20 thg 1, 2021

ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG (Phần 4 - Chương 20)

Thích Nhất Hạnh

Chương 20

Nai ngọc.

Mỗi ngày, Bụt đều xuống tắm dưới dòng Neranjara. Người cũng thường đi thiền hành trên bờ sông hoặc ở những con đường mòn trong rừng. Có khi Bụt ngồi tĩnh tọa trên bờ sông bên dòng nước chảy. Có khi Bụt ngồi tĩnh tọa dưới cây Bồ đề, xung quanh hàng ngàn chim chóc ca hát líu lo trên cành lá. Lời nguyện xưa bây giờ đã được thực hiện. Bụt sẽ trở về Kapilavatthu. Ở đó đang có rất nhiều người chờ đợi Bụt. Nhưng Bụt cũng nhớ rằng ở thành Rajagaha, vua Bimbisara cũng đang đợi chờ Người. Vua Bimbisara quả là một người bạn tri kỷ của Bụt. Bụt phải đáp lại tấm lòng thành đó trước, và còn năm người bạn đồng tu nữa. Bụt phải giúp đỡ họ. Họ là những người có khả năng tiếp nhận đạo giải thoát. Có lẽ năm người ấy cũng chỉ đang quanh quẩn trong vùng này mà thôi.

Dòng sông, bầu trời, trăng sao, núi rừng cũng như từng ngọn cỏ và từng hạt bụi đều trở nên mầu nhiệm đối với Bụt. Người thấy những năm gian truân tầm Đạo của mình trước kia không phải là vô ích. Chính nhờ những năm phong trần ấy mà Người thấy được rằng đạo sáng nằm ngay trong tự tâm mình. Tâm của chúng sinh chính là tâm của giác ngộ. Hạt giống tỉnh thức nằm ngay trong tâm của mỗi người. Chúng sinh không cần đi tìm sự giác ngộ ở bên ngoài, bởi vì trong mỗi sinh vật chứa đủ tự thân tất cả trí tuệ và năng lực của toàn vũ trụ. Đây là một phát hiện vĩ đại của Bụt, và là một chân lý lớn cho tất cả.

Bọn trẻ đã rủ nhau trở lại nhiều lần để được Bụt chỉ dạy. Trong khi tiếp xúc với chúng, Bụt vui mừng nhận ra rằng những đạo lý giải thoát có thể diễn bày bằng một ngôn ngữ đơn giản và mộc mạc. Bọn trẻ, dù là những em bé chưa bao giờ đi học, cũng có thể hiểu được giáo pháp của Bụt. Điều này làm cho Bụt phấn khởi. Có một bữa nọ, bọn trẻ đã mang tới Bụt với một rỗ quít. Chúng muốn được cùng ăn quít với Bụt trong sự tỉnh thức để thực tập lại bài học đầu tiên mà chúng đã được học. Sujata nâng rỗ quít đi mời từng người. Trước hết cô bé quỳ trước Bụt và dâng rỗ quít lên trên hai tay, đầu cô bé hơi cúi xuống trong dáng điệu thành kính. Bụt chắp tay búp sen và tiếp nhận một trái quít từ trong rỗ. Sujata hướng sang mời Svastika hiện đang ngồi phía bên trái của Bụt, Svastika cũng chắp tay búp sen như Bụt để tiếp nhận một trái quít. Sujata làm như thế cho đến khi mọi người đều đã có trong tay một trái quít mới trở về chỗ ngồi. Đặt rỗ quít trước mặt, cô bé cũng chắp tay trước khi lấy lên một trái quít. Bọn trẻ im lặng, Bụt bảo chúng theo dõi hơi thở và mỉm cười. Rồi Bụt để trái quít lên trên lòng bàn tay trái, đưa lên, nhìn vào trái quít để quán tưởng chiêm nghiệm. Bọn trẻ đồng loạt làm như Bụt. Một lát sau, Bụt từ từ bóc quít, bọn trẻ cũng làm như người. Mọi người thong thả ăn quít trong im lặng, trong tỉnh thức. Khi mọi người đã ăn xong quít, Bala đi thu hồi tất cả những cái vỏ quít. Bọn trẻ rất sung sướng được ăn quít với Bụt trong chánh niệm và Bụt cũng cảm thấy một niềm vui lớn khi ngồi thực tập cùng với bọn trẻ hồn nhiên rất dễ thương này.

Bọn trẻ thường trở lại với Bụt vào những buổi chiều. Có khi Bụt dạy chúng cách theo dõi hơi thở để tập trung tâm ý trong những khi buồn bực hoặc nóng giận. Có khi Bụt dạy chúng cách ngồi yên để làm cho tâm trí tĩnh lặng. Có khi Bụt dạy chúng cách đi thiền hành để học nếm sự thư thái. Bụt dạy chúng thật kỹ về cách nhìn người và sự việc: nhìn như thế nào để có thể thấy, có thể hiểu và có thể thương. Bài dạy nào bọn chúng cũng hiểu được.

Một hôm nọ, Nanbadaal và Sujata quyết định cùng nhau may một chiếc áo cà sa mới để dâng Bụt. Hai chị em đã dành một ngày để làm việc này. Chiếc áo cà sa mới này màu gạch, hơi giống với tấm vải mà Bụt đang choàng. Sujata đã khám phá được nguồn gốc của tấm vải đó. Đó là tấm vải đã được phủ lên thi hài của Radha, người hầu của nhà cô, khi còn quàng ngoài nghĩa địa. Radha đã chết vì bệnh thương hàn. Ba mẹ của Sujata đã nuôi một người hầu khác tên là Purna. Khi biết rằng thầy mình đã phải lấy một tấm vải của người đã chết ngoài nghĩa địa để mặc mà làm áo cà sa. Sujata như muốn khóc, và đó là lý do khiến cô bé đi tìm người chị họ.

Ngày hai chị em mang tấm áo vào dâng, Bụt đang ngồi thiền dưới gốc Bồ đề. Hai chị em ngồi im lặng đợi cho đến khi người xuất thiền mới dâng áo cà sa lên. Bụt vui lòng nhận tấm áo mới. Người nói, có lúc người sẽ cần đến tấm áo này. Và người vẫn muốn giữ lại tấm vải, để mỗi khi giặt áo thì có cái để khoác lên trên người. Nghe nói thế, Nanbadala và Sujata quyết định may thêm cho Bụt một chiếc nữa để người có thể thay đổi khi đem đi giặt.

Một hôm nọ, bọn trẻ được nghe Bụt kể một chuyện về tiền thân. Hôm ấy chúng đến khá đông, bé Balagupta hỏi Bụt về tình bạn. Balagupta là một cô bạn gái của Sujata, mới lên mười hai tuổi. Sở dĩ Balagupta hỏi Bụt về tình bạn vì ngày hôm trước cô đã cùng với cô bạn gái là Jatilika có chuyện xích mích cùng nhau, và hôm nay trước khi đi vào thăm Bụt, cô bé đã định không ghé vào rủ Jatilika cùng đi, nhưng cuối cùng, Sujata đã nài ép cô vào rủ Jatilika. Cô bé Jatilika đã chiều ý Sujata mà đi, nhưng khi tới cội Bồ đề, đôi bạn ngồi ra hai góc chứ không ngồi gần sát bên nhau như trong những lần khác nữa.

Bụt kể cho bọn trẻ nghe về tình bạn giữa một con nai, một con chim và một con rùa. Theo Bụt thì chuyện này đã xảy ra từ thời xa xưa, cách đây hàng ngàn năm, lúc Bụt còn là một con nai. Bọn trẻ ngạc nhiên, nhưng Bụt bảo:

- Trong vô lượng kiếp về trước, chúng ta ai cũng đều đã từng là đất, là đá, là sương, là gió, là nước, là lửa... là các vật chất trong vũ trụ này. Chúng ta ai cũng đã từng là rêu, là cỏ, là cây cối, là côn trùng, là cá, là thú, là chim muông... là các sinh vật trong thế gian này. Điều này ta thấy rất rõ trong thiền quán. Vì vậy, trong vô lượng kiếp trước, ta đã là một con nai, đó là chuyện rất bình thường. Ta còn nhớ, có một kiếp nọ, ta làm một phiến đá trên đỉnh núi. Có một kiếp khác nữa, ta đã làm một cây hoa sứ.

Các con nên nhớ, có một thời kỳ, trên cõi đất của chúng ta, chưa có mặt của con người, và cũng chưa có mặt chim chóc và muông thú. Lúc ấy chỉ có rong rêu dưới nước và cây cối trên cạn mà thôi. Thuở đó, chúng ta chỉ có thể là đất đá, sương khói hoặc cây cối, hoặc nước hoặc lửa. Rồi trải qua thời gian dài biến đổi, chúng ta trở thành các loài tảo và cá. Trong quá trình sinh trưởng và thay đổi môi trường sống, mà chúng ta chuyển dần thành loài ếch nhái lưỡng cư, rồi thành rắn rết, sâu bọ, thành chim chóc bay nhảy, thành các loài cầm thú và thành con người. Ngay trong kiếp này, chúng ta cũng không phải chỉ là người. Ta là người qua hình tướng sắc thân, nhưng ta cũng đồng thời là lúa gạo, là cây dừa, là củ quả, là trái quít, là dòng sông, là không khí ... bởi vì nếu không có mặt những thứ đó trong ta, thì con người cũng không thể nào có mặt trên cõi đời này. Cho nên khi các con nhìn cây lúa, trái dừa, trái quít, dòng sông, các con nên nhớ trong kiếp này tuy mình là người, nhưng mình cũng phải nương tựa vào các loài ấy mà tồn tại. Do vậy, những loài ấy nằm trong các tế bào máu thịt của mình, và có thể nói rằng mình cũng chính là những loài ấy. Thấy được như vậy mới thật sự là có hiểu biết và có tình thương.

Các con cũng vậy, câu chuyện ta sắp kể là chuyện một con nai, một con chim, một con rùa và một bác thợ săn. Có thể trong các con, ngày xưa ấy một đứa đã từng là con chim, và một đứa khác là con rùa. Câu chuyện đã xảy ra cách đây mấy ngàn năm nhưng có thể là đang xảy ra ngay trong giờ phút này. Các con hãy lắng nghe cho kỹ mà suy nghĩ, để xem mình có liên quan gì tới những con vật ở trong truyện hay không!

Rồi Bụt bắt đầu kể. Thuở ấy Bụt là một con Nai ở trong rừng. Trong rừng có một hồ nước. Dưới hồ nước có một con Rùa. Bên hồ nước có một cây dương, và trên cây dương có một con chim Sáo. Nai, Rùa, và Sáo chơi với nhau rất thân. Một hôm có một người thợ săn đi theo dấu chân Nai tới bên hồ, nơi Nai thường xuống uống nước. Ông ta đặt một cái bẫy bằng những sợi dây da rất chắc ở đó, rồi đi về nhà. Nhà ông ta không xa bìa rừng là mấy.

Chiều hôm ấy, tới bờ hồ để uống nước. Nai bị mắc bẫy, Rùa và Sáo nghe tiếng kêu của Nai. Rùa bò đến, Sáo bay tới. Thấy Nai bị nạn, Rùa và Sáo bàn nhau phương thức giải cứu cho bạn. Sáo nói với Rùa: “Chị Rùa ơi, chị có răng khỏe thì chị hãy gắng gặm cho đứt những chiếc dây da của cái bẫy này, còn em, em sẽ tìm cách ngăn ông thợ săn lại, đừng cho ông tới”. Nói xong, Sáo vội vã bay đi.

Rùa khởi sự gặm các sợi dây da. Sáo bay ra khỏi rừng, tới nhà người thợ săn và đậu sẵn trên một cành cây xoan trước cửa nhà, chờ đợi. Trời sáng, người thợ săn cầm lấy con dao nhọn và mở cửa đi ra. Thấy người thợ săn bước ra, Sáo vỗ cánh bay tới và lao mình vào mặt ông ta bằng hết cả sức mạnh. Bị Sáo đạp vào mặt, bác thợ săn choáng váng. Bác trở lui vào nhà, nằm xuống giường để nghỉ ngơi chốc lát. Hồi lâu sau bác lại chồm dậy, cầm lấy con dao nhọn. Lần này, bác đi ra bằng cửa sau, nhưng Sáo đã biết trước. Sáo đã chực sẵn trên một cành mít ở sân sau. Khi bác thợ săn mở cửa đi ra. Sáo lại vỗ cách và lao mình vào mặt bác một lần nữa. 

Bị chim tấn công hai lần liên tiếp, bác thợ săn quay vào nhà. Bác suy nghĩ: Ngày hôm nay xấu quá, dù ta đi bằng ngõ trước hay bằng ngõ sau thì cũng bị con chim quái gỡ này ngăn cản. Thôi ta hãy nghĩ ngơi, để ngày mai sẽ vào rừng.

Sáng hôm sau, người thợ săn thức dậy sớm. Cầm lấy chiếc dao nhọn, ông lấy nón đội lên che kín mặt rồi mở cửa đi ra. Không tấn công ông ta vào mặt được nữa. Sáo lập tức bay về rừng báo cho hai bạn:

- Bác thợ săn sắp tới.

Lúc ấy Rùa đã gặm đứt gần hết các sợi dây da. Chỉ còn có một sợi nữa thôi là Nai có thể thoát được. Rùa dùng hết sức mạnh của mình để gặm, nhưng sợi dây này cứng quá, cứng như thép. Răng của Rùa gần như là sắp rụng và miệng Rùa chảy máu rất là tội nghiệp. Rùa đã ra sức gặm trong một ngày hai đêm.

Trong lúc đó người thợ săn vừa tới. Trông thấy ông ta, Nai hoảng kinh vùng mạnh chạy. Nhờ vậy sợi dây mà Rùa gặm nửa chừng bị đứt. Nai vội phóng vào rừng. Lúc đó Sáo đã bay lên đậu trên cây dương, nhưng Rùa kiệt sức quá, không bò đi đâu được. Thấy mất Nai, bác thợ săn tức lắm. Bác túm lấy Rùa, bỏ vào trong một cái túi da và treo túi trên một thân cây rồi đi tìm Nai.

Lúc đó, Nai đang đứng sau một bụi rậm nhìn ra để thăm chừng các bạn. Nai nghĩ: “Các bạn đã liều thân cứu ta, đến lượt ta, ta cũng phải liều thân cứu bạn”. Nghĩ như thế, Nai từ từ bước ra cho người thợ săn trông thấy. Nai làm ra vẻ kiệt sức và khuỵu hai chân trước xuống.

Người thợ săn nghĩ:

- Con Nai này kiệt sức rồi, Ta có thể đuổi theo nó và đâm nó một nhát.

Ông ta liền cầm dao đuổi theo Nai. Nai đứng dậy từ từ chạy vào rừng, dụ bác thợ săn đi theo. Sau khi đã dụ được bác thợ săn đi vào khá sâu trong rừng, Nai vụt chạy thật nhanh, làm mất dấu chân mình, rồi phóng trở ra hồ nước. Tới bên cây dương, Nai dùng gạc của mình đẩy cái túi da của bác thợ săn úp ngược xuống. Nhờ vậy Rùa bò ra khỏi túi. Sáo cũng bay tới gần. Nai nói với hai bạn:

- Nhờ hai bạn mà tôi đã thoát chết về tay người thợ săn. Tôi cám ơn hai bạn. Người thợ săn sẽ trở lại ngay bây giờ. Anh Sáo, anh hãy dời tổ anh đi nơi khác, còn chị Rùa, xin chị bò xuống nước đi thôi. Mau lên, còn tôi, tôi sẽ đi ngay vào rừng.

Khi người thợ săn trở lại, ông ta thấy Rùa đã thoát đi đâu mất. Nai và Sáo cũng bặt tăm. Buồn bã, ông ta đeo túi và cầm dao đi về nhà.

Kể xong chuyện tiền thân, Bụt hỏi:

- Các con nghĩ xem, thuở ấy ta là Nai, còn ai trong các con là Rùa?

Bốn em bé đưa tay lên. Svastika nhận thấy trong số những người đưa tay có cả Sujata. Bụt lại hỏi:

- Vậy ai trong các con là Sáo?

Lần này Svastika đưa tay lên. Nó nhận thấy có hai đứa nữa cũng đưa tay lên. Đó là Jatilika và Balagupta.

Sujata nhìn Jatilika rồi nhìn Balagupta:

- Cả hai bạn đều là Sáo, như vậy hai người chỉ là một người. Sáo mà giận Sáo thì còn ra gì nữa. Tình bạn của chúng ta không bằng tình bạn giữa Sáo, Rùa và Nai hay sao?

Nói xong Sujata lại nhìn Balagupta, Balgupta hiểu ý, đứng dậy. Cô bé tiến tới chỗ Jatilika, đưa hai tay nắm lấy tay bạn. Jatilika cũng đưa hai tay ôm Balagupta vào lòng, rồi nó ngồi xịch ra một bên cho Balagupta có chỗ ngồi sát bên nó.

Bụt mỉm cười:

- Các con đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện. Các con nên nhớ rằng chuyện ta vừa kể cũng là chuyện đang xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta đấy.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài Quan Tâm

NHỮNG CÂU NÓI Ý NGHĨA TRONG ĐẠO PHẬT

*** Buông xả chính là con đường dẫn đến sự bình an. ***