Thiền sư Ajahn Chah
Minh Vy dịch Việt ngữ
PHẦN 1
GIỚI LUẬT
ĐỨC HẠNH VÀ THẾ GIỚI CỦA LỤC CĂN
CHƯƠNG 6
HIỂU LUẬT
Nếu bạn không biết chắc, thì đừng
nói,
đừng làm điều đó, đừng buông
lung.
Tu
hành không phải dễ. Có rất nhiều thứ mà chúng ta không biết -
chẳng hạn, những giáo lý như “biết thân, thì biết được thân trong
thân” hay “biết tâm, thì biết được tâm trong tâm”. Nếu chúng
ta chưa tu tập những điều này, chúng ta có thể
không hiểu gì cả. Trong quá khứ, tôi đã từng là một vị thầy, nhưng
chỉ một vị “thầy nhỏ”. Tại sao tôi nói là một “vị thầy nhỏ?” Bởi vì lúc đó tôi
không tu hành. Tôi dạy luật nhưng tôi không hành luật. Một người như vậy,
tôi gọi là một vị thầy nhỏ, một vị thầy thấp. Tôi nói là một “vị thầy thấp” bởi
vì tôi chưa tu hành tới đâu cả. Sự tu hành của tôi lúc đó
còn ở dưới xa, cứ như thế tôi chưa biết gì về giới luật.
Tuy
nhiên, ý tôi muốn nói là trên thực tế, khó có thể hiểu biết Luật
tạng hoàn toàn, bởi vì có những thứ, dầu chúng ta biết hay
không, vẫn bị xem là vi phạm. Thật là rắc rối. Thế nhưng chúng
ta buộc phải học hỏi và tôn trọng mỗi một giới
luật. Nếu không hiểu một điều gì, chúng ta phải cố
gắng học hỏi. Nếu chúng ta không nỗ lực xem xét, tự nó đã là một
sự vi phạm.
Giả
sử có một người đàn bà và bạn không biết đó là đàn bà hay đàn ông, bạn
chạm vào người đó. Bạn không biết chắc người này là đàn ông hay đàn bà, nhưng
bạn vẫn chạm vào người họ, đó là sai. Có một lúc, tôi cũng không hiểu tại sao
như thế là sai, nhưng sau này tôi mới nhận ra rằng người tu
hành phải cảnh giác, phải thận trọng. Lúc nói chuyện, đụng chạm
hay nắm vật gì, họ phải suy nghĩ trước. Sự sai lầm ở đây
là hành giả không tỉnh giác hay thiếu thận trọng.
Sau
đây là một thí dụ khác. Trời mây mù nên dầu chỉ mới 11 giờ trưa mà
thấy giống như đã chiều tối. Chúng ta không thấy mặt
trời mà cũng không có đồng hồ, và chúng ta nghĩ rằng lúc này là
buổi chiều. Chúng ta thật sự cảm thấy rằng lúc này là buổi
chiều, nhưng chúng ta vẫn đi kiếm một thứ gì đó để ăn. Khi chúng
ta bắt đầu ăn thì mây kéo đi và mặt trời chiếu rọi. Nhìn vị
trí mặt trời, chúng ta biết bấy giờ là vào khoảng 11
giờ trưa. Dầu là thế, chúng ta vẫn bị xem là phạm giới. Tôi đã
từng bâng khuâng, “Hả? Tại sao vậy? Chưa đến giữa trưa thì làm sao có thể gọi
hành động đó là phạm giới được”.
Ở
đây, chúng ta phạm giới là vì sự lơ là, không dè dặt và
không kiềm chế. Nếu nghi ngờ mà vẫn làm, đó là phạm
giới. Chúng ta nghĩ rằng trời đã chiều mặc dầu sự
thật thì không phải như vậy. Hành động ăn uống tự nó không phải
là sai, nhưng chúng ta phạm giới vì chúng ta lơ
là và bất cẩn. Nếu đó thật sự là buổi chiều, nhưng chúng ta nghĩ
rằng đó không phải là buổi chiều, thì tội càng nặng hơn. Nếu chúng ta nghi ngờ mà vẫn làm, thì dầu hành động đó
là đúng hay sai, chúng ta vẫn bị xem là phạm giới. Nếu hành
động tự nó là không sai trái, thì tội nhẹ hơn, nhưng nếu nó là
một hành động sai trái, thì tội nặng hơn. Giới luật có
thể phức tạp đến vậy đó!
Có một
lần, tôi đọc cuốn kinh Luật (Silanidesa), đầu tôi cảm thấy như muốn
nổ tung! Tôi cho rằng những điều này là bất khả thi đối với con người.
Nhưng rồi tôi nghĩ, Đức Phật sẽ chẳng giảng dạy một điều gì
mà chúng ta không thể thực hành. Ngài sẽ chẳng dạy những điều gì
đó và Ngài sẽ chẳng công bố nó, nếu những điều đó chẳng lợi
ích gì cho Ngài hay cho những người khác.
Vào
lúc đó, tôi vẫn còn vật lộn với sự tu hành của mình. Tôi bị
kẹt. May thay, tôi có cơ hội gặp Đại Đức Ajahn Mun, nên tôi hỏi ngài,
“Đại Đức Ajahn, tôi phải làm sao đây? Tôi mới tu, và vẫn chưa biết tu thế nào
mới đúng. Tôi nghi ngờ nhiều thứ quá”.
Ông
hỏi, “Vấn đề là gì vậy?”
“Trên
đường tu hành, tôi có đọc cuốn kinh Luật. Tôi cảm thấy nó
rất li ti và không thực tiễn chút nào. Tôi không tin là có
người nào thực hành được tất cả. Không cách nào có thể nhớ hết tất cả
những quy luật nhỏ nhặt trong đó. Tôi không thể làm được”.
Ông
nói với tôi, “Đúng là có rất nhiều thứ trong đó, nhưng thật sự thì không nhiều.
Nếu chúng ta phải nhớ hết mọi giới luật trong Luật
Tạng, thì khó thật. Nhưng sự thật thì cái mà chúng ta gọi
là giới luật nảy sinh từ đầu óc con người. Nếu chúng
ta huấn luyện đầu óc này để nó biết xấu hổ và sợ làm điều ác,
thì chúng ta sẽ kiềm thúc, chúng ta sẽ thận trọng”.
Điều
này sẽ khiến chúng ta biết thiểu dục tri túc, bởi vì chúng
ta không thể chăm sóc quá nhiều thứ, và rồi chúng ta trở
nên tỉnh giác hơn rất nhiều. Chúng ta sẽ có thể duy
trì sự tỉnh giác vào mọi lúc. Bất kỳ là ở đâu, chúng
ta cũng cố duy trì sự tỉnh giác. Chúng ta trở nên thận
trọng hơn. Mỗi khi bạn nghi ngờ một điều gì, đừng nói điều đó,
đừng làm việc đó. Nếu có gì bạn không hiểu, hỏi vị thầy. Cố thực thi
mọi giới luật là điều rất phiền toái, nhưng chúng
ta nên xem thử mình có sẵn sàng nhận lỗi không. Chúng
ta có chấp nhận chúng không?
Giới
luật rất quan trọng. Chúng ta không nhất thiết phải
nhớ hết mỗi một giới, nhưng chúng ta phải biết cách điều
phục tâm của mình.
Tất
cả những thứ mà bạn từng đọc nảy sinh trong đầu. Nếu bạn vẫn chưa huấn luyện
đầu óc để có được sự nhạy bén và sáng suốt, bạn sẽ luôn luôn nghi
ngờ. Hãy nhớ đến giáo lý của Đức Phật. Hãy tĩnh tâm. Bất cứ
điều gì khiến bạn nghi ngờ, đừng nghĩ tới nó. Nếu bạn không biết chắc một
điều gì, thì đừng nói hay làm điều đó. Chẳng hạn, nếu bạn bâng khuâng,
“Không biết điều này là đúng hay sai?” - nếu bạn không biết chắc, thì đừng nói, đừng làm điều đó,
đừng buông lung.
Sự
giảng dạy này rất phù hợp với tám phương pháp (Bát Chánh
Đạo) để đo lường chánh pháp của Đức Phật. Bất cứ giáo
lý nào nói về sự tiêu trừ phiền não, đưa con
người thoát khỏi khổ đau, giảng dạy sự xa lìa dục
lạc, tri túc, khiêm tốn, từ bỏ danh lợi, ẩn dật, tinh
tấn, và sống giản dị là bản chất của Pháp
Luật (Dhamma-vinaya), là giáo lý của Đức Phật. Bất cứ thứ
gì đi ngược lại đường lối này thì không phải là giáo lý của Đức
Phật.
Nếu chúng
ta thành tâm, chúng ta sẽ biết xấu hổ và sợ làm
sai. Chúng ta sẽ biết rằng khi nghi ngờ một điều
gì, chúng ta sẽ không nói hay làm điều đó.
Khi nghiên
cứu tạng luật với Đại Đức Ajahn Mun, tôi đã học
hỏi được rất nhiều thứ. Có những ngày trong kỳ an cư kiết hạ,
tôi nghiên cứu nó từ sáu giờ chiều cho đến sáng hôm sau.
Tôi hiểu rất nhiều. Tôi đã nỗ lực rất nhiều để thực thi
những quy luật này, nhưng sau này, tôi buông bỏ chúng dần.
Có quá nhiều thứ. Tôi không biết đâu là chính, đâu là phụ. Tôi thâu gom hết.
Khi tôi hiểu rõ hơn, thì tôi xả bỏ dần, bởi vì nó nặng nề quá.
Tôi chỉ quan sát tâm của mình và dần dần bỏ đi phần
chữ.
Tuy
nhiên, khi giảng dạy các tăng sĩ ở đây, tôi vẫn lấy Luật
tạng làm tiêu chuẩn. Tôi thường đọc cho các đệ tử nghe, có
khi đến nửa đêm. Chúng tôi vẫn cảm thấy thích thú. Thật ra,
bạn không thể hiểu kinh luật chỉ bằng sự lắng nghe. Bạn phải nghiên cứu, xem
xét và suy ngẫm rất nhiều.
Mặc
dầu tôi nghiên cứu những thứ này đã nhiều năm, tôi vẫn không
hiểu hết tất cả, bởi có nhiều điều rất tối nghĩa và mơ hồ trong sách.
Đã nhiều năm rồi, tôi chưa nhìn lại sách luật và đã quên khá nhiều thứ, nhưng
tâm tôi không hề có sự nghi ngờ hay thiếu sót. Tôi hiểu. Tôi đặt
sách vở qua một bên và tập trung phát triển tâm của mình. Tâm biết giá
trị của giới hạnh, nên nó không làm điều gì sai trái cả.
Tôi không giết thú vật, ngay cả những con vật nhỏ bé. Nếu có người
nào yêu cầu tôi giết một con kiến hay con mối, đập chết nó với đôi
tay của mình, chẳng hạn, tôi không thể làm được dầu họ có cho tôi rất nhiều
tiền. Dầu chỉ một con kiến hay một con mối thôi! Đối với tôi, đời
sống của con kiến có giá trị nhiều hơn một đống tiền.
Tuy
nhiên, có thể tôi đã làm cho một con côn trùng chết, chẳng hạn như khi một thứ
gì đó bò lên chân tôi và tôi phủi nó đi. Có lẽ nó chết, nhưng khi nhìn vào tâm
mình, tôi không thấy có mặc cảm tội lỗi. Không nao núng hay nghi
ngờ gì cả. Tại sao? Bởi vì ý định sát hại không có ở đó. “Ý định là cốt tủy của sự trau dồi đức hạnh”.
Trong quá khứ, khi chưa hiểu biết, tôi sẽ đau khổ về những
việc như thế, vì tôi sẽ cho rằng mình đã phạm giới. “Phạm giới gì? Đâu
có ý muốn ở đó”. Không có ý định, đúng, nhưng tôi đã không thận
trọng!” Tôi sẽ nghĩ như thế mãi, rồi buồn phiền và bực dọc.
Cho
nên giới luật này có thể quấy nhiễu người tu hành,
nhưng nó cũng có giá trị của nó, đó là “Bất cứ giới
luật nào bạn chưa biết, bạn phải học hỏi. Nếu bạn không biết, bạn nên
hỏi những người biết”. Họ thật sự nhấn mạnh điều này.
Bây
giờ nếu chúng ta không biết giới luật, chúng ta sẽ
không biết là mình đang vi phạm chúng. Chẳng hạn, có một hôm, đệ
tử của Đại Đức Ajahn Por, đang ngồi với ngài, thì có
vài phụ nữ đến hỏi Ajahn Pow.
Luang
Por! Chúng tôi muốn mời ngài đi tham quan với chúng tôi”.
Luang
Por không trả lời. Thấy thầy yên lặng, người đệ tử mới nói:
“Luang
Por, Luang Por! Ngài có nghe không? Những phụ nữ này mời ngài đi
chơi”.
Ông
đáp, “Ta nghe”.
Những phụ
nữ này lại hỏi, “Luang Por, ngài có đi không?”
Ông
chỉ ngồi đó yên lặng, và lời thỉnh cầu đó chẳng đi tới đâu cả. Khi họ
đi hết, người đệ tử mới hỏi, “Luang Por, tại sao ngài không trả
lời những người đàn bà đó?”
Ông
nói, “Này con, con không biết quy định này sao? Những người
vừa mới đây đều là phụ nữ. Nếu phụ nữ mời con đi với
họ, con không nên chấp thuận. Nếu họ tự mình sắp xếp mọi việc, thì
không sao. Trong trường hợp đó, ta có thể đi nếu ta muốn, bởi vì ta
không dự phần trong sự sắp xếp này”.
Sách
luật nói rằng việc sắp xếp để đi chung với phụ nữ, dầu là đi với một nhóm
người, không phải với một người, cũng bị xem là phạm giới.
Một
ví dụ khác. Đôi lúc, người tại gia đặt tiền trên một cái khay
để cúng dường Đại Đức Ajahn Pow. Ông đưa tấm vải nhận cúng dường
ra, tay nắm ở đầu kia tấm vải. Nhưng khi người ta đặt khay tiền trên tấm vải,
ông rút tay khỏi tấm vải. Rồi ông cứ để tiền ở đó. Ông biết nó ở đó, nhưng ông
không quan tâm đến nó, mà chỉ việc đứng dậy và đi nơi
khác. Ông làm thế bởi vì kinh luật nói rằng nếu ta không chấp thuận
món tiền nào đó, ta không cần phải ngăn cấm người tại
gia cúng dường nó. Nếu ông thật sự thích món tiền đó, ông sẽ phải nói,
“Này, người tu sĩ không được phép nhận tiền”. Ông sẽ phải nói với họ
như thế. Nếu bạn muốn một điều gì đó, bạn phải ngăn cấm người ta cúng dường
những gì không được phép nhận. Tuy nhiên, nếu bạn thật sự không ước muốn
điều đó, bạn không cần phải nói gì cả. Bạn chỉ việc để đó và
đi nơi khác.
Mặc
dầu Ajahn và các đệ tử của ngài sống với nhau đã nhiều
năm, có vài người vẫn không hiểu sự tu hành của ngài. Thật đáng buồn.
Riêng tôi, tôi thấy trong sự tu hành của ngài Ajahn Pow, có nhiều
điều rất tinh tế mà tôi cần phải xem xét và suy ngẫm.
Giới
luật có thể làm cho một số người hoàn tục. Khi nghiên
cứu kinh luật, họ khởi đủ thứ niệm nghi ngờ. Họ nghĩ về quá
khứ. Nghi lễ thọ giới của mình lúc trước có đúng không nhỉ?
Không biết vị tăng truyền Pháp cho mình có tinh
khiết không? Không có tỳ kheo nào ngồi trong buổi
lễ thọ giới của mình biết chút gì về giới luật, nên không biết
họ có ngồi đúng khoảng cách không? Không biết mình tụng kinh có
đúng phương pháp không?” Hết nghi ngờ này đến nghi
ngờ khác. “Chánh điện mà mình thọ giới tỳ kheo có
đúng tiêu chuẩn không? Nó nhỏ quá...”. Họ nghi ngờ nhiều
thứ và rơi vào địa ngục.
Cho
nên, đến khi nào bạn chưa biết cách cột tâm của mình lại, nó có thể rất phiền
toái. Bạn phải rất bình thản, và không quyết đoán một điều gì vội vàng. Nhưng
bình thản đến độ bạn không để tâm xem xét sự việc thì cũng là
sai. Tôi hoang mang đến độ thiếu chút nữa là tôi hoàn tục, bởi
vì tôi nhìn thấy quá nhiều lỗi lầm trong sự tu hành của
chính mình và của vài vị thầy. Tôi như ngồi trên lửa và không ngủ nghê gì được
bởi vì những sự nghi ngờ này.
Càng nghi
ngờ, tôi càng thiền nhiều thêm, càng tu hành nhiều thêm. Sự nghi
ngờ khởi sinh nơi đâu, thì tôi tu hành ngay nơi đó. Khi trí
huệ phát sinh. Sự việc bắt đầu thay đổi. Thật khó có thể diễn
tả những gì xảy ra. Tâm thay đổi mãi cho đến khi tôi không
còn nghi ngờ gì nữa. Tôi không biết nó thay đổi như thế nào. Dầu tôi
có diễn tả, có lẽ người ta cũng không hiểu.
Cho nên tôi suy ngẫm về luật tạng - kẻ trí phải tự mình nhận biết. Đó phải là sự hiểu biết phát sinh từ kinh nghiệm trực tiếp. Nghiên cứu luật tạng là điều nên làm, nhưng nếu chỉ nghiên cứu thôi, thì không đủ. Nếu bạn thật sự tu tập, bạn bắt đầu nghi ngờ mọi thứ. Trước khi tu hành, tôi không quan tâm đến những giới luật nhỏ, nhưng khi bắt đầu tu hành, ngay cả những giới nhỏ cũng quan trọng như những giới lớn. Trước kia, những vi phạm nhỏ có vẻ như không quan trọng gì cả. Tôi nghĩ như vậy. Đến tối bạn có thể thú tội và thế là xong. Rồi bạn có thể tiếp tục vi phạm chúng. Nhưng thú tội kiểu này là không tinh khiết, bởi vì bạn không ngừng vi phạm, bạn không quyết tâm thay đổi. Bạn vẫn không kiềm thúc, không nhận thức sự thật, không dứt bỏ - bạn cứ lặp lại lỗi lầm đó mãi.
Đúng ra thì chúng ta không cần phải thú
tội làm gì. Nếu chúng ta nhận thấy tâm của mình thuần
khiết và không nghi hoặc, thì những sự vi phạm đó rơi rụng
ngay tại chỗ. Chúng ta chưa tinh khiết bởi vì chúng
ta còn nghi ngờ, chúng ta còn nao núng. Chúng
ta không thật sự tinh khiết, cho nên chúng ta không
thể xả bỏ. Chúng ta không nhìn thấy chính mình - đây là vấn
đề. Giới luật cũng giống như cái hàng rào bảo
vệ để chúng ta không lầm lỗi, cho nên chúng
ta nên trân trọng nó.
Nếu bạn không tự mình nhìn thấy giá trị thật
của giới luật, bạn sẽ thấy nó khó khăn. Nhiều năm trước khi tôi đến Wat
Pah Pong, tôi quyết định rời xa tiền bạc. Tôi nghĩ về điều này rất
lâu. Cuối cùng, tôi cầm túi tiền của mình, đi
thẳng tới người bạn đồng đạo đang chung sống với tôi vào lúc đó,
và đặt túi tiền xuống trước mặt anh ta.
“Này anh, hãy giữ lấy số tiền này. Từ nay trở đi, ngày nào tôi còn là một
người xuất gia, tôi sẽ không nhận tiền hay giữ tiền giữ tiền trong người.
Bạn có thể là nhân chứng của tôi”.
“Hãy giữ nó, anh có thể sẽ cần nó cho việc tu học của
mình”. Vị tỳ kheo đáng kính đó tỏ ra không muốn nhận túi
tiền. Anh ngượng nghịu hỏi,
“Tại sao anh không muốn giữ số tiền này?”
“Anh không cần lo cho tôi. Tôi đã quyết định rồi. Tôi
đã quyết định từ tối hôm qua”.
Từ ngày anh ta lấy số tiền đó, giữa hai chúng
tôi dường như có một khoảng cách. Chúng tôi không còn hiểu nhau
nữa. Tuy nhiên, anh ta vẫn là nhân chứng của tôi cho đến ngày
hôm nay. Từ dạo đó, tôi chưa bao giờ sử dụng tiền hay dính dấp
đến bất cứ sự mua bán nào. Tôi đã kiềm chế chính mình
ở mọi mặt có liên quan đến tiền bạc. Tôi chỉ theo
đuổi việc tu hành. Tôi không còn cần đến sự giàu có. Tôi xem nó
như thuốc độc. Dầu bạn cho thuốc độc tới người, tới chó, hay tới bất
cứ chúng sinh nào, nó đều dẫn đến sự chết chóc hay đau đớn.
Nếu chúng ta nhận rõ điều này, chúng ta sẽ luôn cảnh
giác để không uống nhầm phải “chất độc” đó. Khi chúng ta nhìn
thấy sự tai hại của nó, chúng ta dễ dàng buông
bỏ nó hơn.
Còn đối với
những thức ăn cúng dường, nếu tôi nghi ngờ về sự tinh
khiết của chúng, tôi sẽ không nhận chúng. Dầu thức ăn đó có thơm
ngon hay sạch sẽ bao nhiêu, tôi cũng sẽ không đụng đến. Ví dụ, bạn
đi khất thực và nhận được một ít cơm và cá mắm gói trong lá. Khi về
chỗ ở mở gói thức ăn ra, bạn thấy cá mắm - chỉ việc ném nó đi! Ăn cơm
trắng tốt hơn là phạm giới. Có như thế, bạn mới có thể nói rằng
mình thật sự hiểu biết giới luật. Và rồi giới luật trở nên
giản dị hơn.
Nếu những vị sư khác muốn tặng tôi những đồ dùng cần thiết,
như bát ăn cơm, dao cạo, hay bất cứ gì, tôi sẽ không nhận chúng trừ khi tôi
biết rõ rằng người cho là những đồng đạo có cùng tiêu
chuẩn trì giới như tôi. Tại sao không? Làm sao bạn có thể tin
tưởng một người buông lung? Họ có thể làm đủ thứ chuyện. Những vị
tăng buông lung không nhìn thấy giá trị của giới luật,
cho nên họ có thể đã nhận những thứ này một cách không chính đáng.
Tôi cẩn thận đến thế đó.
Vì lý do này mà vài vị tăng lườm tôi. Họ nói, “Anh ta
không thích giao thiệp, anh ta không thích trà trộn với những
người khác”. Nhưng tôi vẫn thản nhiên. “Lo gì, chúng ta có
thể trà trộn nhau khi chúng ta chết,” tôi nghĩ, “bởi lúc
đó chúng ta đều giống như nhau”. Tôi sống với sự chịu đựng. Tôi
là một người ít nói. Nếu có ai chỉ trích sự tu
hành của tôi, tôi vẫn thản nhiên. Tại sao? Bởi vì dầu tôi
có giải thích, họ cũng chẳng hiểu. Họ không biết gì về sự tu hành.
Giống như những khi tôi được mời tới một buổi lễ mai táng và có
người nói, “Đừng nghe ông ta nói! Chỉ việc bỏ tiền vào túi ông ta và đừng có nói
cho ông ta biết. Đừng để ông ấy biết”. Tôi nghĩ, “Này, bạn cho rằng tôi chết
rồi hay sao? Chỉ vì có người gọi rượu là dầu thơm, đâu có nghĩa là rượu
sẽ trở thành dầu thơm. Nhưng những người như bạn, khi muốn uống rượu,
thì gọi là dầu thơm, rồi cứ thế mà uống. Các bạn đúng là điên!”.
Cho nên, luật tạng có thể rất khó. Bạn phải
biết tri túc và sống tách biệt. Bạn phải nhìn thấy sự việc và nhìn
thấy chúng một cách đúng đắn. Có một lần, khi tôi du
hành xuyên qua Saraburi, phái đoàn của chúng
tôi đến ở tại một ngôi chùa làng một thời gian. Vị trụ
trì ở đó có cùng tuổi đạo với tôi. Buổi sáng, tất cả chúng
tôi đều đi khất thực. Khi trở lại chùa, chúng
tôi đặt bát của mình xuống. Lúc đó, những người tại gia mang
những đĩa thức ăn vào phòng và đặt chúng xuống. Rồi các sư đi đến nơi
để thức ăn, mở chúng ra, và sắp chúng thành hàng một. Một vị sư sẽ đặt một
ngón tay vào đĩa thức ăn ở cuối hàng của đầu này, và một người tại
gia sẽ đặt bàn tay của ông trên đĩa thức ăn ở cuối hàng của đầu
kia. Và chỉ vậy thôi! Sau đó thì các sư sẽ bắt đầu phân phối thức
ăn này để tất cả cùng ăn.
Có khoảng năm vị sư cùng đi với tôi vào lúc ấy, nhưng không
ai trong chúng tôi đụng những thức ăn đó. Khi đi khất
thực, tất cả chúng tôi đều nhận được một ít cơm trắng, nên chúng
tôi chỉ ăn cơm trắng. Không ai trong chúng tôi dám ăn từ những
đĩa thức ăn đó.
Cứ như thế được vài ngày, thì tôi bắt đầu nhận
thấy thái độ khó chịu của vị trụ trì. Một trong các nhà
sư của ông có lẽ đã nói với ông, “Những vị tăng đó không ăn thức
ăn ở đây. Tôi không biết họ muốn gì”.
Tôi phải ở đó thêm vài ngày nữa, nên tôi đến gặp vị trụ
trì để giải thích.
Tôi nói, “Thưa Đại Đức, tôi có thể nói chuyện với ngài một
vài phút? Tôi sợ rằng có vài điều mà ngài và các sư trong chùa này cảm
thấy ngạc nhiên, chẳng hạn như việc chúng tôi không ăn thức
ăn mà người tại gia cúng dường. Tôi xin phép được làm sáng
tỏ điều này. Thật sự thì không có gì, chỉ là đường lối tu hành
của tôi là như vầy - về việc nhận cúng dường. Khi người tại
gia đặt thức ăn xuống và các sư đi đến, mở thức ăn ra,
và sắp xếp để thức ăn được dâng cúng một cách đúng nghi lễ, như thế là
sai. Đó là một sự vi phạm giới luật. Nhất là khi vị sư nắm hay chạm
vào thực ăn chưa được dâng cúng tới mình. Làm thế sẽ hư hoại thức ăn.
Theo luật tạng, bất cứ vị sư nào ăn thức ăn đó sẽ bị xem
là phạm giới”.
“Chỉ là vì vậy thôi. Không phải tôi có ý chỉ
trích người nào, hay tôi cưỡng ép ngài hay các sư sãi trong chùa ngừng làm
như thế. Không phải vậy. Tôi chỉ muốn cho ngài biết đến thiện ý của
tôi, bởi vì tôi cần ở lại đây thêm vài ngày nữa”.
Vị trụ trì chắp tay nói, “Hay lắm! Tôi chưa
bao giờ thấy một vị sư nào giữ những quy luật nhỏ nhặt trong
kinh luật như thế. Thời này, những người như vậy thật là hiếm có. Nếu có thì có
lẽ họ không ở tại Saraburi này. Cho phép tôi ca ngợi ngài.
Tôi không phiền hà gì cả. Đó là điều rất tốt”.
Sáng hôm sau, khi chúng tôi đi khất thực về,
không một vị sư nào đến gần những đĩa thức ăn này. Những
người tại gia chăm lo mọi việc sắp xếp và cúng dường thực
phẩm, bởi vì họ sợ các sư không ăn. Từ đó về sau, các sư sãi có vẻ ái
ngại, cho nên tôi cố giải thích cho họ hiểu, để tâm họ
được an ổn. Tôi nghĩ rằng họ sợ chúng tôi. Họ cứ lẳng
lặng đi vào phòng và đóng chặt cửa lại.
Những ngày sau đó, tôi phải tìm cách làm cho họ
thấy thoải mái, bởi vì họ quá hổ thẹn. Tôi đâu có phiền trách họ. Tôi
không hề nói những câu như, “Không có đủ thức ăn” hay yêu cầu họ mang
cho tôi một thức ăn nào đặc biệt. Tôi đã từng nhịn đói, có lúc
bảy, tám ngày liên tục. Ở đây tôi còn có cơm trắng để ăn. Tôi biết tôi sẽ
không chết. Tôi có được sức mạnh từ sự tu hành - từ
sự tu hành phù hợp với sự hiểu biết của tôi.
Tôi lấy Đức Phật làm gương. Bất kỳ tôi đi đến đâu, bất kỳ những người khác làm gì, tôi không dính
dấp tới. Tôi chỉ chú tâm vào việc tu hành. Bởi vì tôi quan
tâm tới chính mình. Tôi quan tâm tới sự tu hành.
Những người không trì giới hay hành thiền và những
người thật sự tu hành không thể sống chung với nhau. Lúc trước
tôi không hiểu điều này. Tôi từng dạy dỗ người khác, nhưng tôi không tu
hành. Như vậy là không tốt. Khi tôi nhìn kỹ lại, thì mới thấy là sự tu
hành của tôi và sự hiểu biết của tôi cách nhau rất xa
như đất với trời.
Vì thế, với những vị tăng muốn lập trung tâm thiền
trong rừng, tôi bảo họ đừng làm thế. Nếu bạn chưa thật sự chứng ngộ, hãy
khoan nghĩ đến việc dạy dỗ người khác. Bạn chỉ gây thêm phiền phức. Có vài
vị tăng nghĩ rằng nếu họ vào sống trong rừng, họ sẽ tìm
thấy sự bình an, nhưng họ vẫn không hiểu cốt tủy của sự tu hành.
Họ tự mình cắt cỏ, họ tự mình làm tất cả mọi việc. Nhưng điều đó không làm
cho họ tiến bộ. Dầu đời sống trong rừng có thanh
bình đi nữa bạn cũng không thể tiến bộ nếu bạn tu
hành sai cách.
Họ nhìn thấy những vị sư sống trong rừng và bắt chước đi vào rừng,
nhưng nó không giống nhau. Áo tu không giống nhau; cách ăn uống không
giống nhau; mọi thứ đều khác cả. Và họ không tự huấn luyện, họ không tu
hành. Nếu sống như thế mà có kết quả, nó chỉ là một cái cớ để phô trương
hay quảng cáo, giống như một cuộc triển lãm y học. Nó sẽ chẳng
đi xa hơn thế. Những người chỉ tu hành đôi chút và rồi ra
ngoài dạy dỗ người khác là những người chưa hiểu biết tới nơi, tới
chốn. Họ không thật sự hiểu. Không bao lâu, họ sẽ bỏ cuộc và tan rã.
Do vậy, chúng ta phải học hỏi. Hãy nghiên
cứu các giới luật cho đến khi bạn hiểu rõ. Lâu lâu bạn
nên hỏi vị thầy về những điểm tinh tế, để được giải thích cặn
kẽ. Nghiên cứu như thế cho đến khi bạn thật sự hiểu
biết luật tạng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét