéo một mẻ lưới với một con cá thật to trong đó. Bạn biết ông cảm giác như
thế nào không? Vì sợ con cá tẩu thoát, ông hối hả vật lộn với mẻ lưới, giữ chặt
nó và giật mạnh. Nhưng khi nhìn kỹ lại, ông mới biết là con cá đã tẩu thoát -
thật là phí công nhọc sức.
Ngư dân thường nói
chuyện kiểu này. Họ nói rằng chúng ta nên thu lưới từ từ, thận trọng kéo cá lên
và không đánh mất nó. Sự tu hành của chúng ta cũng vậy. Chúng ta dò dẫm từ từ,
thận trọng kéo tâm lại và không để lạc mất nó. Đôi lúc chúng ta không có cảm
giác mình đang làm thế. Có lẽ chúng ta không muốn nhìn hay muốn biết, nhưng
chúng ta đang tiếp tục với nó. Chúng ta tiếp tục tìm kiếm nó. Đây là sự tu
hành: nếu chúng ta cảm thấy như mình đang làm thế, tiếp tục làm, và nếu như
chúng ta không cảm thấy mình đang làm thế, cứ tiếp tục như thường. Cứ tiếp tục.
Nếu chúng ta thành
tâm, sư tin tưởng sẽ cho chúng ta năng lượng để tiếp tục. Tuy nhiên ở giai đoạn
này, chúng ta vẫn chưa có trí huệ. Dầu chúng ta có hăng say bao nhiêu, chúng ta
cũng không thể gặt hái được nhiều từ sự tu hành của mình. Đôi lúc cảm giác như
mình không đi tới đâu cả. Chúng ta không tìm thấy sự bình an và tĩnh lặng, hay
rằng chúng ta không đủ kiến thức, hoặc chúng ta cảm thấy rằng pháp môn này
không thích hợp với chúng ta nữa. Và rồi chúng ta bỏ cuộc.
Thời điểm này là lúc
chúng ta phải hết sức thận trọng, phải hết sức nhẫn nại và chịu đựng. Giống như
việc kéo một mẻ cá lớn, chúng ta dò dẫm từ từ. Chúng ta kéo nó lên một cách cẩn
trọng. Sự tranh đấu này không khó lắm, nên chúng ta phải kiên trì. Cuối cùng
con cá sẽ mệt mỏi, ngừng kháng cự, chúng ta có thể bắt nó dễ dàng. Thường thì sự
tu hành là như thế đó. Chúng ta tập kéo tâm lại từ từ.
Đây là cách mà chúng ta thiền quán. Nếu chúng ta không có một kiến thức đặc biệt nào về khía cạnh lý thuyết, chúng ta thiền quán dựa vào kinh nghiệm hằng ngày của mình. Chúng ta dùng kiến thức sẳn có của mình, kiến thức rút tỉa từ kinh nghiệm sống hằng ngày của chúng ta. Đây là loại kiến thức quen thuộc với tâm. Thật ra, dầu chúng ta có nghiên cứu giáo lý hay không, chúng ta đã sẵn có cái thực tại của tâm ngay tại đây. Tâm là tâm, dầu chúng ta có hiểu biết về nó hay không. Đó là tại sao chúng ta nói rằng dầu Đức Phật có sanh vào thế gian hay không, bản chất của vạn pháp vẫn vậy. Tính chất tự nhiên này không thay đổi và cũng không đi đến đâu cả. Nó chỉ là vậy. Đây là chân lý. Nếu chúng ta không hiểu chân lý này, chúng ta không thể nhận ra nó.
SỰ TINH CẦN
Cho đến khi chúng ta
có thể dừng tâm của mình lại, cho đến khi chúng ta đạt đến sự tĩnh lặng, tâm sẽ
tiếp tục như trước. Vì lý do này Đức Phật dạy, “Cứ tiếp tục tu hành. Hãy kiên trì”. Có lẽ chúng ta sẽ nghĩ, “Nếu
tôi vẫn chưa hiểu, làm sao tôi có thể tiếp tục?” Nhưng chừng nào chúng ta chưa
tu hành đến nơi, trí huệ sẽ không phát sinh. Cho nên vị thầy mới nói, “Cứ tiếp
tục”. Nếu bạn tu hành không ngừng nghĩ, chúng ta sẽ bắt đầu xem xét sự tu hành
của mình.
Không có gì xảy ra
ngay lập tức, cho nên lúc đầu, chúng ta không thể nhìn thấy kết quả của sự tu
hành. Đây cũng giống như trường hợp người đàn ông cố mồi lửa bằng cách cọ xát
hai que củi với nhau. Ông ta tự nhủ, “Họ nói nó sẽ có lửa mà”, nên ông cọ xát
rất mạnh. Ông rất năng nổ. Nhưng ông thiếu kiên nhẫn. Ông muốn có lửa, nhưng cọ
một hồi vẫn không thấy lửa, ông chán nản và ngừng lại nghỉ ngơi một lúc. Một
lát sau, ông lại bắt đầu từ đầu, nhưng que củi chưa đủ nóng, thì ông lại nghỉ
ngơi. Và rồi sức nóng tan mất. Ông không cọ đủ lâu, ông chỉ cọ xát cho đến khi
thấy mệt thì dừng lại. Không chỉ mệt thôi, mà ông còn trở nên thất vọng, cuối
cùng ông bỏ cuộc. “Có thấy lửa gì đâu”. Thật ra hành động của ông là đang nhóm
lửa đó, nhưng chỉ vì không có đủ sức nóng và sự kiên trì nên lửa không bắt. Lửa
vốn sẳn ở đó, chỉ là ông không nhẫn nại mà thôi.
Cũng vì vậy mà nhiều hành giả chán nản, và chạy lăng xăng từ pháp tu này đến pháp tu khác. Ai cũng trải qua kinh nghiệm này. Tại sao? Bởi vì chúng ta vẫn còn vô minh. Đức Phật cũng có phiền não, nhưng Ngài đồng thời có trí huệ. Khi còn sống trong thế gian, Đức Phật và các A-la-hán cũng giống như chúng ta. Là phàm phu, chúng ta suy nghĩ sai lệch. Khi ham muốn phát sinh, chúng ta không nhìn thấy nó, và khi sự ham muốn không phát sinh, chúng ta cũng không nhận ra. Có lúc chúng ta cảm thấy bức xúc, có lúc chúng ta cảm thấy hài lòng. Khi sự không muốn phát sinh, chúng ta có đôi chút hài lòng, nhưng cũng có sự rối rắm. Khi ham muốn phát sinh, đây có thể là một kiểu hài lòng và rối rắm khác. Chúng ta cứ trộn lẫn chúng như thế.
BIẾT MÌNH, BIẾT NGƯỜI
Đức Phật dạy chúng ta
quán chiếu thân thể của mình. Chẳng hạn như tóc, lông, da, móng tay và răng. Vị
thầy bảo chúng ta khảo sát ngay tại đây. Nếu chúng ta không nhận rõ bản chất
của những thứ này, chúng ta không thể hiểu người khác. Chúng ta không biết
người, không biết mình. Tuy nhiên, nếu
chúng ta hiểu biết và nhận rõ bản chất của thân tâm mình, mọi nghi vấn về người
khác sẽ tan biến. Đây là bởi vì thân và tâm của mọi người đều như nhau. Chúng
ta không cần phải quan sát thân thể của tất cả mọi người, bởi vì chúng cũng
giống như thân thể của chúng ta. Nếu chúng ta hiểu được như vậy, gánh nặng của
chúng ta sẽ giảm bớt. Không có sự hiểu biết này, tất cả những gì chúng ta làm
chỉ là tăng thêm gánh nặng cho mình mà thôi.
Giới luật của chúng ta
cũng vậy. Chúng ta cảm thấy giới luật rất khó. Chúng ta phải nghiêm trì mỗi một
giới, xem xét sự tu hành của chúng ta đối với mỗi giới như thế. Chúng ta có thể
nghĩ, “Ồ, khó làm quá!” Đọc cả rừng giới luật, rồi chúng ta nghĩ rằng không
cách gì chúng ta có thể giữ hết những giới này. Không thể nào. Có quá nhiều
giới.
Kinh sách nói rằng,
chúng ta phải xem xét chính mình đối với mỗi một giới luật. Chúng ta phải biết
tất cả giới và nghiêm trì mỗi giới. Đây cũng giống như nói rằng để hiểu những
người khác, chúng ta phải xem xét những người đó. Thế thì nặng nề quá. Và nó
nặng nề cũng bởi vì chúng ta chỉ hiểu nó trên bề mặt, bởi vì chúng ta theo sát
kinh điển trên bề mặt chữ. Có vài vị thầy dạy theo kiểu đó - tuân thủ nghiêm
ngặt tất cả những gì viết trong sách vở. Không thể làm như thế được! Nếu chúng
ta biết cách bảo vệ và canh phòng tâm của mình, thì điều này cũng giống như
việc tuân thủ cả rừng giới luật.
Thật ra, nếu chúng ta
nghiên cứu giáo lý theo kiểu sách vở như thế này, chúng ta tu hành sẽ không có
tiến bộ. Chúng ta mất niềm tin đối với Đạo. Đó là bởi vì chúng ta vẫn chưa
hiểu. Khi có trí huệ, chúng ta sẽ hiểu rằng tất cả mọi người trên thế giới
chung quy chỉ là một con người này. Cho nên chúng ta chỉ cần nghiên cứu chính
thân tâm mình là đủ. Với cái thấy và hiểu biết bản chất của thân tâm, sự hiểu
biết về người khác sẽ theo sau đó. Tu hành theo cách này sẽ nhẹ nhàng hơn.
Đức Phật nói chúng ta
phải làm thầy của chính mình - không ai khác có thể làm điều đó cho bạn. Khi
chúng ta quán chiếu và hiểu biết sự hiện hữu của chính mình, chúng ta sẽ hiểu
biết bản chất của mọi pháp hữu vi. Mọi người đều giống nhau. Chúng ta đều có
cùng chất liệu, đến từ xưởng chế biến và sản xuất như nhau - chỉ có một số yếu
tố về màu da, kiểu dáng của chúng ta là khác nhau thôi, và chỉ có bấy nhiêu
thôi! Giống như hai nhãn hiệu thuốc trị đau nhức, có cùng công thức, cả hai đều
cùng làm một việc là trị đau nhức, nhưng tên hiệu khác nhau. Thực sự thì không
có gì khác biệt cả.
Bạn sẽ nhận ra rằng
lối quán chiếu sự việc như vậy sẽ trở nên dễ dàng hơn mỗi ngày khi bạn tiếp tục
tu hành. Chúng ta sẽ trở nên thông thạo dần. Cứ tiếp tục tu hành cho đến khi
chúng ta đạt được sự hiểu biết này, và rồi chúng ta sẽ nhìn thấy thực tại một
cách rõ ràng.
LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH
Chúng ta tiếp tục tu
hành như thế này cho đến khi chúng ta cảm nhận phương hướng của mình. Sau một
thời gian, tùy vào khuynh hướng và căn cơ của chúng ta, một sự hiểu biết mới
phát sinh. Chúng ta gọi đây là sự khảo sát pháp (dhamma-vicaya), và đây là cách mà Thất Giác Chi(1) (bảy
yếu tố của sự giác ngộ) phát sinh trong tâm. Sự khảo sát pháp là một trong bảy
yếu tố đó.
Chúng ta có thể hiểu
biết Thất giác chi thông qua sách vở, nhưng chúng ta chưa nhìn thấy Thất giác
chi thật sự. Thất giác chi thật sự nảy sinh trong tâm. Tất cả những bậc minh
triết khai ngộ đều dạy cách thoát khổ. Tất cả sự giảng dạy của họ đến từ sự tu
hành, từ kinh nghiệm tâm linh của họ. Chúng ta ghi chép lại và gọi là giáo lý
này, lý thuyết nọ, và rồi chỉ quan tâm đến phần chữ nghĩa mà thôi.
Thất giác chi thật ra
đã biến mất bởi vì chúng ta không nhận biết chúng bên trong chính mình; chúng
ta không nhìn thấy chúng là như vậy trong tâm mình. Nếu chúng phát sinh, thì
chúng phát sinh từ sự tu hành và dẫn đến sự đắc Đạo. Điều này có nghĩa là sự
hiện diện của chúng trong tâm là một bằng chứng cho sự tu hành đúng đắn của
chúng ta, bởi nếu chúng ta không tu hành đúng cách, những thứ này sẽ không phát
sinh.
Nếu chúng ta tu hành
đúng cách, chúng ta có thể đắc Đạo. Cho nên mới nói rằng: hãy tiếp tục tu hành,
dò dẫm từ từ và không ngừng khảo sát. Đừng nghĩ rằng điều mà bạn đang tìm kiếm
có thể được tìm thấy ở một nơi nào khác hơn nơi này. Một đệ tử thâm niên của
tôi đã từng nghiên cứu kinh tạng Pali tại một đền thờ trước khi đến đây. Ông
không thành công cho mấy với sự học hỏi nghiên cứu của mình, và ông nghĩ rằng
thiền sẽ giúp ông hiểu biết mọi thứ, ông đến Wat Pah Pong để thử tu thiền. Mục
đích của ông là hành thiền để có thể phiên dịch kinh điển Pali. Tôi giải thích
với ông rằng, ông đã hiểu lầm. Ông nghĩ rằng tu hành giản dị và dễ dàng như thế
- chỉ việc ngồi thiền và rồi mọi việc sáng tỏ.
Thật ra, sự hiểu biết
đến từ nghiên cứu lý thuyết và từ sự thực hành tu tập, hai vấn đề này không
hoàn toàn giống nhau. Nghe có vẻ như nhau, nhưng sự hiểu biết đến từ thực hành
thì thâm sâu hơn và nó dẫn đến sự xả bỏ. Cho đến khi sự xả bỏ hoàn toàn, chúng
ta vẫn phải kiên trì với sự thiền quán của mình. Nếu sự tham ái hay tức giận
phát sinh trong tâm, chúng ta không làm ngơ mà chúng ta khảo sát chúng để xem
chúng đến từ đâu và ra đi như thế nào. Nếu những cảm thọ đó đã sẵn có trong tâm
chúng ta, chúng ta xem xét cách chúng đối kháng với chúng ta.Chúng ta nhận rõ
chúng và hiểu được sự phiền phức của chúng mang lại cho mình, chỉ vì chúng ta
chạy theo chúng. Sự hiểu biết này được tìm thấy ngay trong cái tâm thanh tịnh
của chúng ta.
Vì lý do này, mà các
học giả và thiền giả hiểu lầm nhau. Thường thì những người đặt nặng lý thuyết sẽ
nói, “Mấy nhà sư tu thiền cứ làm theo ý của mình. Họ không có chút căn bản về
giáo lý”. Thật ra, trên một phương diện nào đó, cả hai việc nghiên cứu và thực
hành cần phải đi đôi với nhau, giống như hai mặt của một bàn tay. Nếu ta ngửa
lòng bàn tay ra, mu bàn tay có vẻ như biến mất. Nhưng thực chất nó ẩn bên dưới.
Khi chúng ta trở bàn tay lại, lòng bàn tay biến mất. Nó không đi đâu cả; nó chỉ
ẩn ở dưới.
Cùng như thế ấy, khi
chúng ta cho rằng sự tu hành của mình đã biến mất, chúng ta bỏ đi nghiên cứu
giáo lý với hy vọng nó sẽ có kết quả. Nhưng bất kể bạn nghiên cứu giáo pháp có
nhiều đến đâu, bạn sẽ không bao giờ hiểu, bởi vì bạn không hiểu Đạo đúng với sự
thật. Nếu chúng ta thật sự hiểu Đạo,
chúng ta sẽ xả bỏ. Chúng ta dứt trừ mọi ràng buộc, không còn dính mắc. Hoặc nếu
vẫn còn dính mắc, nó sẽ giảm dần.
Đối với sự nghiên cứu
giáo lý, chúng ta có thể hiểu như vầy: mắt chúng ta là một đề tài để nghiên
cứu, tai chúng ta là một đề tài để nghiên cứu - mọi thứ đều là đề mục để quán
xét. Có thể chúng ta biết rằng sắc là vầy, như kia, nhưng chúng ta lại dính mắc
vào hình sắc và không biết làm sao để thoát khỏi. Chúng ta có thể phân biệt âm
thanh, nhưng rồi chúng ta dính vào chúng. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều
giống như những cái bẫy lừa gạt tất cả chúng sinh.
Khảo sát những thứ này
là đường lối tu hành của chúng ta. Khi một cảm xúc phát sinh, chúng ta dùng sự
hiểu biết của mình để quán xét nó. Nếu chúng ta có kiến thức về giáo lý, chúng
ta sẽ lập tức dựa vào đó để xem xét cảm xúc này - nó phát sinh bằng cách nào và rồi trở thành như thế nào... Nếu
chúng ta chưa hề biết những giáo lý này, thì chúng ta chỉ làm việc với cái tâm
vô minh của mình, và đây là Giáo Pháp của chúng ta. Nếu chúng ta có trí huệ,
chúng ta sẽ có thể xem xét cái tâm thiên nhiên chưa được thuần hóa này của mình
và dùng nó làm đối tượng quán tưởng. Nó cũng y như nhau. Tâm thiên nhiên của chúng ta là giáo lý. Đức Phật dạy chúng ta quán
tưởng mọi suy tư và cảm xúc phát sinh trong tâm. Hãy dùng cái thực tại của tâm
thiên nhiên này làm giáo lý của chúng ta. Chúng ta nương tựa vào cái thực
tại này.
-----------------------------------------------
Ghi chú
(1) Thất Giác Chi (Bojjhanga), là bảy yếu tố của sự giác ngộ. Đó là: 1. niệm (sati) nhớ và nhắc nhở; 2. trạch pháp (dhamma-vicaya) sự khảo sát phân tích pháp; 3. tinh tấn (viriya) nổ lực; 4. hỷ (piti) vui mừng; 5. khinh an (passaddhi) sự nhẹ nhàng an ổn; 6. định (samadhi) tâm ý tập trung; 7. xả (upekkha) tâm ý biết buông bỏ, không bám víu vào đối tượng. Còn gọi là Thất Bồ đề phần.
THIỀN MINH SÁT (VIPASSANA) (1)
Nếu bạn có niềm tin,
thì dầu bạn có nghiên cứu giáo lý hay không, không quan trọng. Nếu cái tâm tin tưởng của chúng ta khiến
chúng ta nỗ lực tu hành, giúp chúng ta phát triển sức mạnh, và lòng nhẫn nại,
thì sự nghiên cứu kinh điển không thành vấn đề. Chúng ta có chánh niệm làm
nền tảng cho sự tu hành của mình. Chúng ta luôn tỉnh giác trong tất cả tư thế -
đi, đứng, nằm, ngồi. Và nếu có chánh niệm, thì sẽ có sự hiểu biết rõ ràng.
Chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng sẽ phát sinh cùng một lúc. Chúng có thể phát
sinh rất nhanh đến độ chúng ta không thể nhận biết chúng riêng rẽ. Nhưng khi có
chánh niệm, thì cũng sẽ có sự hiểu biết rõ ràng.
Khi tâm an định vững
vàng, chánh niệm sẽ phát sinh, và đây cũng là nơi mà chúng ta khai mở trí huệ.
Tuy nhiên, có khi trí huệ chưa phát huy đủ hoặc chưa đúng lúc. Chánh niệm và sự
hiểu biết có thể hiện diện, nhưng những thứ này đôi lúc không đủ để đối phó với
hiện tạng. Thường thì nếu chánh niệm và
sự hiểu biết rõ ràng được thiết lập vững chắc, trí huệ sẽ hiện diện để giúp đỡ.
Tuy nhiên, chúng ta phải luôn phát huy trí huệ này xuyên qua pháp môn thiền minh
sát. Đây có nghĩa là bất cứ thứ gì sinh khởi trong tâm đều có thể làm đối tượng
của chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng. Nhưng chúng ta phải nhìn thấy nó là vô
thường, khổ và vô ngã. Chúng ta nhận thấy rằng nó chỉ là một cảm thọ, một hình
sắc không có tự ngã, không phải một thực thể độc lập, và tự động biến mất. Chỉ
vậy thôi! Thế nhưng, nếu người không có trí huệ sẽ bỏ qua cơ hội này. Họ không
dùng những thứ này để giúp mình hiểu biết rõ ràng bản chất của chúng.
Nếu trí huệ hiện diện,
chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng sẽ ở đó. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, trí huệ
có thể không rõ ràng lắm. Vì thế, chánh niệm và sự hiểu biết không thể nắm bắt
mọi cảm thọ, nhưng trí huệ có thể giúp ích. Trí huệ có thể nhìn thấy phẩm chất
nào của chánh niệm đang hiện diện và loại cảm thọ nào đang phát sinh. Hoặc là, với
lối nhìn tổng thể, thì dầu đó là loại chánh niệm nào hay cảm thọ nào, nó cũng
đều là Chánh Pháp.
Đức Phật dùng pháp thiền
minh sát làm cơ sở. Ngài thấy rằng chánh niệm và sự hiểu biết này thường không
ổn định và vững chắc. Bất cứ thứ gì bất ổn, và chúng ta muốn cho nó ổn định, sẽ
khiến cho chúng ta đau khổ. Chúng ta muốn sự việc thuận theo ý mình, nhưng
chúng ta đau khổ và thất vọng vì sự việc không diễn ra theo cách đó. Đây là sự
ảnh hưởng của cái tâm uế trược, một cái tâm ham muốn thiếu trí huệ.
Chúng ta thường muốn
sự tu hành của mình dễ dàng, muốn nó diễn tiến theo ý mình. Cái thái độ đó cũng
không khó hiểu lắm. Cứ nhìn vào thân thể này thì rõ. Nó có bao giờ thực sự
thuận theo ý muốn chúng ta không? Một phút trước chúng ta muốn thế này, một
phút sau chúng ta muốn thế kia. Chúng ta muốn thân thể không bao giờ bệnh, muốn
sống lâu mãi có được không? Bản chất của thân và tâm là như thế.
Chúng ta có thể không
nhìn thấy điểm này. Thường thì bất cứ thứ gì chúng ta không thích, chúng ta bỏ
qua một bên. Chúng ta không dừng lại và suy ngẫm thử xem cách mà chúng ta thích
hay không thích việc đó có thật sự là đúng hay không? Chúng ta chỉ nghĩ rằng
những thứ chúng ta không thích bởi nó có vấn đề gì đó, và những thứ chúng ta thích
là xác đáng.
Đây là nơi mà cái tham
ái phát sinh. Khi chúng ta biết sự kích thích từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và
ý, cho chúng ta một cảm giác thích hay không thích phát sinh. Điều này cho thấy
rằng tâm chứa đầy sự chấp trước(1). Vì thế, Đức Phật dạy chúng ta về
tính vô thường. Ngài chỉ cho chúng ta phương pháp để quán chiếu sự việc. Nếu
chúng ta bám víu vào một thứ gì không thường hằng, chúng ta sẽ đau khổ. Vậy thì
tại sao chúng ta lại muốn những thứ này diễn biến thuận theo sự thích hoặc
không thích của chúng ta? Chúng ta đâu thể miễn cưỡng sự việc thuận theo ý
mình. Chúng ta không có cái năng lực đó. Bất kể chúng ta muốn sự việc như thế
nào, chúng ta không thể khiến cho nó khác hơn bản chất của nó. Muốn như thế này
là muốn sự khổ, chứ không phải là cách để thoát khổ.
Ở đây chúng ta có thể
nhìn thấy rằng, khi cái tâm đã bị đánh lừa, nó sẽ hiểu một đường, và khi không
bị đánh lừa, nó hiểu theo một đường khác. Khi tâm tiếp nhận một cảm thọ, chẳng
hạn, và nhìn thấy cảm thọ đó là một thứ không phải để bám vào, hay đồng hóa với
nó. Đây là cái tâm trí huệ. Nếu không có trí huệ, chúng ta chỉ chạy theo sự ngu
xuẩn của mình. Sự ngu xuẩn này không nhìn thấy sự vô thường, bất toại nguyện,
và vô ngã.
Điều chúng ta thích,
chúng ta cho nó là tốt và đúng. Điều chúng ta không thích, chúng ta cho nó là
không tốt, và sai. Chúng ta không thể ngộ Đạo bằng cách này - trí huệ không thể
phát sinh.
Đức Phật đã sữ dụng thiền minh sát để khảo sát tất cả những hiện
tượng của tâm. Bất cứ thứ gì nảy sinh trong tâm, Ngài quán xét như vầy: Bất kể
ta có thích nó hay không, nó không có gì chắc chắn. Nó không làm ta toại nguyện
bởi vì những thứ luôn biến đổi này chịu ảnh hưởng của nhân duyên. Tất cả những
thứ này không có thực thể hay tự ngã; chúng không thuộc về ta. Đức Phật dạy chúng
ta tập nhìn chúng như thế đó. Sự tu hành của chúng ta đặt cơ sở trên nguyên tắc
này.
Chúng ta hiểu rằng
chúng ta không thể tự rạo ra những cảm thọ khác nhau theo ý muốn. Cả tâm trạng
vui vẻ lẫn tâm trạng bực dọc đều có thể phát sinh khi đủ nhân duyên. Có cái
thoải mái, nhưng có cái khó chịu. Nếu chúng ta không hiểu những thứ này đúng
đắn, chúng ta sẽ không thể phán đoán xác đáng. Và như thế, chúng ta cứ chạy
theo ham muốn của mình.
Có lúc chúng ta thấy
vui, có lúc thấy buồn, nhưng điều này cũng là tự nhiên thôi. Có lúc chúng ta
thấy hài lòng, có lúc thất vọng. Những gì chúng ta thích, chúng ta cho là tốt
và những gì chúng ta không thích chúng ta cho là xấu. Cứ như thế, chúng ta càng
tách mình rời xa chân lý. Khi điều này xảy ra, và rồi chúng ta không còn hiểu
hay thấy Đạo nữa.
Thật ra, chúng ta
không cần tìm kiếm Đạo ở bên ngoài. Chúng
ta chỉ cần nhìn thấy rằng những cảm thọ này vô thường, bất toại nguyện và rằng
chúng không có một tự ngã thường hằng.
Tu hành theo cách này, chúng ta gọi là thực hành Thiền Minh Sát - đó là cách
nhận biết tâm và chúng ta duy trì trí huệ bằng cách này.
-----------------------------------------------
Ghi chú
(1) Chấp trước là từ chỉ sự ràng buộc hay dính mắc vào sự việc.
THIỀN CHỈ (SAMATHA)
Thiền chỉ là như vầy: Chúng ta thiết lập chánh niệm về hơi thở,
chẳng hạn, để an trụ tâm. Tâm đi theo hơi thở sẽ dần dần trở nên bình an và
vắng lặng. Pháp an trụ tâm này gọi là thiền chỉ. Chúng ta cần phải thực
hành thiền chỉ rất nhiều bởi tâm chúng ta quá hiếu động. Nếu thử ngồi xuống để
xem xét, chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều thứ không góp phần vào sự bình an của
tâm và rất nhiều thứ mang đến sự rối rắm.
Đức Phật dạy chúng ta
nên tìm một đối tượng thiền thích hợp với khuynh hướng của chúng ta, một phương
pháp thích hợp với cá tính của mình. Thí dụ, quán xét những phần trên thân thể
- tóc, lông, da, móng tay, răng - đều có thể mang đến sự giác ngộ. Tâm có thể
trở nên bình an qua sự tu tập này. Nếu quán chiếu năm thứ này dẫn đến sự bình
an, đó là bởi vì chúng là những đề mục quán tưởng thích hợp với chúng ta. Bất
cứ thứ gì chúng ta thấy thích hợp, chúng ta có thể xem đó là đối tượng của sự tu
hành, và sử dụng nó để chế ngự phiền não.
Một thí dụ khác là
quán tưởng cái chết. Đối với những người
còn nặng tham, sân, si, và cảm thấy khó đối trị với chúng, họ nên dùng chính
cái chết của mình để làm mục tiêu quán tưởng. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng
mọi người, dầu là giàu hay nghèo, tốt hay xấu, đều phải chết. Khi quán tưởng
như thế này mãi, tâm trở nên bình an và yên lặng dần. Đó là bởi vì pháp tu này
thích hợp cho chúng ta.
Nhưng nếu thiền chỉ
này không có khuynh hướng thích hợp cho chúng ta, nó sẽ không phát sinh sự bình
an. Chỉ khi nào đối tượng thiền quán thích hợp cho chúng ta, chúng ta mới có
cảm giác bình an phát sinh thường xuyên mà không cần quá nhiều nỗ lực.
Sau đây là một thí dụ
từ cuộc sống thường nhật của chúng ta. Khi người tại gia đến cúng dường chúng
ta những đĩa thức ăn khác nhau, chúng ta nếm thử tất cả các món ăn. Khi đã thử
xong, chúng ta mới quyết định ăn món chúng ta thích nhất. Chỉ thí dụ thôi. Món
mà chúng ta thích, chúng ta sẽ ăn, còn những món khác chúng ta không màng đến.
Phương pháp tập trung
vào hơi thở là một thí dụ của pháp thiền thích hợp với tất cả chúng ta. Chúng
ta đã thử đủ cách khác nhau, nhưng hình như chúng ta không thấy thoải mái cho
lắm. Tuy nhiên, khi chúng ta ngồi xuống và quan sát hơi thở, chúng ta cảm thấy
dễ chịu ngay; chúng ta có thể nhìn thấy nó rõ ràng. Không cần phải đi đâu xa,
chúng ta có thể dùng những gì mình đang có.
Chỉ việc quan sát hơi thở, nó đi ra rồi đi vào - chúng ta quan sát nó
như thế. Và sau một thời gian dài, tâm dần dần yên lặng. Những thứ khác sẽ phát
sinh (suy tưởng, hay phóng dật), nhưng chúng ta sẽ thấy chúng như đang tách rời
khỏi chúng ta. Chúng ta không còn cảm thấy chúng gần gũi nữa. Chúng ta không
còn cảm thấy một sự tiếp xúc mạnh mẽ hay có lẽ không còn sự tiếp xúc nào nữa.
Hơi thở cũng giống như
thức ăn. Và chúng ta chỉ tồn tại khi có thức ăn. Nếu chúng ta không thở dầu chỉ
một thời gian ngắn, chúng ta sẽ chết. Đi, đứng, nằm, ngồi chúng ta đều thở.
Hành giả thực tập chánh niềm về hơi thở nên hiểu biết như thế. Tuệ giác đến từ
sự tu tập này thật sự kỳ diệu. Nếu chúng ta không quán sát hơi thở, chúng ta
không nhận thấy hơi thở là thức ăn, chúng ta không thấy tầm quan trọng của nó.
Thật sự chúng ta “ăn” không khí cả ngày lẫn đêm. Bạn cũng nhận ra rằng càng
quán sát như thế, bạn càng nhận được nhiều lợi ích hơn, và hơi thở càng trở nên
thanh nhẹ hơn. Có lúc hơi thở dường như dứt bặt, như thể bạn không thở nữa.
Thật ra hơi thở đang xuyên qua các lỗ chân lông. Đây gọi là “hơi thở vi tế”.
Khi tâm hoàn toàn vắng lặng, sự hít thở bình thường có thể ngừng lại theo cách
này. Chúng ta không cần phải sợ hãi hay kinh ngạc. Nếu không có hơi thở, thì
chúng ta làm gì đây? Chỉ việc nhận biết trạng thái đó! Biết rằng hơi thở không
hiện diện. Chỉ vậy thôi. Như thế là tu hành đúng cách.
Chúng ta đang nói về
thiền chỉ, pháp thiền để an định tâm. Một pháp thiền này thôi cũng đủ đưa bạn
đến sự chứng ngộ rốt ráo, hay ít nhất đến một nơi chúng ta có thể nhìn thấy
trọn vẹn con đường của mình và tiến bước với niềm tin vững chắc. Nếu chúng ta
tiếp tục quán sát như thế mãi, năng lượng sẽ phát sinh, giống như nước trong
một cái chum. Chúng ta đổ nước vào chum và giữ cho nó luôn đầy nước, để những
sinh vật sống trong nước không bị chết. Sự nổ lực và chuyên cần của chúng ta
cũng giống như vậy. Và rồi chúng ta cảm thấy rất thanh thản và bình an.
Sự bình an này đến từ
trạng thái nhất điểm của tâm. Trạng thái này có thể rất phiền phức bởi chúng ta
không muốn những trạng thái khác quấy nhiễu chúng ta. Thật ra, những tâm thái
khác sẽ đến, và nếu chúng ta nghĩ đến nó, thì điều này tự nó có thể là một
trạng thái nhất điểm của tâm. Giống như khi bạn nhìn những người khác nhau, bạn
sẽ không có cùng một cảm giác về họ như cha mẹ của bạn. Trên thực tế, tất cả
phái nam đều giống như cha và tất cả phụ nữ đều giống như mẹ chúng ta, nhưng
chúng ta không có cùng cảm giác với họ. Chúng ta cảm thấy rằng cha mẹ chúng ta
quan trọng hơn họ. Tuy nhiên, họ có giá trị lớn hơn đối với chúng ta.
THÁO GỠ GÚT MẮC
Khi công phu thiền chỉ
của chúng ta đạt đến sự tĩnh lặng, tâm sẽ nhận biết rõ ràng và soi chiếu. Những
hoạt động tâm trí càng ít đi. Khi điều này xảy ra, sự bình an và hỷ lạc lớn lao
phát sinh. Nhưng chúng ta có thể dính mắc vào sự hỷ lạc, cho nên chúng ta nên
quán chiếu sự hỷ lạc đó là không chắc chắn. Đồng thời chúng ta cũng nên quán
chiếu sự khổ là vô thường. Chúng ta sẽ hiểu rằng tất cả mọi cảm thọ đều vô
thường và không có chỗ để nắm bắt. Chúng ta sẽ nhìn thấy như thế. Chúng ta sẽ
hiểu rằng sự việc là như thế vì đó là bản chất của chúng.
Giống như khi nắm
trong tay một sợi dây thắt gút. Nếu chúng ta kéo đúng hướng, gút sẽ nới lỏng
ra. Nó không còn thắt chặt như trước nữa. Điều này chứng tỏ cái gút không nhất
thiết phải luôn thắt chặt như vậy. Trước kia, chúng ta cảm thấy rằng sự việc sẽ
như vầy mãi, và với lối suy nghĩ này, chúng ta thắt chặt cái gút thêm. Sự thắt
chặt này rất đau khổ. Sống như thế là rất căng thẳng. Cho nên, chúng ta tháo
lỏng cái gút một chút và thư giãn. Tại sao chúng ta tháo lỏng nó? Bởi vì nó
chặt quá! Nếu chúng ta không bám vào đó, thì chúng ta có thể tháo lỏng nó. Sự
thắt chặt không phải là tình trạng vĩnh cửu.
Chúng ta lấy giáo lý
vô thường làm căn bản. Chúng ta nhìn thấy rằng cả hạnh phúc và khổ đau đều vô
thường. Chúng ta nhìn thấy chúng không đáng tin cậy. Không có gì là thường hằng
cả. Với sự hiểu biết này, dần dần chúng ta không còn bám lấy những tâm trạng và
cảm xúc khác nhau nữa. Sự hiểu biết sai lạc sẽ giảm thiểu tới độ chúng ta không
còn tin tưởng vào những thứ này nữa. Đây gọi là tháo gỡ gút mắc. Nó sẽ tiếp tục
lỏng dần. Mọi ràng buộc sẽ dần dần được nhổ tận gốc rễ.
SỰ NHÀM CHÁN
Khi chúng ta nhìn thấy sự vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã
nơi chính mình, trong thân và tâm này, trong thế giới này, chúng ta sẽ khởi
sinh sự nhàm chán (nibbidà). Đây không phải là cảm giác chán ngán thường ngày trong đời
sống của chúng ta - như kiểu nó khiến cho chúng ta không muốn biết hay không
muốn nói một điều gì đó, hay lẫn tránh không muốn quan hệ với ai cả. Kiểu như
thế không phải là sự nhàm chán thật sự; nó vẫn còn sự ràng buộc, chúng ta vẫn
phải dính mắc tới nó; chúng ta vẫn không hiểu. Chúng ta vẫn còn cảm giác ganh
ghét và tức giận, vẫn còn dính mắc vào những thứ khiến chúng ta chán ngấy và
đau khổ theo kiểu đó.
Sự nhàm chán mà Đức Phật nói là thứ nhàm chán không có sự ghét
bỏ hay oán thù. Nó phát sinh khi hành giả nhìn thấy mọi thứ đều vô thường. Khi
cảm giác thoải mái phát sinh trong tâm, chúng ta biết rằng nó sẽ biến mất, nó
không bền vững. Đây là loại nhàm chán mà chúng ta có - trái với sự đam mê và ham
muốn dục lạc. Chúng ta thấy rằng chẳng có
điều gì đáng để chúng ta ao ước. Dầu là sự việc đó là điều mà chúng ta thích hay
không thích, nó cũng không quan trọng. Chúng ta không đồng hóa mình với chúng
hay quan tâm đến chúng. Chúng chẳng có một giá trị đặc biệt nào.
Tu hành như thế, chúng
ta không làm cho sự việc gây nên phiền phức cho chúng ta. Chúng ta thấy rằng sự
đồng hóa mình với những cảm thọ sẽ không mang đến bình an và hạnh phúc chân
thật: dính mắc vào hạnh phúc hay khổ đau, những cái thích hay không thích chỉ
dẫn tới khổ. Nếu chúng ta vẫn dính mắc như thế, chúng ta không có được tâm quân
bình đối với sự việc. Sự ràng buộc đó chỉ gây nên khổ đau.
TỨ DIỆU ĐẾ
Đức Phật dạy chúng ta
biết bốn điều, đó là sự khổ, nguyên nhân của khổ, sự thoát khổ, và sự tu hành
đưa đến sự thoát khổ. Ngài nói rằng chúng ta chỉ cần biết bốn điều này. Khi
chúng ta hiểu chúng, chúng ta có thể nhận biết khổ đau khi chúng phát sinh và
biết rằng nó có nguyên nhân. Chúng ta biết rằng nó không tự nhiên mà đến. Khi
chúng ta muốn thoát khỏi sự khổ này, chúng ta có thể dứt trừ nguyên nhân của
nó.
Tại sao chúng ta có
cảm giác đau khổ này, cảm giác không hài lòng này? Đó là bởi vì chúng ta đang
bám chặt vào cái thích hay không thích của chúng ta. Chúng ta đau khổ là do chúng ta tự tạo lấy. Chúng ta đau khổ vì chúng
ta gán cho sự việc này sự việc kia những giá trị khác nhau theo ý muốn của mình.
Cho nên chúng ta mới nói, “Biết sự khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết giải
thoát sự khổ, và biết con đường dẫn đến sự giải thoát này”. Khi chúng ta hiểu
biết sự khổ, chúng ta tháo gỡ cái gút. Nhưng chúng ta phải biết rõ cách tháo gỡ
nó - phải kéo đúng hướng. Có nghĩa là chúng ta phải biết rằng đây là bản chất
của sự việc - là khổ. Sự ràng buộc sẽ bị nhổ tận gốc. Đây là sự tu hành dẫn tới
sự chấm dứt khổ đau.
Biết sự khổ, nguyên
nhân của sự khổ, biết sự thoát khổ, và biết con đường (Đạo) dẫn đến sự thoát
khỏi khổ đau. Đạo là như thế này: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh
Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Khi chúng ta có
Chánh Kiến về những điều này, chúng ta có Chánh Đạo. Những thứ này có thể chấm
dứt khổ đau. Chúng dẫn chúng ta tới Giới, Định, và Huệ.
Chúng ta phải hiểu rõ
bốn điều này. Chúng ta phải muốn hiểu. Chúng ta phải muốn nhìn thấy những thứ
này trên thực tế. Mỗi khi nhìn thấy bốn điều này, chúng ta gọi đây là chân lý.
Chúng ta đều có thể nhìn thấy chân lý ở mọi nơi, bên trái, bên phải, phía trên,
phía trước... Chúng ta thấy mọi thứ đều là như thế. Đối với người đã đắc Đạo,
một người thật sự hiểu Đạo, bất cứ họ ở đâu, mọi thứ đều là chân lý.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét