Thích Nhất Hạnh
Chương 4
Chim thiên nga trúng tên.
Ngày hôm sau, Svastika thả trâu bên bờ sông và bắt đầu cắt cỏ ngay
từ buổi sáng. Đến trưa nó đã cắt cỏ xong và nhét đầy cứng hai cái giỏ. Để gánh
cỏ bên này sông, Svastika lùa trâu sang bên kia sông. Bên kia sông chỉ có rừng
mà không có ruộng lúa, thành ra Svastika thường cho trâu ăn bên ấy để có
chút thì giờ ngả lưng trên đám cỏ non bên bờ sông gió mát. Nó
chỉ đem theo chiếc liềm. Chiếc liềm đối với nó rất quý giá vì đó
là phương tiện sinh sống của nó. Qua bên kia sông, Svastika dở nắm
cơm mà Bala đã gói cho nó từ hồi sáng trong một tờ lá chuối. Vừa định bốc cơm
ăn thì nó nhớ đến vị sa môn trong rừng. Nó nhớ đến Siddhatta. “Mình
có thể đem cơm này chia sẻ với người ấy. Người ấy chắc là sẽ không
chê cơm của mình là hèn mọn đâu”. Nghĩ như thế, Svastika gói nắm
cơm trở lại. Nó lùa đàn trâu về ăn phía cửa rừng. Rồi nó theo lối cũ, tìm
về chốn gặp gỡ chiều qua.
Từ xa, nó đã thấy dáng của Siddhatta, ngồi dưới gốc cây đại
thọ Pippala. Nhưng Siddhatta không ngồi một mình. Trước mặt người
ấy còn có một ai khác. Đó là một cô bé trạc tuổi Svastika, ăn mặc rất
tươm tất. Cô bé vận sari màu trắng đang ngồi nhìn Siddhatta chuẩn bị ăn cơm.
Svastika dừng lại. Nhưng vừa lúc Siddhatta ngửng lên, và đã trông thấy cậu ấy.
- Svastika!
Người ấy vừa gọi vừa đưa tay vẫy ra hiệu cho nó lại gần. Cô bé cũng
nhìn ra. Svastika nhận ra cô bé này. Nó chưa biết tên cô bé nhưng đã
gặp cô ấy một vài lần trên đường làng. Svastika bước tới gần. Cô bé
ngồi xích ra một bên. Siddhatta chỉ một chỗ ngồi trước
mặt và ra hiệu cho Svastika ngồi xuống. Trước mặt Siddhatta, có
một mảnh lá chuối tươi. Trên mảnh lá chuối là một nắm cơm và một ít
muối mè. Siddhatta chỉ mới bẻ nắm cơm ra làm hai chứ chưa bắt đầu ăn.
- Em ăn cơm chưa? Siddhatta nhìn Svastika.
- Dạ, thưa chú con chưa ăn.
- Vậy chúng ta cùng ăn cơm với nhau được
không?
Nói xong Siddhatta trao cho Svastika một nắm cơm.
Svastika cung kính chắp tay nhưng không nhận. Nó đưa nắm cơm của
nó ra:
- Con cũng có mang cơm theo đây.
Rồi nó mở gói cơm. Cơm của Svastika là cơm gạo đỏ không trắng trẻo
như cơm của Siddhatta. Với lại nó không có muối mè. Nó chỉ vài hạt
muối trắng. Siddhatta mỉm cười nhìn hai đứa trẻ:
- Vậy chúng ta gom lại và cùng ăn chung được không? Nói
xong Siddhatta lấy một nửa nắm cơm hẳm của Svastika và ăn ngon lành.
Svastika hơi bỡ ngỡ; nhưng thấy Siddhatta ăn cơm rất tự nhiên nó cũng
đưa cơm lên ăn.
- Cơm của chú dẻo, mềm và thơm lắm. Nó nói.
- Đó là cơm của Sujata đem cho. Siddhatta vừa nói vừa nhìn cô bé.
À thì ra cô bé này tên Sujata. Svastika nhìn kỹ lại. Cô bé này lớn
hơn mình, có lẽ lớn hơn một hoặc hai tuổi. Hai mắt cô ta to đen lay láy.
Svastika ngừng nhai, nói:
- Em có gặp chị một vài lần trên đường làng. Em không biết chị tên
Sujata.
Sujata nói:
- Chị là con gái ông hương cả làng Uruvela. Còn em, có phải em là
Svastika không? Thầy Siddhatta vừa kể chuyện em cho chị nghe xong. Này
Svastika, em đừng gọi thầy Siddhatta là “chú” nữa. Thầy là vị sa môn, mình
nên gọi là “thầy” thì đúng hơn.
- Dạ.
Siddhatta ngừng nhai nhìn hai đứa trẻ mỉm cười.
- Như vậy là ta khỏi giới thiệu hai con với nhau.
Này các con, ta thường ăn cơm trong im lặng. Những hạt cơm và những hạt mè
mà các con mang đến quý giá vô cùng. Ta muốn ăn cơm im lặng để thấy
được giá trị của những hạt ấy Sujata, chắc con ít có dịp được ăn cơm
gạo đỏ. Có thể là con đã ăn cơm rồi, nhưng con nên ăn một miếng cơm gạo đỏ của
Svastika đem đến. Ngon lắm. Và bây giờ chúng ta nên im
lặng mà ăn. Xong bữa cơm ta sẽ nói chuyện cho hai con nghe.
Siddhatta bẻ một miếng cơm từ nắm cơm của Svastika và trao cho
Sujata. Cô bé chắp tay thành búp sen, kính cẩn nhận lấy. Ba
người lặng lẽ ngồi ăn cơm trong cảnh rừng trưa yên tĩnh.
Sau khi cơm và muối mè đã hết, Sujata thu lượm các mảnh lá chuối
lại. Cô lấy bình nước trong mát để bên cạnh, rót vào một cái bát bằng
đá duy nhất mà cô mang theo và dâng lên.
Siddhatta tiếp nhận bát nước và trịnh trọng đưa mời
Svastika. Svastika vội nói:
- Con xin mời chú, à quên… mời thầy uống trước.
Siddhatta nhìn nó, ôn tồn nói:
- Con uống trước. Ta muốn con uống trước! Và Người nâng bát lên
bằng cả hai tay.
Svastika hơi luống cuống nhưng không còn cách nào từ chối.
Nó chắp tay lại, đón lấy bát nước và đưa lên uống một
mạch cạn chén, rồi trao bát lại cho Siddhatta, cũng bằng hai tay.
Siddhatta chìa bát ra để Sujata rót bát thứ hai. Khi bát nước đã đầy ông nâng
lên với dáng điệu cung kính và thong thả uống từng
ngụm nhỏ. Uống xong bát nước, Siddhatta lại chìa bát ra để Sujata rót cho bát
thứ ba. Bát này Siddhatta đưa lên mời Sujata. Sujata đặt bình nước
xuống trước mặt. Cô chắp hai tay và nhận lấy bát nước. Hồi
nãy đến giờ mắt Sujata không ngừng quan sát hai người. Bây giờ
cô mới nâng bát nước lên và uống từng ngụm nhỏ giống như Siddhatta vừa uống.
Sujata ý thức rằng đây là lần đầu tiên cô đã uống nước từ
một cái bát mà một người thuộc hạng ngoại cấp đã uống. Siddhatta là thầy mình.
Ông đã uống thì tại sao mình lại không uống? Tuy nhiên, cô bé không hề
có cảm tưởng mình bị ô nhiễm. Bất giác cô đưa tay trái
sờ vào đầu tóc của cậu bé chăn trâu ngồi bên cạnh.
Cử chỉ rất bất ngờ, khiến cho Svastika không tránh kịp,
Sujata đã chạm được vào đầu Svastika. Tay phải cô bé vẫn còn nâng bát nước.
Sujata thu tay trái lại. Với hai tay cô nâng bát lên và uống hết nước
trong chiếc bát. Cuối cùng cô bưng bát đặt xuống gốc cây, và nhìn hai
người, mỉm cười.
Siddhatta gật đầu:
- Các con đã hiểu được lời ta nói. Con người sinh ra
không có giai cấp. Nước mắt của người nào cũng mặn, máu của người nào cũng
đỏ. Chia người ra thành giai cấp để mà kỳ thị lẫn nhau đó là một
điều sai lầm.
Sujata trang nghiêm:
- Chúng con tin lời thầy dạy. Nhưng hình như không ai nghĩ
như thầy hết. Ai cũng tin rằng những người Sudra và những người ngoại cấp đã
được sinh ra từ bàn chân của vị trời Phạm Thiên. Kinh điển cũng nói như vậy. Không
có ai dám nghĩ khác hơn.
- Ta biết. Nhưng sự thật là sự thật, dù không có
ai tin theo. Một điều sai lầm mà được hàng triệu người tin
theo thì cũng là một điều sai lầm. Các con phải thật can đảm mới
có thể sống theo sự thật. Để
ta kể cho các con nghe một câu chuyện.
Rồi Siddhatta bắt đầu kể. Hồi đó, Người mới có chín tuổi. Một hôm,
Người đang chơi thơ thẩn một mình ở trong vườn thì có một con
chim thiên nga từ trên trời rơi xuống, ngay trước mặt.
Con chim có vẻ đau đớn lắm. Nó quằn quại trên mặt đất. Siddhatta bèn
chạy tới ôm nó lên, và thấy có một mũi tên cắm sâu vào cánh nó. Siddhatta cầm
mũi tên trong tay, ngậm miệng lại, và rút mạnh mũi tên ra. Con chim
run bắn lên, và máu rỉ ra ướt đỏ cả cánh chim. Người vội lấy ngón tay cái ấn
lên trên vết thương cho máu ngưng chảy. Ôm con chim trong tay, Siddhatta chạy
vào nhà trong đi tìm cô cung nữ Sundari, nhờ cô đi hái một
nắm lá dâu nhai nhỏ và rịt lên vết thương của nó. Con chim run rẩy. Hình
như nó bị lạnh. Người cởi chiếc áo lông cừu ra, bao bọc sưởi ấm và đặt nó gần
lò sưởi ngự.
Siddhatta đang dự định đi kiếm cơm nguội cho chim ăn thì Devadatta
đẩy cửa chạy vào. Devadatta là em chú bác của Siddhatta, được tám tuổi. Tay
Devadatta còn cầm cung và tên.
Cậu ta hỏi:
- Siddhatta, anh có thấy một con chim trắng rơi xuống đây không?
Siddhatta chưa kịp trả lời thì Devadatta đã nhìn thấy
con chim để gần lò sưởi ngự. Nó định chạy tới dành lấy con chim. Siddhatta vội
ngăn nó lại:
- Em không được lấy con chim. Con chim này là của anh.
Devadatta không chịu:
- Con chim ấy là của em. Chính em bắn nó rơi xuống.
Lúc đó Siddhatta đứng chận trước
mặt Devadatta, cương quyết không cho nó chạm tới con thiên nga. Siddhatta
nói:
- Con chim này bị thương. Anh cứu nó. Anh che
chở cho nó. Nó cần anh, chứ nó không cần em.
Devadatta là một đứa em cũng cứng đầu lắm, nó
có chịu thua đâu. Nó lại là một đứa trẻ thông minh. Nó lý
luận:
- Này nhé, anh nghe đây. Con chim này, khi nó còn bay trên
trời, thì nó không thuộc về ai cả. Em bắn nó rơi xuống, thì lý đương nhiên nó
thuộc về em.
Nghe nó lý luận có vẻ vững chãi đanh thép, nhưng Siddhatta
vẫn thấy có một điều gì đó sai sai ở trong ấy mà không biết đích xác là sai ở
chổ nào. Siddhatta thấy nghẹn cả họng, và rất muốn thụi nó một cái thật mạnh
vào vai, nhưng Người đã không làm thế. Bỗng nhiên Siddhatta tìm
thấy được cách trả lời Devadatta. Người nói:
- Em cũng nghe anh nói đây. Thói thường, những kẻ thương
yêu nhau mới ở chung với nhau, còn những kẻ ghét bỏ nhau thì
không bao giờ sống chung với nhau. Em có ý hung dữ muốn bắn giết con chim,
như vậy em và con chim là những kẻ thù ghét nhau, làm sao con chim có
thể ở chung với em được. Trong khi đó, anh cứu con chim, anh rịt vết
thương cho nó, anh sưởi ấm cho nó, và anh đang đi kiếm thức ăn cho nó
ăn… vậy thì anh và con chim là những kẻ biết yêu
thương nhau, cho nên bọn anh có thể ở chung với nhau… như anh đã
nói, con chim nó cần anh, chứ nó không cần em.
Sujata vỗ hai tay lại với nhau kêu đốp đốp:
- Thầy nói đúng lắm! Thầy nói đúng lắm!
Siddhatta mỉm cười quay sang nhìn Svastika, cậu bé ngẫm nghĩ.
Một lát sau nó nói:
- Con … con cũng thấy thầy có lý. Nhưng con nghĩ rằng ít ai
chịu chấp nhận cái lý ấy. Đa số mọi người vẫn theo lý
luận của Devadatta hơn.
Siddhatta gật đầu:
- Con nói đúng. Người đời phần lớn đều hùa theo lý
luận của Devadatta.
Và Siddhatta kể tiếp câu chuyện.
Cuộc tranh chấp giữa Siddhatta và Devadatta không đi đến
đâu, vì vậy sau đó được đưa ra giữa những người lớn. Hôm đó,
có buổi ngự triều. Siddhatta thì ôm con chim, còn Devadattathì ôm cung
tên, cả hai chạy ùa vào nhờ các quan phán xử. Lúc ấy phụ vương của Siddhatta
đang ngồi ở giữa buổi chầu. Cuộc đàm luận việc nước phải được tạm
ngừng lại. Các quan nghe xong lý luận của Devadattathì nghe
đến lý luận của Siddhatta. Họ bàn tán phân vân, rất lâu,
rất lâu, và chẳng đi đến kết quả gì cả. Số người theo phe Devadatta
rất đông. Giữa lúc ấy thì phụ vương của Siddhatta ngứa cổ. Ông ho lên
mấy tiếng. Lập tức các quan đều im lặng. Ai cũng nhìn vua. Và
sau đó, buồn cười chưa, mọi người đều nghĩ lý luận của Siddhatta đúng
hơn, và phán quyết nên giao con chim cho Siddhatta giữ. Devadatta tức lắm.
Siddhatta cứu được con thiên nga, nhưng cũng không thấy vui gì mấy. Bởi vì
tuy còn nhỏ tuổi, Siddhatta cũng dư sức để biết rằng những lý luận của mình
không thuyết phục được mọi người. Người ta vì nể phụ vương mà cho rằng Siddhatta
thắng cuộc chứ không phải vì họ thấy lý luận của Người là đúng.
- Buồn quá thầy nhỉ!
Sujata buộc miệng.
- Ừ. Nhưng lúc đó ta chỉ nghĩ đến sự an toàn của con
chim, nên cũng cảm thấy được an ủi ít nhiều. Nếu
không thì con chim đã bị đưa xuống nhà bếp để làm thịt rồi.
Ở đời, ít ai biết nhìn chúng sinh bằng con mắt thương
yêu. Vì vậy họ hành xử ác độc với nhau, họ không tha
thứ cho nhau. Hồi ấy, Siddhatta tuy còn nhỏ tuổi, nhưng đã thấy được điều
đó. Những kẻ yếu đuối và đứng ở cô thế thường dễ bị bắt nạt
và bị giết hại. Lý luận của Siddhatta hồi ấy đến tận bây giờ vẫn còn
nguyên giá trị. Đó là lý luận của tình thương yêu và
sự hiểu biết. Đó là sự thật có thể làm vơi bớt nỗi khổ của muôn
loài. Dù số đông không công nhận thì đó vẫn là sự thật. Cho nên Người
đã dặn dò hai đứa bé:
- Các con phải có thật nhiều can đảm mới có thể đứng về
phía sự thật mà bảo vệ sự thật.
- Còn con chim, sau đó nó ra sao, hả thầy? Sujata hỏi.
- Ta nuôi con chim được bốn ngày. Khi sức khỏe nó tốt hơn và vết
thương nơi cánh của nó đã dần lành, ta đã thả nó đi. Ta dặn nó bay thật xa để
đừng bị Devadatta bắn rơi một lần nữa.
Siddhatta nhìn hai đứa trẻ ngồi trước mặt mình. Cả hai
đứa đang ngồi trầm ngâm, không nói năng gì. Ông lên tiếng:
- Sujata, đã đến lúc con phải về nhà kẻo mẹ con đợi.
Svastika, con đi chăm sóc đàn trâu của con đi. Và nếu chưa cắt đủ cỏ thì con
hãy cắt. Mớ cỏ Kusa mà con tặng ta hôm qua, ta đã trải làm đệm ngồi, tốt lắm. Cảm
ơn các con đã đến thăm ta.
Svastika nhìn xuống. Quả thật mớ cỏ đã được
Siddhatta trải làm đệm ngồi. Các lá cỏ đã cuốn tròn lại nhưng chắc
chắn là cỏ còn mềm. Cậu bé nghĩ là cứ ba hôm một lần, cậu có thể dâng
cho thầy một ôm cỏ mới. Cậu đứng dậy cùng với Sujata, cậu chắp
tay vái chào Siddhatta. Sujata về nhà, còn Svastika thì lùa trâu về lại bờ
sông cho trâu ăn cỏ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét